Tay Sai Suc Vat Ho Chi Minh: Nguyen Chi Thien – Mot Thi Hai Con Tho Hay Mot La Bai Da Chay Rui

NCT: Một thi hài còn thở hay một lá bài đã cháy rụi.

 

 

    Từ mấy tháng nay, liên tục không ngày nào là không có vấn đề Nguyễn Chí Thiện được đưa lên diễn đàn điện tử để mổ xẻ về hai mặt: chính trị và văn học. Hai mặt nầy tuy hai mà một vì NCT là lá bài chính trị của CSVN đưa ra hải ngoại qua tác phẩm văn học là tập thơ Vô Đề.

    Nhưng tập thơ Vô Đề lại là một bản cáo trạng chính trị thế kỷ dành cho tập đòan độc tài, đảng trị phản dân hại nước CSVN kể từ khi Hồ Chí Minh sang Nga thọ giáo các trùm đỏ Lê-Sít. Do đó khi đặt vấn đề NCT, nếu chỉ nhìn về một mặt chính trị hay văn học thì thật là thiếu sót lớn, nếu không nói là gượng ép. Lá bài NCT có hai mặt khi bị cháy thì cháy cả hai mặt cùng lúc.

 

Sau một thời gian chống đỡ không hiệu quả sự phanh phui của NVQG nhằm lột trần sư thật Nguyễn Chí Thiện là ai, Đỗ Thị Thuấn chịu không thấu bèn tự xác nhận hai điều quan trọng trên các diễn đàn điện tử:

 

   1. NCT là kẻ ăn cắp tập thơ Vô Đề vì được Đỗ Thị Thuấn ca ngợi và ví von như là một Ali Baba.

 

  2. NCT là Việt Cộng nằm vùng theo nội dung email của Đỗ Thị Thuấn ngày 23-10-2008 trên diễn đàn Công Luận.

 

  Về văn học: Đỗ Thị Thuấn gọi NCT là Ali Baba, có nghĩa NCT là tên ăn cắp tập thơ Vô Đề là còn giữ phần nào tình nghĩa huynh muội với NCT, thực ra NCT chính danh là tên ăn cướp. Bởi vì nếu ăn cắp thì NCT phải làm lén lút vì sợ khổ chủ, đàng này NCT hiên ngang và công khai lấy được tập thơ Vô Đề thông qua sức mạnh bạo lực của CSVN.

 

    Về chính tr: Như đã nói, Tập thơ Vô Đề là bản án chính trị thế kỷ, tố cáo tội ác của CSVN và Hồ Chí Minh. Nếu NCT là tác giả thì không thể sống sót để sau đó được CSVN dễ dàng cho sang tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ. CSVN đã công phu dàn dựng kịch bản cho NCT đóng vai tác giả tập thơ Vô Đề ( tác giả thật của nó cho tới giờ nầy chưa rõ tên tuổi, có thể đã bị CSVN thủ tiêu) rồi cho NCT sang Hoa Kỳ khơi khơi mà không nhận lãnh nhiệm vụ gì có lợi cho CSVN hay sao?

 

    Sau một thời gian được Băng đảng Mafia Việt Tân dìu dắt, cho làm quen với cộng đồng Người Việt hải ngọai, NCT bắt đầu chui sâu, trèo cao vào các tổ chức chính trị của Người Việt hải ngoại. Đến khi được Băng đảng Mafia Việt Tân giúp sức tạo cho một số credits “chống Cộng có lai xần”, NCT mới bắt đầu ra tay hướng dẫn cộng đồng NVQG hải ngọai cách chống Cộng theo định hướng VC, như là: nên có thái độ thân thiện huynh đệ với cán bộ VC từ trong nước ra, đừng biểu tình chống các huynh đệ VC nầy mà nên ngồi lại với nhau trong tình anh em, nói với nhau lời phải quấy….

 

  

Bộ mặt thật điệp viên VC của NCT bị hiện ra càng ngày càng rõ qua quá nhiều mâu thuẫn tình lý từ những lời khai, trả lời phỏng vấn của NCT, đã chứng minh NCT không phải là tác giả mà là tên ăn cướp tập thơ Vô Đề. Giọt nước tràn ly cuối cùng là buổi họp báo của NCT ngày 25-10-2008 đã hòan tòan làm rơi mặt nạ chính trị và văn học của tên ăn cướp thơ để làm điệp viên VC Nguyễn Chí Thiện.

 

    Song song với sự xác nhận của Đỗ Thị Thuấn rằng NCT là Ali Baba và VC nằm vùng, thì Tôn Thất Sơn tự động phân hai nhóm người: tử tế và thiếu tử tế với NCT, có nghĩa Tôn Thất Sơn mặc nhiên phân định lằn ranh chánh-tà, hay cụ thể là lằn ranh Quốc Cộng giữa một bên là NVQG tố giác NCT là tên ăn cướp thơ để làm điệp viên VC ở hải ngoại với một bên là nhóm người thi hành mệnh lệnh VC qua trung gian Băng đảng Mafia Việt Tân bằng mọi cách phải tích cực chống đỡ để bảo vệ NCT.

 

   Lá bài NCT đã bén lửa từ lâu bây giờ mới bị cháy rụi, tất nhiên cả hai mặt cùng lúc. NCT đã bị vô hiệu hóa, từ nay khó giở thủ đọan nằm vùng vì tổ chức, hội đòan NVQG hải ngọai đã biết rõ NCT là ai! Có xài NCT và xài miễn cưỡng chỉ còn Băng đảng Mafia Việt Tân và mấy tổ chức ngọai vi mà thôi. Từ nay, nếu tổ chức hội đòan nào ở hải ngọai chứa chấp, mời mọc, trọng đãi NCT thì rõ ràng họ tự dán nhãn hiệu là thân Cộng hoặc tay sai Cộng Sản như Băng đảng Mafia Việt Tân.

 

     Ngay lúc đầu bà Hòang Dược Thảo đặt vấn đề NCT chỉ về mặt văn học nhưng thực tế không thể có một NCT thuần túy văn học cũng như một tập thơ Vô Đề thuần túy văn học. Bà Hòang Dược Thảo thừa biết mặt kia vô cùng quan trọng là một NCT chính trị nhưng bà chỉ nói về văn học cho dễ dàng đưa NCT vào thòng lọng.

 

    Bằng chứng, qua Thông Báo của Saigon Nhỏ, vấn đề NCT sẽ được giải quyết sau khi có kết quả thẩm tra từ Bộ Ngọai Giao Anh Quốc, Quốc Hội Hoa Kỳ và… FBI, thế thì có phải một NCT văn học lại bắt rễ từ một NCT chính trị và ngược lại không? Việc làm của Saigon Nhỏ qua Thông Báo và Phiếu Không Tin NCT là tác giả tập thơ Vô Đề chỉ là viên đạn ân huệ có càng tốt, không có cũng chẳng sao vì NCT đã trở thành một thi hài còn … thở hay một lá bài đã cháy rụi!

 

Tôn Thất Bằng

http://www.hon-viet.co.uk/TonThatBang_NCTmotThiHaiConTho_MotLaBaiDaChayRui.htm

Advertisements

Suc Vat Ho Chi Minh: Do La Than Chuong, Bi Kip Vo Dich Cua Doc Co Cau Bai

ĐÔ LA THẦN CHƯỞNG, BÍ KÍP VÔ ĐỊCH CỦA ĐỘC CÔ CẦU BẠI

TRƯƠNG MINH HÒA.

Bất cứ cá nhân, đoàn thể, quốc gia, thể chế chính trị…ngoài những ưu điểm, cũng thường có những khuyết điểm, có khi lộ ra, khi tiềm ẩn. Trong các cuộc xung đột, chiến tranh, tranh luận…. đối phương thường tìm hiểu từ hình dạng, tâm tính, tổ chức từ A tới Z, rồi từ đó khai thác để tấn công vào các” nhược điểm” hầu dành đạt thắng lợi, kèm theo nhiều yếu tố khác. Đó cũng là điều mà Tôn Tử tâm đắc:” tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng”.Trong những chuyện về kiếm hiệp Trung Hoa, trên võ đài, hay bất cứ các cuộc tỷ đấu nào giữa các cao thủ trên giang hồ, hai đối thủ thừa biết các” tử huyệt” của nhau, nhưng khi đụng tới thì rất khó, lựa những sơ hở mà tấn công; khi tấn công không được mục tiêu, đôi khi bị phản đòn, đi từ thế thượng phong sang thảm bại, là điều thường tình trong việc” chuyển bại thành thắng, hay từ thắng thành bại”. Đối với những cao thủ, họ thừa biết đối phương luôn muốn đánh trúng vào tử huyệt để thắng trận, nên trong vấn đề cảnh giác, luôn bảo vệ yếu huyệt và đồng thời cũng tìm cách bảo vệ an toàn khi trúng phải độc chiêu. Có những cao thủ võ công thượng thừa, có khả năng biến những yếu huyệt thành rắn chắc như sắt nguội, hay mềm như bông gòn, thế là kẻ thù đánh vào không có chút tác dụng gì.Chủ thuyết phi nhân, phi nghĩa, phi dân chủ, phi đạo lý, do Karl Marx đưa ra nhằm thỏa mãn tự ái cá nhân thua thiệt trong thời kỳ mà ông ta sinh sống, trở thành” sách dạy ăn cướp, giết người” có hệ thống, bài bản, chiêu bài. Thay cho Karl Marx thực hiện những gì mà ông ta chưa” biến lý thuyết thành hành động”, là Lenin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Kim Nhật Thành, Tito, Fedel Castro…. đã” đưa năm châu tới điêu tàng” và nhân loại đã trả cái giá do chủ nghĩa cướp của giết người gây ra với hơn 100 triệu người bị tàn sát bằng nhiều biện pháp tàn độc, dã man, trù dập do từ những tên bất lương đội lớp cách mạng nêu trên. Tên tướng cướp như Hồ Chí Minh, không thể là” nhà cách mạng” là thông điệp mạnh mẻ gởi đến những tên phản tỉnh giả, đặc công đỏ trong phong trào dân chủ trong nước như Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Trần Độ, Nguyễn Khắc Toàn…và được đảng gởi ra hải ngoại như Bùi Tín, Dương Thu Hương… Những người Cộng Sản thành công lúc đầu là nhờ vào những yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

-Thiên thời: phong trào Cộng Sản có mặt từ thế kỷ 19, với đệ nhất quốc tế do Karl Marx thành lập năm 1889 tại Luân Đôn, Anh Quốc, trở thành phong trào nghiệp đoàn, tồn tại đến ngày nay, nhưng suy yều dần, trở thành lực lượng chỉ lẫn quẫn trong” đình công, đòi tăng lương, giảm giờ làm, quyền lợi” và trở thành cánh tay, lực lượng nồng cốt của các đảng phái cánh tả tại các nước dân chủ. Lý do là lý thuyết của Karl Marx đã áp dụng ” chệch hướng” trong phong trào Cộng Sản, đóng góp công cho sự thành công của một số đảng Cộng Sản trên thế giới, do mất hẳn cái” cơ bản, cơ sở” của giai cấp công nhân là” tiên tiến” là thành phần nồng cốt đứng lên” cướp chính quyền”, thành lập một” chính quyền vô sản chuyên chính” độc tài, khát máu, chủ trương tàn sát tất cả những giai cấp khác như tư sản, địa chủ…nhưng, cái gọi là” cuộc cách mạng vô sản” nầy, lực lượng chủ yếu, nồng cốt là nông dân, chứ không phải công nhân, là cái trật” cơ bản” của chủ thuyết Marx và từ đó đưa nhân loại đến chiến tranh, tàn sát, kích động thù hận qua cái gọi là” đấu tranh giai cấp”. Thời kỳ nhân loại chưa tiến bộ nhiều về khoa học kỷ thuật, ý thức dân chủ, tự do, nhiều châu lục đắm chìm trong chủ nghĩa thực dân Âu Châu và hệ thống vương quyền vẫn chưa cáo chung…Cộng Sản giống như thứ vi trùng, nơi nào ẩm thấp, mất vệ sinh là chúng phát triển, tác hại. Cho nên thời kỳ nêu trên là môi trường tốt cho con vi trùng Cộng Sản, đầu tiên thành công ở Nga vào tháng 10 năm 1917, làn ra một số nước Đông Âu, Á Châu với Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Châu Mỹ với Cu Ba…hai cuộc thế chiến cũng là điều kiện thuận lợi cho con vi trùng Cộng Sản bành trướng, nên sau đệ nhị thế chiến là cuộc chiến tranh lạnh do người Cộng Sản gây ra.

-Địa lợi: nhờ nông dân ủng hộ do bị tuyên truyền, chiêu dụ bởi những nhu cầu vật chất” bánh vẽ”, ban quyền tước cho những kẻ” dốt nát mà ôm mộng làm lớn” nên nhiều đảng Cộng Sản trên thế giới đã” tranh thủ” được giới nông dân, có đất đai, nơi cung cấp lương thực, tiện nghi, dung dưỡng cho đảng cướp. Nếu không có địa bàn nông thôn, thì người Cộng Sản rất khó thành công, điển hình là Trung Hoa có Mao Trạch Đông với lý thuyết” lấy nông thôn bao vây thành thị”, thành công trong việc đánh đổ chính quyền dân chủ của thống chế Tưởng Giới Thạch năm 1949.

-Nhân Hòa: lợi dụng chiêu bài cơm áo, tự do, dân chủ…người Cộng Sản đã thành công trong lãnh vực tuyên truyền láo, nên lúc đầu được lòng dân. Sau nầy, khi chiếm được chính quyền, người Cộng Sản mới lộ ra bản chất” đầu trộm đuôi cướp”, thế lá giới nông dân, những người ngây thơ, từng cộng tác khi họ hiểu lầm tai hại về” chủ thuyết Cộng Sản”, không mang lại cơm áo, hạnh phúc, thịnh vượng…..trái lại là nghèo đói, trù dập, để biến” thế giới thành nô lệ” phục vụ cho các lãnh chúa là bọn đảng viên Cộng Sản từ” hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc”, rồi truyền lại cho con cháu, tiếp tục đè đầu cỡi cổ dân chúng.

Trong các chế độ Cộng Sản, chìa khóa để duy trì” đảng quyền” núp dưới tàng lộng” nhà nước” là áp dụng cái DUY VẬT để kiểm soát, khống chế, biến người dân thành nô lệ, phục vụ dài hại, khó thoát khỏi cái:” số nghèo mấy chục năm qua, vì đảng bốc lột, trắng tay, vẫn nghèo”. Cái duy vật được người Cộng Sản áp dụng một cách bài bản là đánh vào:” nhu cầu con người”, đoạn dùng các nhu cầu ấy để” sách nhiễu” gây áp lực, bắt mọi người phải đi theo để sống; còn chống lại đảng, nhà nước là bị cắt, giảm bớt thì trước sau gì cũng phải đến năn nỉ những tên ăn cướp giữ cái kho lương thực để sống. Cho nên, nhiều người học rộng, tài cao, sau khi bị Cộng Sản nắm lấy yếu huyệt là” cuốn bao tử” thì ngoan ngoãn đi theo, làm giấy tự phê, nhận hết những cái tội vu vơ mà mình không bao giờ làm, nhưng do những tên” có quyền cấp phát lương thực đưa ra: như tư sản địa chủ, phản động, theo đế quốc, chống lại đảng, nhà nước, nhân dân, phản quốc… để được ban cấp” cơm, thức ăn” mà sống tạm thời.

Cái mô thức kinh tế tập trung, nông trường, nhà máy….mà người Cộng Sản Việt Nam từng ước mơ” Sô Viết Nghệ Tỉnh” đầu tiên ở miền Bắc, trở thành hiện thực sau năm 1954, đất nước chia đôi. Miền Bắc thấm thía thế nào là” xã hội chủ nghĩa” với chế độ” hộ khẩu, tem phiếu” cấp phát lương thực, là vũ khí vô cùng tàn nhẩn mà tập đoàn Hồ Chí Minh đã dùng” nhu yếu phẩm” để bắt buộc hàng triệu thanh niên” xẻ dọc Trường Sơn đi phá nước”, dù phải” đốt cháy cả Trường Sơn” nếu không thì cả nhà bị cắt lương thực, nên con đường mòn Hồ Chí Minh chính là đường đưa thanh niên” sinh Bắc tử Nam”, con số lên đến hàng triệu, và ngày nay vẫn còn hơn 300 ngàn cán binh chưa tìm thấy tông tích, dù cuộc chiến xâm lược” giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu đồng bào” đã đi qua hơn 3 thập niên.

Chính cái chế độ tem phiếu, hộ khẩu đã biến những nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ biến thành” nô lệ miếng ăn” và trở thành nô lệ cho đảng cướp Cộng Sản, như nhà văn Nguyễn Tuân phải biết sợ mới sống, phải sợ để có tem phiếu.. đánh vào nhu cầu con người, là vũ khí” duy vật” vô cùng tàn bạo, dã man của đảng siêu cướp Cộng Sản, áp dụng từ xã hội, học đường, nhà tù, gia đình….biến con người thành” con vật” để đảng viên Cộng Sản điều khiển, nếu ai không” chấp hành” thì không có ăn.

Người Cộng Sản không tài giỏi như một số người lầm tưởng, họ thành công nhờ thời cơ, cai trị bằng sắt máu, dùng nhu cần cơ thể để làm yêu sách, bắt con người phải làm theo. Do đó, khi người dân các nước tự do, vấn đề nhu cầu vật chất” ăn, uống, ở, nghĩ..” được tự do, các chính quyền tôn trọng, thì con vi trùng Cộng Sản bị tự hủy, như cái mệnh đề” hủy thể của hủy thể” trong luận lý duy vật của Karl Marx. Tại các nước Cộng Sản, như tại Việt Nam, cái còng” nhu cầu” càng bị vuột ra, khi chế độ cấp phát lương thực theo tem phiếu, hợp tác xã, nông trường, công trường…dần dần dẹp tiệm và người dần thoát dần sự khống chế của đảng và nhà nước trong vấn đề” sinh sống hàng ngày” là báo trước chế độ Cộng Sản sẽ phải” đội nón cối ra đi” và không bao giờ hẹn ngày trở lại như ở Đông Âu, Liên Sô.

Nhu cầu là điều không thể thiếu, cái ăn, mặc…. đã bị những tên bất lương Cộng Sản khống chế từ lâu, nay đã đến lúc nhân loại phải giành lấy lại, trả lại cái mà thượng đế ban cấp cho con người từ thời mới xuất hiện đầu tiên trên trái đất; lúc đó con người được tự do săn bắn, đào củ, hái trái cây…mà khỏi cần phải có” chế độ hợp tác xã, tem phiếu” hay là được phép đảng và nhà nước. Cho nên, người Cộng Sản mới chính là” bọn phản động, lổi thời” đi ngược lại bánh xe lịch sử, phải bị đào thải, tận diệt mới mang lại hạnh phúc, an bình, thịnh vượng. Ngày nào ngọn cờ đỏ còn phất phới trên toàn cầu, là ngày ấy nhân loại vẫn còn bị đảng cướp Cộng Sản tác hại.

Độc Cô Cầu Bại Hoa Kỳ cũng giống như các cao thủ võ lâm, có những yếu huyệt, nếu đánh trúng, ắt gây thương vong; Mỹ cũng thừa biết yếu huyệt, nên cũng có cách bảo vệ và có cách để” chuyển bại thành thắng”. Cũng như người Cộng Sản, dùng cái” yếu huyệt” là nhu cầu vật chất để khống chế con người, biến thành nô lệ vậy. Sau năm 1991, cái nôi Liên Sô sụp đổ, kéo theo toàn thể các nước Cộng đảng Đông Âu, làm cho khối Cộng Sản lâm vào” tình huống cực kỳ nguy hiểm” nên các nước tàn dư như Trung Cộng, Việt Nam áp dụng sách lược” kỳ nhông đổi màu”, mở cửa để tạm tồn tại trong” trì hoãn kế” với cái công thức quái đản:” lấy kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, các nước khác vẫn khư khư theo lối của Marxist Leninist như Cu Ba, Bắc Hàn. Những nước tàn dư Cộng Sản tạm thời” lùi một bước” trong cái” thoái trào cách mạng” để chờ thời cơ” tiến lên ba bước” khi” cao trào cách mạng” đến. Đó là bản chất gian manh, ngoan cố của Cộng Sản, nên Ông Boris Yelsin, một đảng viên Cộng Sản kỳ cựu của Sô Viết khẳng định, trở thành lời cảnh báo cho nhân loại trước những biến hóa, đổi màu chớ không đổi ruột của các đảng Cộng Sản tàn dư:” Cộng Sản không thể sửa chửa, tốt nhất là bỏ phức nó đi”.

Hoa Kỳ và các nước Âu Châu, kể các các nước đang phát triển, chậm tiến cũng đều có ” nhu cầu sinh tử” là DẦU HỎA, nhưng đây là thứ mà nước Mỹ với hơn 300 triệu dân, tiêu dùng với khối lượng rất lớn, nếu không có nguồn năng lượng nầy, thì nước Mỹ, Âu Châu tê liệt ngay, đưa đến sụp đổ không xa. Người Cộng Sản tàn dư biết được” yếu huyệt” ấy, nên ra sức đánh phá, cố khai thác yếu huyệt dầu hỏa để đánh gục” độc cô cầu bại” mà không cần dùng vũ khí nguyên tử, binh hùng, tướng mạnh; là những thứ mà các nước Cộng Sản tàn dư đi sau, thua xa” độc cô cầu bại”, chính Liên Sô còn không thể thi đua võ trang trong thời chiến tranh lạnh; đúng là” bất chiến tự nhiên thành” nếu việc đánh vào yếu huyệt nầy thành công. Tàn dư Cộng Sản cùng với các thế lực thù nghịch, khủng bố khai thác” nhu cầu dầu hỏa” tại Trung Đông để chận đứng hay làm khó khăn cho việc cung cấp dầu, đưa đến tăng vọt giá, nằm ngoài tầm tay và nhất là các nước thù nghịch nắm trong tay vũ khí” nhu yếu phẩm” nầy, là sách lược có tính toán, bài bản” duy vật”. Khi Hoa Kỳ bị trúng huyệt” dầu hỏa” là có thể bị khống chế, bắt nạt, buộc phải đi theo những yêu cầu của” băng đảng cướp quốc tế Cộng Sản tàn dư” nay do Trung Cộng lãnh đạo, bao gồm các thế lực ma quỷ, khủng bố, trong đó có con chó Cộng Sản Việt Nam, dù ăn tiền, giữ tiền, nhận viện trộ Mỹ mà vẫn” Nguyện trung thành với chủ nghĩa Marx Lenin”. Theo đúng cái thuyết duy vật mà người Cộng Sản từng áp dụng từ năm 1917 đến nay.

Nhu cầu dầu hỏa càng nhiều do con người tiêu dùng xe, nhà máy sản xuất, điện….nên giá lên cao vượt ngoài dự đoán, lên từ dưới 40 Mỹ Kim một thùng, đột nhiên tăng nhanh trong đầu năm 2008 đến 147 và nhiều nhà kinh tế” bi quan” cho là: theo đà nầy, vài năm nữa, giá dầu thô lên đến 200 Mỹ Kim một thùng, gây hoang mang và lo sợ cho toàn thế giới. Giá dầu thô tăng vọt làm cho nhiều nước kỷ nghệ chới với, giá hàng hóa, thực phẩm, sản xuất gia tăng do ảnh hưởng giá nhiên liệu, gây tác động toàn cầu. Tuy nhiên, với giá dầu thô gai tăng, là thứ vũ khí lợi hại, đánh trúng vào yếu huyệt của Hoa Kỳ, khiến cho các thế lực ma quỷ rất vui mừng, chúng đinh ninh là” thế nào Độc cô Cầu Bại” cũng phải gục ngả khi giá dầu càng vọt cao và các nơi bơm dầu quan trọng gây sức ép; do đó, các thế lực thù nghịch dần dần liên kết với nhau, quốc gia Hồi Giáo tại Trung Đông là Iran rất tâm đắc, hung hăng thách thức Hoa Kỳ qua việc thực hiện vũ khí nguyên tử, đe dọa hòa bình…. đặc biệt tại ngay sân sau của Mỹ, anh chàng” Cộng Sản trái mùa” Chavez nắm lấy chính quyền ở Venezuala, đang dẫn dắt dân chúng nước nầy đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, tức là đưa dân chúng trở về thời kỳ” chế độ bộ lạc” trong thế kỷ 21. Là một trong những nước có nhiều dầu hỏa, nên được các” đồng chí” Trung Cộng, Việt Nam và chính quyền Nga ( dù tự do, nhưng đang muốn khôi phục lại vị thế đế quốc thời Cộng Sản), Iran liên kết. Sự kiện Nga và Venezuala tập trận chung là một hình thức khiêu khích với Hoa Kỳ sau khi thấy cái yếu huyệt dầu hỏa làm cho Độ Cô Cầu Bại lao đao, bị trúng phải đòn” nhu yếu phẩm”, là mặt hàng sinh tử của Hiệp Chủng Quốc.

Sau những đe dọa, đánh thẳng vào yếu huyệt dầu hỏa, đột nhiên vào giữa năm 2008, Độc Cô Cầu Bại đột nhiên tung ra” Đô La Thần Chưởng” phản công, đánh vào thành trì, yếu huyệt, nằm trong tận” lục phủ ngũ tạng” là hầu bao của những thế lực đang rình mò, đánh lén… đó là thứ bí kíp vô địch, uyển chuyển, khi thì thủ, công, khi ẩn khi hiện, sức công phá thật là thần sầu quỷ khốc, biến hóa khôn lường. Giá dầu đang ngon trớn bỗng khựng lại và tuột dốc như” dù đứt dây” rơi từ 147 xuống khoãn 40 Mỹ Kim một thùng trong vài tháng, làm cho các thế lực” ma giáo” giựt mình và đỡ không nổi. Cho nên người ta ngạc nhiên khi thấy giữa lúc kinh tế suy trầm, nhưng giá dầu lại hạ mỗi ngày.

Đô La Thần Chuởng quả vô cùng lợi hại, là thứ võ công kỳ bí của Cờ Hoa Phái, khác với các thứ võ công thông thường, khi đánh ra, gây thiệt hại vật chất, thấy rõ ràng như các cuộc thế chiến với nhà bị tàn phá, người chết….nhưng các tay cao thủ võ lâm, thuộc hàng có công lực thượng thừa, sau khi xuất chiêu, không ai thấy đối phương bị thiệt hại, vẫn còn nguyên vẹn bè ngoài, nhưng bên trong” lục phủ ngũ tạng” đã rả bời, chỉ cần một cơn gió nhẹ là gả gục xuống, chết một cách bất ngờ. Đô La Thần Chưởng của Độc Cô Cầu Bại tung ra, không gây tiếng động, nổ ầm như hai quả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaky, nhưng sức công phá vô cùng mảnh liệt, làm tê hết mọi định chế tài chánh toàn cầu, đương nhiên là” trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết” cũng gây tác động đến các bạn đồng minh của Mỹ ở Âu, Úc, Nhật và người dân Hoa Kỳ.

Hiện tượng dễ nhận ra là có nhiều công ty như ABC Learning ở Úc, bề ngoài vẫn còn y nguyên hàng trăm trung tâm giữ trẻ, còn nguyên cả hệ thống nhân viên, quản trị….nhưng bên trong” lục phủ ngũ tạng” rả rời và cổ phiếu xuống con số KHÔNG, khiến công ty nầy phải sống vất vưởng nhờ vào số tiền chính phủ Úc bơm vào khoản 20 triệu, nhưng chỉ giữ đến tháng đầu năm 2009 là tiêu tán, nếu không có tiền và toàn thể hệ thống ABC đóng cửa. Nhiều ngân hàng, định chế tài chánh của của Độc Cô Cầu Bại, đồng minh cũng bị” thúi ruột” hết tiền mà cơ sở vẫn còn y nguyên, thế mới thấy công lực” thần sầu quỷ khốc”. Ba đại công ty chế xe hơi lớn nhất là Ford, G.M.C, Chrysler cũng đã bị ảnh hưởng của” Đô La Thần Chưởng”, các cơ sở, công nhân, ban quản trị, các chi nhánh, hãng sản xuất ở Mỹ cũng như nước ngoài…còn y nguyên, nhưng bên trong rả rời và chờ phá sản; thế nên các ban quản trị phải chờ và nhờ” Độc Cô Cầu Bại” trị giá từ 25 tỷ Mỹ Kim, ban cho thuốc giải để thoát khỏi cái chết không xa. Độc Cô Cầu Bại cũng giống như là một chủ nhân khu siêu thị, trong đó có nhiều siêu thị khác, cùng làm ăn, nên khi siêu thị cháy, thì tất các các chủ nhân phải nhào vô cứu hỏa, nếu không muốn bị tán gia bại sản. Nếu hỏa hoạn xảy ra, thiêu rụi, thì chủ nhân Hoa Kỳ lãnh hết bảo hiểm và chia lại cho các thân chủ nếu cần. Đó là cái lợi thế tuyệt đối của Hoa Kỳ qua đồng Mỹ Kim, quả là thần chưởng, vô địch.

Giá dầu tuột không ngờ, làm cho Liên Sô thiệt hại hàng trăm triệu Mỹ kim mỗi ngày, kéo theo các nước như Venezuala, Việt Nam, Trung Đông…khiến cho thị trường chứng khoán Nga mất hơn 16 %, Trung Cộng bị” nội thương nặng” ít nhất cũng mất tới 50 % và nhiều nơi khác. Khiến cho Nga đang xâm lăng Georgia, đành phải rút quân, chỉ sau lời nói của tổng thống Pháp Sarkozi, đúng là” bất chiến tự nhiên rút”. Qua trận tập kích” hụt” vào yếu huyệt dầu hỏa của các thế lực ma quái vào Độc Cô Cầu Bại Hoa Kỳ, làm phá sản lý thuyết” duy vật” của Karl Marx trong việc dùng” nhu yếu phẩm” để khống chế con người, biến thành nô lệ; và xa hơn là bắt nạt cả quốc gia hùng mạnh như Hoa Kỳ, Âu Châu. Từ bài học nầy, các nước có nhiều trữ lượng dầu hỏa chớ đừng ỷ có được thượng đế ban cho dưới đất có mỏ dầu mà dùng làm vũ khí để khống chế Hoa Kỳ, thất bại không ngờ.

Các nước có dầu, nhưng không ai đến mua và nhất là Hoa Kỳ nắm trong tay vũ khi” đồng Đô La” có khả năng lên, xuống, dừng giá bất cứ lúc nào nếu cần trong việc bảo vệ quyền lợi, nhu cầu chiến lược. Khi thiếu nợ, chỉ cần hạ giá đồng Mỹ Kim là Độc Cô Cầu Bại đã vớt một cách êm thấm, có bài bản số tiền lớn từ các chủ nợ ( nên Trung Cộng chớ hý hững làm chủ nợ đến hàng ngàn tỷ của Mỹ), khi kinh tế hưng thịnh, thì đồng Mỹ Kim tăng giá trị, làm gia tăng trị giá tài sản của Mỹ ở nhiều nơi trên thế giới. Các nước bị bắt buộc phải lưu trữ Mỹ Kim để giao dịch với các nước khác, mua dầu, hàng hóa….và dùng làm bản bị căn bản để định giá tiền tệ của quốc gia mình. Độc Cô Cầu Bại ảnh hưởng toàn thể” giang hồ” qua bí kíp” Đô La Thần Chưởng”, nên khi Hoa Kỳ vung tay là toàn cầu rung chuyển. Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử nói một câu chí lý:” Người đại đức không cần làm đức, cũng có đức; kẻ tiểu đức làm hoài vẫn không đủ đức”.

Như vậy, Độc Cô Cầu Bại nắm bí kíp” Đô La Thần Chưởng” là có tiền trong tay, là vũ khí lợi hại, trong khi những nước khác, kể cả kẻ thù, ganh đua như Trung Cộng, Nga, Việt Cộng….cũng phải ngậm đắng nuốt cay xài đồng tiền có hàng chữ ” In God We Trust” và hầu hết những tên lãnh đạo độc tài đều phải lưu trữ đồng Mỹ Kim làm của, làm tài sản quốc gia, ngoại thương. Đồng Mỹ Kim chẳng khác nào” đạo quân tinh nhuệ giấy” của Hoa Kỳ, được tất cả các nước trên thế giới ân cần mang vào, cho” nằm vùng” trong các hầu bao. Nếu các nước thuận thảo thì đạo quân nầy giúp cho phát triển kinh tế công bằng theo nguyên tắc” tiền trao cháo mút” để hai bên cùng hưởng lợi. Nhưng khi trở mặt, muốn tấn công Mỹ, thì đạo quân Đô La nầy ” tấn kích” từ trong đánh ra” là, tiêu tán, ung thối ngay trong ruột, đưa đến sụp đổ.

Sau cái phản công tung ra Đô La Thần Chưởng hữu hiệu là khiếp đảm kinh hồn toàn thế giới, nhưng lần nầy Độc Cô Cầu Bại cũng phải dùng một thế võ Nhật Judo là Ukigoshi, để lừa thế, cùng té với địch thủ, nhưng té nhẹ và nằm trên, thiệt hại ít hơn là nguyên nhân đưa đến những định chế tài chánh, công ty xe hơn lớn nhất, ngân hàng….bị ảnh hưởng. Do đó các nước trong khối Opec và đương nhiên là Nga, Iran, Venezuala, Việt Nam…. không còn nghinh ngang, vui mừng như lúc dầu thô tăng giá như” phi thuyền không gian”, vừa thâu được nhiều tiền Mỹ Kim và vừa” đánh cho Mỹ mạt, đánh cho Mỹ nghèo”, họ bị mất tới hơn 70 % giá dầu thô cho mỗi thùng, nên Opec có kế hoạch cắt giảm đến 7 % khối dầu trong đầu năm 2009 để đáp ứng tình hình.

Những thế lực tàn dư Cộng Sản, ma giáo, chớ lầm tưởng Độc Cô Cầu Bại chưa động thủ mà lầm, Đô La Thần Chưởng vẫn còn là bí kíp đệ nhất tiền tệ, vô địch giang hồ. Kỳ nầy, ma giáo cắt ké Việt Cộng chỉ lãnh” hơi hám Đô La Thần Chưởng” mà toàn bộ như rả rời, lục phủ ngũ tạng tả tơi, mất hết công lực, đang trên đà ngã quỵ, họ không còn” phấn khởi, hồ hởi” như trước, khi được liên kết với anh chàng Chavez ở Venezuala, hung hăng như con bọ xít ở Nam Mỹ. Con số bán dầu thô 7 tỷ Mỹ Kim năm tới theo dự tính, sẽ trở thành cơn ác mộng, đưa đến thâm thụt ngân sách, sơ sơ năm 2008 cũng phải hao hụt hơn 20 tỷ, áng ” mây mù u ám” về một tương lai phát triển kinh tế tới 7 % theo dự kiến” là láo báo cáo hay” của tập đoàn” đỉnh cao trí tuệ loài người” ở Bắc Bộ Phủ, không còn lạc quan, khi giá dầu thô làm cho Việt Cộng mất hơn phân nửa thu nhập dầu thô, cá nhà đầu tư tháo chạy vì hụt tiền, các nước cấp viện chán ngán vì tham nhũng, như vụ CPI….

Năm 2009 có nhiều thử thách, đòi hỏi những người làm kinh tế, điều hành quốc gia phải linh động, bản lãnh, sáng kiến, viễn kiến…. để thoát qua cơn ảnh hưởng của” Đô La Thần Chưởng”, khiến các nước mới ngóc dậy như Trung Cộng, nhưng muốn làm bá chủ thế giới phải ngậm bô hòn:” đầu tư ba mươi năm, khủng hoảng vài tháng”. Trận khủng hoảng tài chánh lần nầy hơn các trận, tổng số tiền” không cánh mà bay” từ bàn tay” bí mật” lên xuống những con số trên chỉ số giao hoán ở Wall Street như là thứ” phép thần thông”, làm biến mất hơn 7 ngàn tỷ Mỹ Kim, hứa hẹn sẽ có gia tăng nữa, nếu các nước chưa sẵn sàng hay chưa có kế hoạch đối phó, phục hồi. Hiện tượng kinh tế suy thoái toàn cầu và giá dầu cứ tuột dốc là điều mà các nhà đầu tư, các nước cần phải lưu ý để vượt qua khủng hoảng đang trực chờ vật ngã trước mắt./.

TIN HẤP DẪN:
ĐẠI ĐỨC THÍCH NGUYÊN TRỰC, VỊ SƯ CÓ” CÔNG QUẢ” ĐÓN ĐĨ ĐỂ TÌM VỀ NIẾT BÀN VỚI GÍA 40 ÚC KIM ĐÃ LÊN CHỨC THƯỢNG TỌA. (Dựa theo nguồn tin của tuần báo Nam Úc tháng 12 năm 2008, trong mục diễn đàn.)

Đại Đức THÍCH NGUYÊN TRỰC, thuộc tiệm Phật Pháp Bảo, ở Cabramatta, N.S.W ( Sydney) thuộc hệ thống Siêu Thị Phật Giáo” Budhha Business” là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, là giáo hội TÍM( không phải TIẾM ) DANH, có tên trong Giáo Chỉ số 9 của Huề Thượng Thích Quảng Độ. Vị đại đức Thích Nguyên Trực đã” vinh thăng cấp thượng tọa, đặc cách tại chùa” và trong tương lai, sẽ lên huề thượng dễ dàng như câu” sống lâu lên lão làng, tu lâu thành huề thượng”.

Xin nhắc lại: Đại đức Thích Nguyên Trực, tên thật là Nguyễn Trung Hòa, vào ngày 7 tháng 8 năm 2004, lúc mới 47 tuổi mà lên chức” đại đức”, đúng tu trẻ tài cao, một hôm thấy lòng” nắng cực” bèn cỡi áo cà sa khoát áo thường, giả dạng là khách chơi bời dạo, đi tìm đĩ trên đường phố trong việc tìm nguồn cảm hứng để đạt tới” bến giác” là” tu nhất kiếp, sướng nhất thời”; là tu sĩ dỏm, nhưng biết dùng tiền” cúng dường” tiết kiệm, dè xẻn trong việc” chơi đĩ”, nên đã kèn cựa trả giá từ 50 Úc Kim xuống 40 Úc Kim, nào ngờ bị cảnh sát dàn cảnh bắt được, tòa gõ búa phạt 12 tháng tù treo. Vụ nầy có đăng trên tờ báo tiếng Anh, có hàng triệu đọc giả là tờ Sydney Morning Herald ngày 3 tháng 12 năm 2004 với tựa đề:” Nirvana is just $ 40 ( lên Niết Bàn chỉ có 40 Úc Kim) và nhiều tờ báo tiếng Việt có bán khắp tiểu bang, lừng danh là tăng sĩ ” đại đức Thích chơi đĩ” hay nói theo từ Háng Học trong giới chơi bời là” đại đức THÍCH ÂM ĐẠO” hoặc là” THÍCH ÂM HỘ”…. Sau thời gian tạo được” cái quả chơi đĩ” đến nay, đại đức” căn tu” nầy đã lên chức THƯỢNG TỌA và được giữ chức vụ cao: Tổng Vụ Phó Tổng Vụ Tăng Sự của Giáo Hội” tiếm danh” nêu trên.

Trong bản Tuyên Bố Chung của Giáo Hội Phật Giáo” Tiếm danh” ở Úc ngày 9 tháng 9 năm 2008, nhằm xác định việc tiếm danh vẫn không thay đổi, dù chuông có thể bể, mõ có thể rè, song việc mạo danh giáo Hội Phật Giáo trong nước do Huề Thượng Thích Quảng Độ lãnh đạo để làm ăn là không bao giờ thay đổi. Trong bản Tuyên Bố Chung nầy, gồm Huề Thượng Thích Như Huệ, Huề Thượng Thích Bảo Lạc, Thượng Tọa Thích Quảng Ba….và thượng tọa THÍCH NGUYÊN TRỰC ( số 11 trong bản) cộng chung có tới 28 vị anh hùng, nếu không” hảo tiền” cũng là” hảo háng”. Như vậy cái giáo hội nầy, ngoài các tăng sĩ xa lạ được bảo lãnh từ Việt Nam, còn có tu sĩ Nguyên Trực, có thành tích” tu đạo” đón đĩ ngoài đường, cũng thăng chức như thường, chuyện nầy giống như các cán bộ Cộng Sản tham nhũng tại Việt Nam, sau khi bị tố cáo, thì được lên chức, giữ cấp vụ quan trọng hơn. Hiện nay, trong giới Phật giáo tiếm danh có phổ biến quyển sách tự đề là” CA DAO TỤC NGỮ PHẬT GIÁO VIỆT NAM” do một tay thượng tọa tên là THÍCH TRUNG HẬU ở Việt Nam xuất bản gởi qua để làm tài liệu tu tập theo tinh thần” Phật Giáo gắng liền với chủ nghĩa Marx Lenin”, gây xôn xao trong đồng bào tỵ nạn. Nếu quả thật là tên Thích Trung Hậu, từng ra thông bạch” phá thối” vụ Tòa Khâm Sứ, cho là trước đây, đất nầy là ngôi chùa, bị Pháp lấy, phá và xây dựng nhà thờ, quả là xuyên tạc, láo khoét, là cán bộ Cộng Sản giả danh tu sĩ. Cuốn sách ca dao Phật Giáo nầy có tiến sĩ Cao Huy Thuần ở Pháp, tay viết của Giao Điểm giới thiệu. Đây là quyển” CA BÚA- LIỀM TỤC NGỮ PHẬT GIÁO VN” chớ nào” CA- DAO”, trong đó có nhiều điều xuyên tạc như trang 583 có dòng”ca búa liềm” như sau:

” Bụt ngảnh mặt đi.
Ông Thích Ca mỉm miệng cười khì.
Của Tam Bảo dại gì không bóp.
Để làm ngay nó tọp tòm tom”.

Do đó, giáo chỉ số 9 của Huề Thượng Thích Quảng Độ trong nước, chỉ thẳng những kẻ tiếm danh là đúng phốc, sơ sơ lòi ra những thứ tu sĩ kể trên. Các Phật thế giới cần phải đề cao cảnh giác, nhất là những” Tam Tạng thời đại” hảy mau tỉnh giấc để trở về với đạo pháp càng sớm càng tốt./.

THƠ LÁI ÂM.
ĐẠI ĐỨC VỚI” CÔNG ĐỨC” CHƠI ĐĨ LÊN THƯỢNG TỌA.

TU ĐẠO tân thời TAO Đ…. như.
Đ…. ÀO ÀO, đắc ĐẠO Ù-Ù.
ĐỜI MI tăng sĩ ĐI MỜI gái.
MU TAO phơi phới, dục MAU TU.
ĐỜI MÀ cám dỗ, ĐÀ MỜI đĩ.
TU CAO hành lạc, ngõng TAO CU.
ĐỜI-ĐẠO song hành ĐÀO-ĐỢI… đón.
ĐẢ QUẮC dâm tăng, ĐẮC QUẢ hư.

TRƯƠNG MINH HÒA.

http://tinparis.net/vn_index.html

Cac Toi Do Dan Toc Tay Sai Suc Vat Ho Chi Minh

Các Tội Đồ Dân Tộc Tay Sai Súc Vật Hồ Chí Minh

Cac Toi Do Dan Toc Tay Sai Suc Vat Ho Chi Minh

Cac Toi Do Dan Toc Tay Sai Suc Vat Ho Chi Minh

Tay Sai Suc Vat Ho Chi Minh: Bi An Cuoc Doi Le Duan

Bí Ẩn Cuộc Đời Lê Duẩn

Hứa Hoành

Người CS nào cũng có cuộc đời ly kỳ, do họ cố tình che dấu, ngụy trang để hoạt động. Lê Duẩn (1907-1986) từng là Bí thư của đảng CSVN, nhưng là 1 trong những nhân vật lãnh đạo có trình độ học thức kém nhất, chỉ ở bậc Tiểu học. Do đó, ông ta tàn ác đối với đồng bào còn hơn kẻ thù ngoại nhân. Ông là người có tính tình cục mịch như nông dân, tính cọc cằn.

Sau năm 1975, 1 cán bộ cao cấp hỏi ông về chính sách đối đãi với những sĩ quan miền Nam thì Duẩn trả lời bằng cách ra dấu lấy tay quẹt ngang cổ (có nghĩa là giết). Chủ trương tàn bạo, có tính thiếu nhân tính của người lãnh đạo CS, làm cho hàng trăm ngàn sĩ quan cao cấp của QLVNCH phải chết trong các trại cải tạo, phơi thây trong rừng thiêng nước độc, gieo tang tóc đau thương cho gia đình họ. Cuộc đời của Lê Duẩn có nhiều bí ẩn ít ai biết rõ. Tài liệu này được viết dựa. theo những lời kể của người trong cuộc cũng như dựa theo 1 vài tài liệu khác, nhất là do sự giúp đỡ của Xuân Vũ và Dương Đình Lôi, họ đã cho biết những chi tiết sống thực mà chính họ đã chứng kiến.

Lê Duẩn, còn được biết là Lê Văn Duẩn, Lê Văn Nhuận hay anh Ba, người thôn Bích La, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, sinh ngày 7/4/1907 trong 1 gia đình sống bằng nghề đóng quan tài. Chỉ được theo học hết cấp Tiểu học ở Triệu Phong. Năm 18 tuổi, Lê Duẩn xin vào làm cho Sở Hỏa xa Quảng Trị. Theo nhiều người biết thì ban đầu Duẩn làm người “bẻ ghi”, cầm cờ hiệu cho xe lửa mỗi khi vào sân ga. Năm 21 tuổi, Duẩn tham gia hoạt động chính trị bí mật chống Pháp, gia nhập “Việt Nam Thanh Niên Đồng Chí Hội”, là tiền thân của đảng CSVN.

1 năm sau, khi đảng CSVN được thành lập ở Hong Kong, 3/2/1930, Duẩn được cử làm Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ. Sau cuộc khởi nghĩa thất bại “Sô Viết Nghệ Tỉnh”, Duẩn bị Pháp bắt giam ở Hỏa Lò rồi đày lên nhà tù Sơn La (1931-1936).

Năm 1936, Mặt Trận Bình Dân lên cầm quyền ở Pháp, nới lỏng chế dộ cai trị thuộc địa. Tại Đông Dương, Pháp phóng thích 1 số chính trị phạm. Lê Duẩn được tha trong dịp này. Về Trung Kỳ, Duẩn lại tiếp tục hoạt động. 1 năm sau, Duẩn được cử làm Ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ (1937-1939). Sở dĩ Duẩn được tiếp tục tiến cử vào chức vụ cao hơn là nhờ xuất thân từ giai cấp nghèo khổ, ít học, trung kiên. Năm 1939, Duẩn được vào Ban chấp hành Trung ương đảng (Ủy Viên Thường Vụ Lâm Thời Trung ương đảng, 1939-1940), và được phái vào Saigon hoạt động. Bấy giờ đảng viên CS ở miền Nam chỉ có 1 nhúm người. Lúc đó ở Nam Kỳ có Nguy­n Văn Cừ là Tổng bí thư, và Duẩn dưới quyền của Cừ.

Tháng 8/1939, Đảng CS Liên xô ký hiệp ước thân thiện với kẻ thù Đức Quốc Xã, và coi Pháp không còn là đồng minh nữa. Phản ứng lại, ở Đông Dương, Toàn quyền George de Catroux ra lịnh thanh trừng tất cả đảng viên CS. Ngày 17/1/1940, mật thám bắt được tại trận Nguy­n Văn Cừ (Tổng bí thư đảng đương thời), Võ Đình Hiệu, Vũ Thiên Tân và Duẩn đang hội họp tại con hẻm số 19 đường Nguy­n Tấn Nghiệm, nay là Trần Đình Xu. 2 hôm sau, Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập (Uy viên Trung ương đảng) cũng bị tóm ở Phan Thiết. Tuy nhiên, trong dịp này, số người hoạt động chính trị bị bắt, không chỉ CS mà thôi mà còn gồm đủ mọi thành phần, đủ khuynh hướng chính trị và số lượng bị bắt ngày càng đông. Thống đốc Nam Kỳ Veber có lập trại giam mới ở Tà Lài, nằm sâu trong rừng gần Định Quán, khoảng cây số 123 để chứa thêm, sau khi các nhà tù khác đã “quá tải”. Đây là chiến dịch “tổng ruồng, vét sạch” của thực dân, đề phòng cuộc khởi nghĩa của người dân bản xứ.

Lúc ấy, Nguy­n Thị Minh Khai (tức Nguy­n Thị Vịnh) cũng bị sa lưới mật thám Pháp (30/7/1940) tại Hóc Môn. Lúc này, Thường vụ Trung ương đảng đang đóng ở miền Nam với Phan Đăng Lưu, Tạ Uyên,…chưa bị bắt. 30/9/1940, họ đồng thanh quyết nghị khởi nghĩa chứ không chịu ngồi yên chờ chết. Kế hoạch nổi dậy nhiều tỉnh cùng 1 lúc gọi là Nam Kỳ Khởi Nghĩa vào cuối năm 1940 (22/11/1940). Phan Đăng Lưu được cử ra Bắc xin chỉ thị, tuy nhiên cuộc họp lần thứ 7 của Trung ương đảng ở Bắc Ninh (có Hoàng văn Thụ, Trần Đăng Ninh, Hạ Bá Cang tức Hoàng Quốc Việt…) đã không tán thành.

Theo lịch sử công khai của Đảng thì như thế. Tuy nhiên, có người trong cuộc, biết cái bí ẩn của Nam Kỳ Khởi Nghĩa (22/11/1940). Không phải bỗng nhiên nhóm Thường vụ Trung ương đảng lẫn trốn ở Hóc Môn, Bà Điểm mà Pháp biết được và bắt trọn ổ. Đó chính là miền Bắc “chỉ điểm cho Pháp”, vì muốn “đảo chính” Trung ương đảng miền Nam để đem Trung ương đảng ra Bắc Kỳ cho người Bắc lãnh đạo. Họ mượn tay người Pháp để diệt nguội Nam Kỳ. Chính vì lẽ đó, Phan Đăng Lưu bị bắt. Lần lượt, các nhân vật lãnh đạo ở Nam Kỳ bị đưa ra tòa kêu án tử hình. Nguy­n Thị Minh Khai bị bắt trước, cũng bị hành quyết chung (28/8/1941) với Nguy­n Văn Cừ (Tổng bí thư năm 1938), Võ Văn Tần (người Đức Hòa, Tân An, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ), Hà Huy Tập (Ủy viên Trung ương đảng).

Từ đó, ở Bắc, vào đầu tháng 11/1940, tại Hội nghị thứ 7 Ban chấp hành Trung ương đảng CS Đông Dương, Trường Chinh lên làm “Tổng Bí thư Lâm Thời” (thay cho Nguy­n Văn Cừ đã bị bắt cùng Lê Duẩn, Võ Đình Hiệu và Vũ Thiên Tân ngày 17/1/1940 tại Saigon), và đầu não CS dĩ nhiên nằm tại Bắc Kỳ. Các đảng viên Bắc và Trung Kỳ chia nhau nắm giữ các chức vụ then chốt trong kháng chiến cũng như sau khi hòa bình. Đó là chủ trương thầm kín của Hồ Chí Minh. Sau khi Nhật đầu hàng, ở Nam Kỳ, các phần tử trí thức Nam Bộ như Trần Văn Giàu, Nguy­n Văn Trấn, Dương Bạch Mai, Nguy­n Văn Tạo, Huỳnh Văn Tiểng, Ngô Tấn Nhơn, Phạm Ngọc Thạch,…mặc tình thao túng. Họ lập ra Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ, có đầu óc địa phương, manh nha muốn tách ra khỏi sự khống chế của nhóm đảng viên Trung và Bắc Kỳ để thành lập 1 quốc gia CS Nam Kỳ. Không ngờ HCM biết thâm ý này nên sai Cao Hồng Lĩnh (tham gia Cách Mạng Thanh Niên Hội từ năm 1926), Hoàng Quốc Việt vào Nam bắt cóc Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai đem về giam lỏng ở Hà Nội.

Trong khi đó, vào tháng 9/1945, sau khi Nhật đầu hàng, thì Duẩn rời khỏi Côn Đảo (bị giam từ 1940-1945). Kế đó ít tháng, Duẩn được HCM gọi ra Hà Nội nhận chỉ thị. Khi cuộc chiến tranh Việt – Pháp lan rộng ở Nam Kỳ, Hồ cử Lê Duẩn với chức vụ Bí Thư Xứ Bộ Nam Kỳ (1946) đi vào Nam. Đi theo Duẩn có Lê Đức Thọ. Hồ muốn Duẩn vào Nam để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Những người Trung và Bắc từ trước đến nay sống ở miền Nam như Trần Văn Trà, Võ Quang Anh, Phan Trọng Tuệ, Nguy­n Kim Cương…được Hồ cất nhắc lên cấp chỉ huy. 5 năm sau, 1951, khi Trung Ương Cục Miền Nam (bao gồm Nam Bộ và Cao Miên) được thành lập, Duẩn được cân nhắc lên làm Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam. Từ đó, Duẩn vào Nam ra Bắc như con thoi : nào là “rèn quân, chỉnh cán”, nào kiểm thảo,…

Năm 1954, sau khi Hà Nội và Pháp ký Hiệp định Geneva, thì Duẩn được cài ở lại miền Nam, nằm vùng tại 1 căn nhà đường Phan Đình Phùng thuộc khu Bàn Cờ. Duẩn có cấp tốc ra Bắc để nhận chỉ thị lo việc tập kết, ém người và cán bộ ở lại miền Nam, để phát động cuộc chiến tranh mới. Duẩn sử dụng thông hành của 1 thương gia Tàu, do người vợ tên là LKD giới thiệu. Bà này là vợ hờ, theo kiểu già nhân ngải non vợ chồng. Duẩn lợi dụng bà này vì bà là vợ 1 thương gia giàu có, vừa làm cán bộ kinh tài cho CS, mà lại được cảnh “cơm no bò cỡi”. Với thông hành hợp pháp, Duẩn đi đường bộ qua Phnom Penh, rồi đáp máy bay của Hàng không Pháp đi Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Tới đây, Duẩn đổi máy bay về Hà Nộị Lãnh chỉ thị xong, Duẩn lại đội lốt 1 sĩ quan liên lạc của Bắc Việt, tháp tùng máy bay của Ủy Hội Kiểm Soát Đình Chiến, trở về Saigon. Sau đó, Duẩn lén về Phụng Hiệp, rồi bí mật trốn ra mật khu ở Cà Mau. Tại nhà thờ Huyện Sử, Duẩn chủ trì 1 phiên họp cán bộ cao cấp của Trung Ương Cục Miền Nam và ra lịnh : – Phân tán, chôn vũ khí, máy móc.

– Moi móc những súng đạn phế thải của các công binh xưởng phát ra cho các cán binh CS tập kết cầm theo “làm cảnh”, để chứng tỏ cho mọi người và Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến rằng họ nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Geneva.

Chuyến tàu cuối cùng chậm chạp rời cửa sông Ông Đốc. 2 bên bờ, dân chúng tụ tập để ti­n chân thân nhân tập kết. Mọi người nhìn thấy rõ ràng Bí Thư Lê Duẩn đứng trên bong tàu Bilixki, đưa tay vẫy đồng bào… Khuya hôm đó, khi tàu Bilixki vừa ra khơi, Lê Duẩn xuống 1 chiếc ca nô trở lại bờ. Người tổ chức bí mật việc này là Võ Văn Kiệt, lúc đó làm Bí Thư Tỉnh Ủy Bạc Liêu. Duẩn được cài vào 1 gia đình ở Cà Mau để chờ đợi. Mấy tháng sau, Duẩn lại lén lút về Saigon ăn ở với người vợ hờ vừa kể trên. Đây là 1 người đàn bà lẳng lơ, vóc cao lớn, thân hình hấp dẫn, là đàn em của Mã Thị Chu (dược sĩ, có nhà thuốc Tây ở Cần Thơ), là 1 đại gian thương Chợ Lớn. Bà này có với Lê Duẩn 1 đứa con. Khi Lê Duẩn có lịnh ra Bắc (đầu năm 1957, sau khi Trường Chinh bị thất sủng, và chính phủ VNCH từ chối tổng tuyển cử), chính bà này lái xe đưa Duẩn qua Phnom Penh, để đáp phi cơ ra Hà Nội. Nhưng thực ra, từ đây Duẩn đi thẳng qua Hong Kong, Quảng Châu, rồi đổi máy bay khác về Hà Nội.

Nói thêm về tuyến đường này. Kể từ năm 1960, cán bộ cao cấp CS từ Nam VN muốn ra Bắc, họ sử dụng đường bay Phnom Penh – Quảng Châu do hãng Hàng không Air Azur của Pháp khai thác. Trước khi ra mắt Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời ở miền Nam, đại diện CS là Trần Bửu Kiếm cũng qua Phnom Penh rồi đáp máy bay đi Algeria, Cuba, báo tin trước. Khi VC vừa công bố làm l­ ra mắt Chính Phủ trên thì trên đài phát thanh của Algeria, Cuba, người ta nghe tiếng 2 chính phủ này “nhìn nhận” tân chính phủ ấy tức thì. Chuyến về, Trần Bửu Kiếm về thẳng Quảng Châu, qua Hà Nội để đánh lạc hướng tình báo Mỹ. Lần đó, Kiếm về Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam) báo cáo di­n tiến Hoà đàm Paris. Khi cuộc chiến miền Nam trở nên ác liệt, Trịnh Đình Thảo, Lâm Văn Tết (Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình) từ Cục R được đưa ra Bắc lánh nạn, cũng sử dụng đường bay nói trên. Sau đó họ được đưa về Đồ Sơn “nghỉ dưỡng”.

Trở lại năm 1948. Duẩn và Thọ tới chủ trì 1 phiên họp của đại biểu Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ, họp tại mật khu ở Cà Mau. Duẩn gặp 1 cô gái xinh đẹp, có học thức, đang giữ chức Chủ tịch Ban chấp hành Phụ nữ tỉnh Cần Thơ, thì Duẩn mê ngay. Cần nhắc lại, lúc đó Duẩn đã 42 tuổi và có mấy đời vợ ở ngoài Bắc. Người vợ thứ nhứt được Duẩn cưới hồi 20 tuổi, ở quê nhà Quảng Trị, tên Cao Thị Khê. Vì bà vợ này mà Duẩn cất nhắc em ruột bà ta là Cao Xuân Diệm (bí danh Dương Thông), làm Cục trưởng Cục An ninh Nội chính, lúc đó mới cấp Đại tá, sau này lên Trung tướng. 1 người vợ khác của Lê Duẩn là Võ Thị Sảnh, con ông Võ Văn Kính, người Quảng Nam. Ông Kính là công nhân hỏa xa, đồng nghiệp với Duẩn ở Quang Trị. Bà Sảnh gia nhập đảng CS năm 1948, xâm nhập vào hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng để báo cáo cho Trần Văn Trà, lúc đó làm Tư lịnh Quân khu 4.

Khi vào Nam, Duẩn tuyên bố là minh chưa vợ vì còn “mãi lo làm cách mạng”. Thương hại đồng chí Duẩn, tới tuổi này (42) mà chưa vợ, nhiều cán bộ muốn kiếm vợ cho Lê Duẩn để ông ta an tâm lo việc nước. Cô Đỗ Thị Thúy Nga là con 1 đại điền chủ quê ở Thác Lác, cháu gọi Đỗ Hữu Vị bằng chú ruột, và gọi Đỗ Hữu Phương, người giàu nhất Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20, bằng ông nội. Số là năm 1900, Toàn quyền Doumer có dịp vào Saigon, không biết Phương nịnh hót thế nào mà Doumer đã cấp cho Phương cả ngàn mẫu ruộng ở Thác Lác.

Đến năm 1945, số đất ấy chỉ còn vài trăm mẫu, do 1 người con của Phương quản lý. Như vậy cô Nga xuất thân từ giai cấp địa chủ, kẻ thù không đội trời chung với CS.

Nhắc lại, lúc đó Nguy­n Văn Trấn (tác giả “Viết cho Mẹ và Quốc hội”) vừ đổi xuống miền Tây, mới hơn 30 tuổi. Trấn sanh vào ngày 21/3/1914 tại Chợ Đệm (làng Tân Kiên), huyện Bình Chánh, tỉnh Long An, đang giữ 2 chức vụ quan trọng : Bí Thư Khu Ủy, Chính Ủy Kiêm Tư Lịnh Khu 9, uy quyền tột bực. Trấn lại có học (Trường Tiểu học Phú Lâm, Trung học Petrus Ký, tốt nghiệp Trung học, làm báo), khá điển trai, là đối tượng của các cô gái đẹp ở Saigon mới vô khu kháng chiến. Trấn bắt tình với cô Đỗ Thị Thúy Nga, 1 mối tình qua đường vì Trấn đã có vợ con hẳn hoi. Mối tình vụng trộm này không kéo dài được vì bà vợ của Trấn ghen.

Để cứu vãn danh dự và để lấy lòng anh Ba Duẩn, Trấn liền giới thiệu cô Nga cho Duẩn. Thấy Nga, Duẩn rất thích. Nhưng, Duẩn vóc dáng cục mịch, ăn nói cộc lốc như “dùi đục chấm mắm nêm”, lại già hơn, gấp đôi tuổi cô Nga, nên Nga từ chối thẳng thừng. Duẩn kêu vài cán bộ thân tín giữ những chức vụ quan trọng tới họp mật. Bà Lê Đoàn, Chủ tịch Ban chấp hành Hộ Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ, được lịnh anh Ba tới “động viên” cô Nga ưng anh Ba. Anh Ba tuy lớn tuổi nhưng chưa vợ con vì mãi lo việc cách mạng. Rồi Hà Huy Tập (Ủy viên Trung ương đảng), cũng được Duẩn giao nhiệm vụ vận động Thúy Nga. Chưa hết, giáo sư Đặng Minh Trứ, Chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến tỉnh Cần Thơ, nhận lịnh Duẩn đến thẳng tư gia của cô Nga để “vận động” song thân của cô. Tất cả đều là công dã tràng, vì cô Nga từng là nữ sinh tường đầm, nói tiếng Pháp như gió, không chịu làm vợ 1 anh nhà quê thất học. 1 người từng ở trong hàng ngũ kháng chiến kể lại rằng, khi mọi cuộc “vận động” bế tắc, Duẩn liền dùng bạo lực. Duẩn cho lịnh mời cô Nga với tư cách đại biểu Cứu Quốc Cần Thơ, đến họp tại 1 ngôi nhà giữa rừng, bên bờ sông Trẹm, chỗ giáp ranh U Minh Thượng và U Minh Hạ. Đêm ấy trời mưa, chuyện gì xảy ra không rõ, sáng chỉ thấy cô Nga mặt mày sưng húp vì khóc suốt đêm qua. Ván đã đóng thuyền, cô Nga mi­n cưỡng làm vợ bé của Lê Duẩn.

Từ đó, đảng ra lịnh cấm bất cứ ai bàn tán về việc “đồng chí Ba Duẩn cưới vợ”. Năm 1955, cô Nga theo đoàn quân tập kết ra Bắc. Duẩn cho dấu cô Nga với 2 con trong 1 biệt thự trên đường Hùng Vương. Không hiểu do ai báo cáo, bà vợ cả Đỗ Thị Khê tìm tới đánh ghen. Cô Nga chỉ biết ôm mặt khóc. Duẩn dàn xếp dấu Nga ở Hải Phòng, cũng bị vợ lớn tìm tới chửi bới, khiến Nga đòi tự tử. Duẩn báo cáo việc lem nhem với Hồ. Hồ gợi ý đưa Nga qua Trung Quốc tỵ nạn vợ lớn, với danh nghĩa theo học chính trị tại Thiên Tân. Mỗi năm, Hồ cho Duẩn mượn chiếc máy bay riêng, ẩn số BH 195 (có nghĩa là Bác Hồ 19/5) qua Thiên Tân thăm vợ. Mỗi lần đi, Duẩn có đem theo đứa con gái lớn con bà vợ cả là Lê Thị Hồng, để cô này thăm tình nhân là 1 Thiếu úy đẹp trai, quê ở Cái Tàu, Bạc Liêu. Viên Thiếu úy này đang học trường quân sự Cáp Nhĩ Tân. Về sau, nghe đâu cô này học bên Liên Xô và lấy chồng người Liên Xô.

Xưa nay, lấy vợ lấy chồng là chuyện bình thường, nhưng có vợ rồi mà còn muốn có vợ bé…lại còn làm việc bất chính để chiếm đoạt. Hồ Chí Minh luôn luôn răn đe đảng viên phải có “đạo đức cách mạng, đời công, đời tư phải trong sáng…” Thật ra, lời giáo dục ấy chỉ là tuyên truyền, áp dụng cho đảng viên cắc ké. Các Ủy viên Trung ương đảng, Bộ chính trị, ai cũng lấy vợ hai, vợ ba, dựa vào quyền lực để ép duyên, hoặc dùng thủ đoạn để lấy gái tơ cỡ tuổi con mình, như Lê Đức Thọ, Võ Quang Anh (Tham mưu trưởng Khu 9), Trần Văn Trà, Hà Huy Giáp, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Hoan,…

Hứa Hoành

http://www.hungviet.org/huahoanh/huahoanh-8.html