che do suc vat ho chi minh súc vật hồ chí minh: CON MÈO ĐÓI KHÔNG THA MỒI NGỌAI HỐI

KHẨN:

CON MÈO ĐÓI KHÔNG THA MỒI NGỌAI HỐI

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

21.01.2009

USD.8 TỈ NGỌAI TỆ CHUYỂN VỀ VN là miếng mồi ngon thơm phức.

CSVN hiện đang là con cáo, con mèo, con chó ĐÓI trước miếng MỒI 8 TỈ ĐO-LA do Kiều bào gửi về. Chúng ra chỉ thị lấy thuế VAT/TVA 10% trên khối Tiền ấy mang hai tác dụng:

1) Hàng năm, với 10% VAT/TVA, chúng thu vào USD.800’000’000.-

2) Nếu không muốn đóng 10% VAT/TVA trên Ngọai tệ, thì chúng đưa Tiền Đồng VN mà không phải đóng thuế. Đây là biện pháp mà chúng xử dụng để giữ lấy Ngọai tệ và làm Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) bằng cho in Tiền Đồng VN mới ra để phát cho dân chúng. Số Tiền Đồng mới in này chưa có Bảo chứng bằng Tương đương Kinh tế thực (Pouvoir d’Achat)

Khi tuyên bố lấy VAT/TVA 10% trên Ngọai tệ, chúng bị phản đối, nhất là Kiều bào ngưng gửi Tiền Đo-la hay Euro, nên chúng vội vã tuyên bố đây là nhầm lẫn. Thực ra không có chuyện bé cái lầm lãng xẹt như vậy, MÀ VÌ CHÚNG THẤY ĐỚP KHÔNG NỔI, NÊN ĐÀNH TẠM THỜI NHẢ RA. Kinh tế Việt Nam đang tụt dốc, chúng trở thành những con chồn, những con mèo, những con chó đói thực sự. Không đớp được, đành nhả ra, nhưng CON MÈO ĐÓI SẼ KHÔNG THA MỒI NGỌAI HỐI. Chúng tìm cách khác để ăn cho được miếng MỒI NGỌAI HỐI ngon thơm này. Cái cách mà chúng làm, chính là cái cách thứ hai vừa nêu trên đây, NGHĨA LÀ CHÚNG GIỮ LẤY NGỌAI HỐI, MÀ CHỈ TRAO CHO NGƯỜI NHẬN TẠI VIỆT NAM BẰNG ĐỒNG TIỀN LẠM PHÁT VIỆT NAM MỚI IN RA CHƯA CÓ BẢO CHỨNG KINH TẾ (POUVOIR D’ACHAT). Đồng tiền VN này sẽ mất giá nhanh chóng.

Chúng tôi đọc được Tin sau đây cho thấy cái thâm ý tai hại này:

“Trong ngày 17.1, nguồn tin từ Mỹ cho biết, chỉ sau đúng 1 ngày các thông tin về nhập khẩu ngoại tệ tiền mặt vào Việt Nam bị đánh thuế, các công ty kiều hối tại Mỹ đều có những thay đổi về cách thức chuyển tiền kiều hối. Theo đó, một số công ty đã bắt đầu áp dụng quy định chuyển tiền USD về Việt Nam nhưng người thân nhận tiền thì chỉ được chi trả bằng VND.”

Với Tin này, các Công ty Kiều hối tại Mỹ sẽ là cánh tay nối dài để CSVN, con chó đang đói, thi hành biện pháp thứ hai trên đây để nuốt miếng mồi USD.8 TỈ của Việt kiều gửi về. Đây là cái qủy kế của con mèo đói trước miếng MỒI NGON mà chúng không chịu thả ra.

Chúng tôi viết Tin trên đây như TIN KHẨN để Kiều bào đừng trúng kế của CSVN và của những cánh tay nối dài kiều hối tiếp sức cho con chó đói CSVN giữ lấy Đo-la và chỉ trả bằng Tiền Đồng VN mới in ra chưa có bào chứng Kinh tế.

XIN QÚY KIỀU BÀO GIỮ VỮNG LẬP TRƯỜNG: NẾU GỬI BẰNG ĐO-LA, THÌ NGƯỜI Ở NHÀ NHẬN BÀNG ĐO-LA, CHỨ KHÔNG LẤY TIỀN ĐỒNG VN LẠM PHÁT, MẤT GIÁ MAU CHÓNG.

NẾU CON CHÓ ĐÓI CSVN VÀ CÁC CÔNG TY KIỀU HỐI TẠI NƯỚC NGÒAI KHÔNG CHẤP NHẬN TRẢ BẰNG NGỌAI TỆ MÀ MÌNH GỬI, THÌ CHÚNG TA HÃY TÌM CÁCH GỬI CHUI ĐỂ NGƯỜI Ở NHÀ GIỮ LẤY NGỌAI TỆ. Khi cần, đổi Ngọai tệ với Hối suất CHỢ ĐEN.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

ĐÀNG SAU

THUẾ VAT/TVA 10% TRÊN NGỌAI TỆ

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

20.01.2009

Trước phản ứng của các Ngân Hàng, Nhà Nước Việt Nam đã phải cắt nghĩa rằng quyết định lấy Thuế VAT/TVA 10% trên Ngọai Hối chuyển về Việt Nam là một sự lầm lẫn giữa Giấy In Tiền và Tiền Giấy Euro hay Dollar đã được in ra và lưu hành.

Tại sao Quan Thuế Việt Nam lại có sự lầm lẫn lãng xẹt ở một vấn đề quan trọng về Tiền Tệ như vậy ? Phải chăng Nghi Định lấy Thuế VAT/TVA 10% đối với Ngọai Tệ chuyển về Việt Nam là có thực, nhưng đã được vội vã hủy bỏ trước phản ứng của các Ngân Hàng và Dân chúng ? Dầu sao, dù nhầm lẫn hay hủy bỏ vội vã, thì đây cũng là sự mất đứng đắn của một Nhà Nước trước vấn đề quan trọng đối dân chúng, làm cho dân mất tin tưởng ở những quyết định Tiền Tệ, Tài Chánh và Kinh tế tại Việt Nam.

Chúng tôi muốn tìm hiểu cái hòan cảnh của Thị Trường Tiền Tệ thúc đẩy đi đến “bé cái lầm” hay chủ ý lấy Thuế VAT/TVA 10% trên Ngọai tệ nhập vào Việt Nam.

1) Tình trạng Lạm phát đặc biệt, Vật giá tăng vọt ở Việt Nam trong những năm gần đây có hai cái nguồn:

a) Vật giá tăng thực sự

b) Lạm phát Tiền Đồng Việt Nam (Inflation monetaire), nghĩa là Đồng Bạc Việt Nam mất giá vì Nhà Nước âm thầm cho vào Khối Tiền lưu hành một số lượng Tiền mới không có Bảo Chứng bằng Khả năng Kinh tế (Pouvoir d’Achat).

2) Cán Cân Thương Mại thiếu hụt: Nhập Cảng (Nhập Siêu) cao hơn Xuất Cảng. Đồng thời số Ngọai tệ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam cũng giàm hẳn đi. Tình trạng thiếu hụt Ngọai Tệ khiến phía Cầu Ngọai Tệ tăng lên, trong khi ấy phía Cung Tiền Đồng Việt Nam lại tăng. Đây là tình trạng khiến Hối suất giữa Tiền Việt Nam và Ngọai tệ chênh lệch về phía Ngọai Tệ. Tiền Việt Nam càng ngày càng rẻ, Ngọai tệ càng ngày cáng mắc.

3) Nhưng Nhà Nước độc tài Việt Nam không tuân theo luật tư nhiên Cung-Cầu làm thay đổi Hối Suất. Nhà Nước độc tài đã can thiệp trực tiếp vào Thị trường Tiền Tệ bằng cách ấn định Hối suất cứng nhắc giữa Tiền Đồng Việt Nam và Ngọai tệ (Dollar chẳng hạn). Tình trạng can thiệp Hối suất cứng ngắc này làm phát sinh CHỢ ĐEN ở Thị trường Tiền Tệ Việt Nam. Trên Thị trường có hai Hối suất song hành: Hối suất công khai và Hối suất Chợ đen. Một số con buôn hay Công ty làm đầu cơ Ngọai tệ, lợi dụng sự chênh lệc giữa hai Hối suất để kiếm Lợi nhuận lớn ở Thị trường Tiền tệ. Thực vậy, Đollar được đổi ra Tiền Đồng ở Chợ Đen. Con buôn Tiền dùng Tiền đồng mất giá này để mua Ngọai tệ với giá chính thức của Nhà Nước, rồi lại đen ra Chợ đen bán có lời. Nhà Nước biết có những người đầu cơ Tiền tệ như vậy, nên Nhà Nước muốn lấy Thuế VAT/TVA 10% để chia phần Lợi nhuận Tiền tệ đầu cơ. Như vậy, việc quyết định lấy Thuế VAT/TVA là có thực, chứ không phài chỉ là sự cắt nghỉa lãng xẹt lầm lẫn của Quan Thuế VN.

4) Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Kích Cầu 6 tỉ đo-la. Rất nhiều người đã đặt câu hỏi: Nguyễn Tấn Dũng lấy Tiền đâu ra mà có trong tình trạng Kinh tế hiện nay?

Riêng chúng tôi, chúng tôi nghĩ ngay đến việc Lạm phát Tiền tệ của một Nhà Nước độc tài: in tiền mới không có Bảo chứng Kinh tế để thả lẫn lộn vào Khối Tiền thực đang lưu hành. Đây là hành động ăn cướp của Dân đã phải đổ mồ hôi kiếm được đồng tiền thực có Bảo chứng Kinh tế. Việc làm này là VIỆC ĂN CƯỚP hình sự đến tử hình. Theo chúng tôi, diễn tiến của việc kiếm ra 6 tỉ đo la nhân vụ Thuế VAT/TVA như sau:

=> Nhà Nước lấy Thuế VAT/TVA 10 % Ngọai tệ từ Kiều bào gửi về Việt Nam. Chỉ nguyên với 8 ti đo la mỗi năm, CSVN thu vào USD.800’000’000.- đo-la. Đây là cho khối Người Việt tỵ nạn. Còn các Công ty chuyển Đo-la về Việt Nam cũng bị Thuế VAT/TVA này, thêm vào đó, Ngọai tệ chuyển về từ những Lao động xuất cảng tàn tệ, thậm chí đến những người con gái vị thành niên bị những Tổ chức của đảng CSVN bắt cởi trần truồng như nhộng để bán dâm. Những người con gái này bán dâm để nuôi con hoặc cha mẹ già. Đảng CSVN thực là vô nhân đạo đối với những người con gái bị thống khổ bán dâm này.

=> Nhà Nước CSVN muốn giữ lại Ngọai tệ cho mình và cho phổ biến Tiền Đồng Việt Nam mới in ra cho Dân chúng Việt Nam. Việc làm này là đánh lận con đen ăn cướp. Dân chúng không biết để rồi tiền tiết kiệm của họ mất giá 20%, 50%…80% sánh với vật giá mà họ cần để nuôi sống thân xác..

=> CSVN làm chuuyện ăn cướp này về Tiền tệ trong mục đích giữ quyền hành của mình. Thật là tội hình khốn nạn mà một số Trí thức theo hùa tòng phạm với CSVN.

Tụi CSVN, qua tuyên bố ngu xuẩn của Nguyễn Tấn Dũng mỵ dân với 6 tỉ đo-la kích Cầu, đang tìm cách lường gạt dân chúng qua Thuế VAT/TVA 10% trên Ngọai hối.

5) Lời cắt nghĩa vội vàng của Nguyễn Tấn Dũng rằng đây là sự “nhầm lẫn” về những chữ GIẤY IN TIỀN và TIỀN GIẤY như Đo-la, Euro… nhập cảng vào Việt Nam. Tôi thấy lới cắt nghĩa này có tính cách khôi hài lãng xẹt vì những lý do sau đây:

=> GIẤY IN TIỀN bị đánh thuế VAT/TVA 10%

Giấy in tiền đo-la, euro…, Mỹ và Liên Aâu… để cho Việt Nam nhập cảng những giấy đó hay không để in tiền giả. Theo tôi biết, thì Tiền Đồng Việt Nam cũng được in ở nước khác, chứ không phải tại Việt Nam để mà ai nhập cảng giấy in đó để in tiền giả Việt Nam. Tại Thụy sĩ, giấy in tiền cũng bị giữ bí mật. Quan Thuế hay Nguyễn Tấn Dũng nói dỡn chơi về phương diện chuyên biệt này qua lời giải thích “nhầm lẫn” lãng xẹt.

Cho dù Ngân Hàng Trung Ương Mỷ FED cho Việt Nam biết Giấy in Tiền Đo-la từ đâu, thì vấn đề nhập cảng Giấy đó cũng phải có phép đặc biệt đển in Đo-la lậu. Dù Việt Nam đựoc Giấy phép nhập cảng Giấy in Đo-la lậu, thì cũng phải quyết định giá thuế cho rõ rệt. Đồng Đo-la có cùng khuôn khổ Giấy in USD.1 hay USD.100. Như vậy cùng một tờ giấy in Đo-la,người ta có thể đề là USD.100 hay USD.1. Vậy thì đánh Thuế VAT/TVA dựa trên Giá trị USD.100 hay USD.1 (Taxe AD VALOREM USD.100 hay AD VALOREM USD.1 để tính thuế)

=> Tại sao “nhầm lẫn” về Giấy In Tiền và Tiền Tệ Đã In, mà Quan Thuế Việt Nam lại tuyên bố cho phép LẤY TIỀN ĐỒNG VIỆT NAM không phải đóng Thuế VAT/TVA 10%, trong khi ấy nếu lấy US Đo-la hay Euro phải đóng VAT/TVA 10%. Chính về điểm này mà tôi thấy Nguyễn Tấn Dũng cải chính”nhầm lẫn” trong DẤU ĐẦU HỞ ĐUÔI”. Nhà Nước CSVN muốn ăn cướp Ngọai tệ của Kiều Bào và những Công ty Nước ngòai bằng biện pháp ngu như con chó dấu đầu hở đuôi.

KẾT LUẬN:

Hãy chuyển Tiền CHUI cho gia đình để sống. Hãy chuyển Đo-la và nói với Gia đình hãy giữ kỹ Đo-la. Chỉ đổi khi cần để sống. Đừng để cho CSVN thu lấy Đo-la bằng cách cho ra Tiền Đồng Việt Nam không Bảo Chứng Kinh tế, nghĩa là Tiền mới in ra (Inflation Monétaire).

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

20.01.2009

CHỦ ĐỀ: PHẢI DỨT BỎ CHỨ KHÔNG CHỈ CẢI CÁCH CƠ CHẾ HIỆN HÀNH:

Bài 05:

LẠM PHÁT TIỀN TỆ (INFLATION MONETAIRE)

CỦA MỘT NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html

02.10.2008

Vào tháng 10 năm ngoái 2007, khi viết về những triệu chứng Lạm phát trong những nước bắt đầu phát triển, trong đó có Việt Nam, chúng tôi đã dựa trên những bài viết của những Nhà Kinh tế chuyên nghiệp, những Giáo sư Kinh tế như Alain FAUJAS, Florin AFTALION đăng trong nhật báo LE MONDE số 19523, thứ Tư, ngày 31.10.2007 với những đầu đề như: (1) L’INFLATION FRAGILISE LES PAYS EMERGENTS (Lạm Phát làm yếu những nước bắt đầu phát triển); (2) L’INFLATION DETRUIT UNE ECONOMIE, MEME SI LES POLITIQUES PEUVENT L’APPRECIER (Lạm Phát phá hủy một nền Kinh tế, ngay cả khi Chính trị có thể chuộng nó); (3) LES PAYS EMERGENTS MALADES DE LA HAUSSE DES PRIX (Những nước bắt đầu phát triển bị bệnh hoạn vì vật giá tăng).

Kinh tế gia Alain FAUJAS đã khẳng định như sau:”Lorsque l’emprise politique (partis communistes chinois ou vietnamien) s’étend au commerce, à la finance et à l’industrie, le consommateur subit de plein fouet des prix arbitraires” (LE MONDE, Mercredi 31.10.2007, page 13) (Khi có xâm lấn chính trị (các đảng Cộng sản Trung quốc hay Việt Nam) vào thương mại, tài chánh và kỹ nghệ, thì người tiêu thụ phải chịu đựng thẳng tay những giá cả độc đoán).

Giáo sư Florin AFTALION đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:”… dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2) (… tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)

Sau khi viết xong loạt bài này, thì đầu năm 2008, tình hình Lạm phát bùng nổ ở Việt Nam với mức cao đặc biệt. Vật giá tăng vọt và Dân nghèo khổ cực. Nhà nước ồn ào đưa ra những biện pháp chống Lạm phát. Thế rồi sau hồi ồn ào với những biện pháp để mỵ dân, Dân nghèo vẫn tiếp tục sống trong khổ cực vì vật giá, nhưng Nhà nước yên tiếng không và người ta không biết kết quả của những biện pháp chống Lạm phát ra sao.

Cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế tại Việt Nam bùng nổ từ đầu năm 2008. Rồi ngày nay, cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế đang diễn ra trầm trọng từ Hoa kỳ, Liên Aâu và toàn Thế giới, chắc chắn mang ảnh hưởng tàn phá thêm đến Tài chánh/Kinh tế Việt Nam.

Bài QUAN ĐIỂM thứ 5 trong loạt bài Chủ đề này chỉ hạn hẹp vào Lạm phát ở phương diện Tiền tệ. Chúng tôi bàn tới những khía cạnh sau đây:

=> Tình trạng Lạm phát là như thế nào

=> Lý thuyết về Tương quan Tiền tệ và Đời sống Kinh tế thực

=> Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) ở Việt Nam

=> Lạm phát Tiền tệ được che chở ở một Nhà Nước dộc tài nắm Độc quyền Kinh tế

Tình trạng Lạm phát là như thế nào

Tình trạng Lạm phát có thể được định nghĩa theo những góc nhìn khác nhau. Giáo sư Joseph DEISS là cựu Bộ trưởng Kinh tế và cựu Tổng Thống Thụy sĩ. Chúng tôi đưa ra những định nghĩa của Gs Joseph DEISS vì cũng là đồng nghiệp của chúng tôi (Trích trong cuốn ANALYSE ECONOMIQUE DE LA SUISSE, Collection Vie et Economie, Edition Fragnìeres Suisse 1982).

Đứng về Thị trường tiêu thụ thực của Sản phẩm, thì “L’inflation est une situation de déséquilibre: il y a inadaptation entre l’offre et la demande de biens et de services“ (Lạm phát là tình trạng mất thăng bằng: một việc không cân xứng giữa cung và cầu cũa hàng hóa và dịch vụ).

Đứng về liên quan đến Tiền tệ, thì “L’inflation est un processus de hausse des prix. La monnaie se déprécie par rapport aux marchandises et elle perd une partie de son pouvoir d’achat. (Lạm phát là một tiến trình tăng giá cả. Tiền tự mất giá so với hàng hóa et đồng tiền mất một phần khả năng mua bán hàng của nó.)

Như đầu đề của Bài đã hạn định, chúng tôi chỉ quan tâm đến câu định nghĩa thứ hai về Lạm phát trong tương quan giữa Tiền tệ và Hàng hóa Kinh tế thực. Chính mối tương quan này mà chúng ta phải tìm hiểu Lạm phát Tiền tệ đã dự phần vào Lạm phát tổng quát ở Việt Nam như thế nào.

Chúng tôi muốn lấy một tỉ dụ nôm na cho dễ hiểu tình trạng Lạm phát liên quan đến Tiền tệ. Người Công nhân lĩnh lương được 150’000 đồng. Anh dành ra 40’000 đồng để mỗi sáng đi ăn phở. Đầu năm, giá tô phở là 2’000 đồng. Như vậy là anh có thể ăn được 20 tô phở. Phở là hàng hóa thực của Kinh tế. Đến giữa năm, giá mỗi tô phở là 4’000 đồng. Lương của anh vẫn giữ nguyên 150’000 đồng/ tháng và anh vẫn chỉ có thể dành ra 40’000 đồng để ăn phở Như vậy lúc này, anh chỉ có thể mua được có 10 tô phở. Nếu việc sản xuất phở giảm lượng đi, thì đó là Lạm phát của đời sống Kinh tế thực. Nhưng nếu việc sản xuất lượng phở vẫn như cũ, thì việc Lạm phát này có hai lý do: một là người bán phở tăng giá vì tình trạng Kinh tế chung hoặc là do đầu cơ; hai là số Tiền 40’000 đồng anh đang cầm đã mất giá, nghĩa là không còn khả năng mua phở như đầu năm.

Chính ở khía cạnh mất giá đồng tiền này mà chúng tôi đi tìm những lý do cho Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire). Cái việc mất giá đồng tiền này không phải là do anh làm. Vậy thì do ai ?

Lý thuyết về Tương quan Tiền tệ

và Đời sống Kinh tế thực

Có hai giai đoạn đưa ra những Lý thuyết cắt nhgĩa tương quan giữa đồng Tiền (tờ giấy 1’000 đồng chẳng hạn) và Đời sống Kinh tế với hàng hóa thực (tô phở chẳng hạn). Không ai nhai tờ giấy 1’000 đồng để bụng khỏi đói. Nhưng ăn tô phở thì bụng hết đói. Việc hết đói là đời sống kinh tế thực, trong khi ấy tờ giấy 1’000 đồng chỉ là phương tiện mua tô phở. Vì vậy, người ta phân biệt ra hai Lãnh vực: Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực và Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh. Hai Lãnh vực có những liên hệ như thế nào ?

=> Lý thuyết Định Lượng Tiền bạc (Théorie Quantitative de la Monnaie)

Đây là Lý thuyết đơn giản và tiên khởi cắt nghĩa tương quan giữa Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh và Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực. Lý thuyết được đưa ra đầu tiên ở Thế kỷ XVIII bởi David HUME và Richard CANTILLON. Theo hai tác giả này, thì nếu tăng gấp đôi lượng tiền cho một cộng đồng Kinh tế, thì tức khắc vật giá sẽ tăng lên gấp đôi. Nhưng phải đợi đến cuối Thế kỷ XIX và đầu Thế kỷ XX, thì Irving FISHER mới đưa ra Công thức sau đây:

M.V

——– = P

T

M : Lượng Tiền thả ra cho cộng đồng Kinh tế; V : Tốc độ lựong Tiền lưu hành; T: Những sản phẩm thực Kinh tế lưu hành trong Cộng đồng; P: Mức tổng quát giá cả.

Cứ theo Công thức của FISHER, thì nếu lượng tiền lưu hành (M.V) không thay đổi, mà Lượng hàng hóa lưu hành (T) sút kém, thì Vật giá tổng quát (P) tăng lên. Đây là Lạm phát thực. Nhưng nếu mức sản xuất và lưu hành hàng hóa giữ nguyên, mà vì lý do nào đó Lượng Tiền lưu hành tăng lên, thì Vật giá tổng quát (P) cũng tăng lên. Đây là Lạm phát về phía Tiền tệ. Việc tăng Lượng Tiền có thể do việc tung ra cộng đồng một số Tiền mới in, hoặc do việc tăng tốc độ lưu hành Tiền tệ (V). Tỉ dụ bình thường Công nhân lĩnh lương tháng. Nhưng nếu áp dụng việc trả Lương tuần (như bên Mỹ), thì tốc độ lưu hành Tiền sẽ được nhân tăng lên.

=> Lý thuyết Hội nhập Tiền tệ (Théorie de l’Intégration Monétaire)

Từ J.M.KEYNES, nhất là Milton FRIEDMAN, trường phái Chicago, thì Lãnh vực Tiền tệ, Tài chánh không đứng ngoài Lãnh vực Đời sống Kinh tế thực như khách bàng quan. Phải có một sự Hội nhập Tiền tế, Tài chánhä vào Lãnh vực Đời sống Kinh tế để lượng tiền mới mang một giá trị mua bán. Chu trình Hội nhập như sau:

Đồng Tiền mới in ra từ Ngân Hàng Phát Hành (Trung ương) chưa mang giá trị mua bán. Đó chỉ là một mảnh giấy không hơn không kém. Đồng Tiền ấy phải qua hệ thống sản xuất dưới dạng trả lương cho Công nhân chẳng hạn. Công nhân nhận được đồng Tiền. Đây là đồng Tiền bắt đầu có giá trị mua bán. Khi hàng hóa sản xuất thực được đưa ra Chợ, Công nhân mang đồng Tiền đến mua hàng hóa, thì có sự tương đương của đồng Tiền với Hàng hóa. Khi có sự tương đương như vậy, thì đây là đồng Tiền thực, có giá trị mua bán.

Chính đời sờng sản xuất Kinh tế thực đã mang lại cho tờ giấy Tiền lúc ban đầu có một giá trị (Pouvoir d’Achat).

Bây giờ nếu vì một lý do nào đó, Ngân Hàng Phát Hành in ra một lượng Tiền mới tinh mà không cho lượng tiền mới ấy vào Chu trình Hội nhập, thì lượng Tiền mới này củng chỉ là mớ giấy chưa có giá trị mua bán (Pouvoir d’Achat). Nếu Nhà Nước đem số Tiền mới in này thả đại vào Lượng Tiền đang lưu hành, thì đó là hành động lưu manh đánh lận con đen pha lộn Tiền thực (đã Hội nhập) và Tiền chưa có khà năng Kinh tế (chưa Hội nhập). Đây là hành động ăn ướp giá trị Tiền thực của Công nhân… Khối Tiền đã Hội nhập cộng chung với Khối Tiền chưa Hội nhập làm cho Vật giá tăng lên, nghĩa là Tiền mất giá. Đây là hành động ăn cướp Tiền tệ phải xử tử hình theo Luật Tiền tệ.

Một Nhà Nước tự động tăng lượng Tiền mới chưa Hội nhập Kinh tế là Nhà Nước đáng phải chịu tội tử hình này.

Lạm phát Tiền tệ

(Inflation Monétaire) ở Việt Nam

Theo những lý luận trên đây, nhất là việc Hội nhập Tiền tệ, chúng ta xem đâu là cái phần Lạm phát Tiền tệ làm cho tình trạng Lạm phát ở Việt Nam trở thành trầm trọng. Cái phần này làm cho đồng Tiền Việt Nam mất giá. Trước khi nói đến tình trạng Lạm phát Tiền tệ ở Việt Nam, chúng tôi đưa ra những tỉ dụ lạm phát có tính cách Lịch sử.

Xin nhắc lại lời khẳng định của Giáo sư Florin AFTALION về những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:

”… dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)

(… tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy.)

Vào những thập niên 1980, tình trạng Lạm phát Tiền tệ lan tràn tại Phi Châu và Nam Mỹ. Lạm phát Tiền tệ ở Ba Tây lên tới mức 1000% vào thập niên 1980.

Tỉ dụ một Sĩ quan cấp Tá từ trong rừng tại Phi châu, dẫn quân về Thủ đô làm Đảo chánh (Cách Mạng). Trong tình trạng chiến tranh dành quyền hành, nền Kinh tế thực không tăng mà còn tụt dốc, nghĩa là số lượng hàng hóa(T) giảm hẳn. Nhưng Oâng Tá ấy lên làm Nguyên Thủ Quốc gia, bây giờ phải nuôi quân sĩ và nuôi công chức. Làm thế nào để trả lương hàng tháng. Oâng đến Ngân Hàng Phát Hành và yêu cầu Thống Đốc in cho 10 tỉ đơn vị tiền hiện hành. Oâng Thống Đốc thấy đây là trái nguyên tắc phát hành Tiền tệ. Nhưng Oâng Tá Nguyên Thủ Quốc kề súng lục vào màng tai Thống Đốc. Thế là 10 tỉ tiền mới được in ra để Oâng Tá trả ương lính và công chức. Tỉ dụ khối Tiền đã hội nhập (M.V) và có giá trị mua bán hiện giờ là 5 tỉ và lượng hàng hóa sản xuất và lưu hành (T) là 20’000’000 đơn vị. Vật giá tổng quát (P) được tính hiện hành với khối tiền đã hội nhập kinh tế như sau:

M.V 5’000’000’000 đơn vị tiền

——— = P = ———————————- = Giá = 250 đơn vị tiền cho 1 đơn vị hàng

T 20’000’000 đơn vi hàng

Nhưng vì tình trạng chiến tranh, Đảo Chánh, Cách Mạng, nên số lượng hàng sản xuất và lưu hành giảm xuống chỉ còn 10’000’000 đơn vị. Đồng thời Oâng Tá thả trực tiếp (không Hội nhập Kinh tế) số tiền mới in 10 tỉ vào cộng đồng Kinh tế qua ngả trả lương trực tiếp cho lính và công chức. Giá tổng quát của Thị trường sẽ lạm phát như sau:

M.V 15’000’000’000 đơn vị tiền

——— = P = ———————————- = Giá = 1’500 đơn vị tiền cho 1 đơn vị hàng

T 10’000’000 đơn vi hàng

Lạm phát tổng quát tăng 500%. Nếu không tăng lượng tiền mới in ra và nếu chỉ có giảm lượng hàng, thì lạm phát chỉ tăng 200%. Như vậy trong 500% Lạm phát tổng quát, Lạm phát Tiền tệ (Inflation Monétaire) là 300%. Cái Lạm phát 200% là do yếm kém Kinh tế.

Qua tỉ dụ tính toán trên đây, chúng ta có thể nói rằng tình trạng Lạm phát ở Việt Nam đặc biệt cao hơn các Quốc gia trong vùng mặc dầu cùng ở trong hoàn cảnh Kinh tế chung như nhau. Việc lạm phát cao trội đặc biệt này ở Việt Nam đến từ hai phía:

* Về sản xuất Kinh tế thực sự: yếu kém từ những Tập đoàn Kinh tế Nhà Nước chỉ lo tham nhũng, lãng phí mà không lo tăng năng suất hoạt động trong ngành nghiệp. Các Tập đoàn này làm những việc bên lề như dùng vốn chơi chứng khoán chẳng hạn.

* Về phía Tiền tệ: đó là sự phát hành không Hội nhập Kinh tế những phương tiện Tiền tệ:

=> Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam theo lệnh của quyền lực Chính trị độc tài, cho in Tiền mới ra (chưa Hội nhập Kinh tế) để thả vào Lượng Tiền thực đã Hội nhập. Đây là việc làm cướp bóc Tiền thực của người dân đã kiếm được qua Hội nhập Kinh tế (Tiền lương). Hành động này là hành động ăn cướp đáng tội tử hình. Nếu chúng ta lưu ý đến những vụ đổi Tiền ở Việt Nam, thì đây cũng là dịp để ăn cướp Tiền thực có giá trị mua bán hàng hóa.

=> Hệ thống Ngân Hàng Thương mại không phát hành Tiền công khai (Billets de Banque) như Ngân Hàng Nhà Nước, nhưng lại phát hành Tiền Tín dụng (Monnaies Scripturales) như Credit Cards, Cheques, Letter of Credit, Promissory Notes, Bank Guarantees, Standby Letter of Credit. Đây là những phương tiện mua bán giống như Tiền tệ. Khi các Ngân Hàng Thương Mại phát hành bừa bãi Tiền tệ tương lai (Virtual Money) chưa có hiện thực để tiêu dùng cho hàng hóa hiện tại như vậy, thì đó là nguồn làm tăng Khối Tiền đang lưu hành và do đó làm Lạm phát Tiền tệ. Việc phát hành này còn tệ hơn nữa khi mà những Ngân Hàng Thương mại lại thiếu phần tiền cọc tối thiểu bảo chứng. Tôi xin kể ra tỉ dụ cụ thể: cách đây 5 năm, tôi nhận được một tờ Bảo Lãnh Ngân Hàng (Bank Guarantee) phát hành bởi Ngân Hàng Hàng Hải Việt Nam. Tờ Bảo Lãnh trị giá tiền mặt (Face Value) là USD.300’000’000.-, trong khi đó tôi biết vốn của Ngân Hàng này chưa tới USD.10’000’000.- Tờ Bảo Lãnh được chuyển qua Texas cho một Công ty Mỹ gốc Việt, rồi chuyển qua California. Từ California, tờ Bảo Lãnh được chuyển về Tân Đề Li cho một Công ty Tài chánh Aán độ. Công ty này chuyển sang Geneva cho tôi để nhờ tôi lo liệu đầu tư vào Chương Trình Lợi Nhuận Cao. Việc phát hành này làm tăng Khối Tiền và tất nhiên đưa đến Lạm phát Tiền tệ, nếu chúng ta xử dụng mua bán trong Lãnh vực Kinh tế thực sự.

Lạm phát Tiền tệ

được toàn quyền áp dụng trong CƠ CHẾ

Chính trị độc tài nắm Độc quyền Kinh tế

Như trong phần trên, chúng ta đã thấy việc Lạm phát Tiền tệ do quyết định dộc đoán của một Oâng Tá nắm quyền là hành động ăn cướp Tiền bạc của giới làm Kinh tế lương thiện, nhất của giới lao động bán sức lực mình đổi lấy đồng Tiền thực.

Việc cướp bóc qua Lạm phát Tiền tệ như vậy rất khó thấy cho Dân chúng. Làm thế nào Dân cầm Tiền đã Hội nhập Kinh tế phân biệt được với đồng Tiền mới in ra trái phép do Nhà Nước tung ra. Việc này khó thấy ngay trong một Thề chế có Dân chủ, cho Tự do Báo chí.

Nếu trong một CƠ CHẾ do Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế, lại không cho Tự do Báo Chí, thì làm thế nào mà Dân chúng nhìn thấy những cuộc ăn cướp khổng lồ qua Lạm phát Tiền tệ. Không thể tin lời hứa CSVN không làm Lạm phát Tiền tệ.

Lãnh vực Tiền tệ là Lãnh vực không thể làm việc với lòng tin tưởng. Trai gái yêu nhau, thề nguyền chung sống như hình với bóng, thậm chí thề hứa chết cho nhau. Nhưng khi cưới nhau, thì phải ký giấy Tiền anh, anh tiêu và Tiền em, em tiêu (Séparation des biens) không còn tin nhau nữa.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

http://www.vietnamexodus.org/vne0508/vnenews/bandocviet/nguyenphuclien/ThueVAT10_LamPhatTienTeTaiVN.htm

One Response to “che do suc vat ho chi minh súc vật hồ chí minh: CON MÈO ĐÓI KHÔNG THA MỒI NGỌAI HỐI”


Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: