Căn-Bịnh Trầm-Kha Bất-Trị

Căn-Bịnh Trầm-Kha Bất-Trị – ThanhThủy –

Vấn-đề Kết-hợp để Thống-Nhứt hay Hòa-Hợp Hòa-Giải giữa những đối-tượng hay giữa những tổ-chức với nhau để tạo sức mạnh hầu dễ-dàng đạt được mục-tiêu được vạch ra cho một nhu-cầu nào đó quả thật là điều rất cần-thiết mà ai cũng thừa nhận. Tuy nhiên, những việc rất cần-thiết nầy, không phải kêu gọi suông mà được, vì nó đòi hỏi những điều-kiện mà lòng người rất khó thỏa-mản, trong đó có 3 điều căn-bản tối-thiểu là: Quan-điểm, sự Tương-Quan và Tương-Nhượng.

1.- Quan-Điểm:
Quan-điểm có giống nhau hoặc gần giống nhau thì mới có thể ngồi gần nhau để thảo-luận được. Những người có quan-điểm khác nhau mà ngồi chung bàn thì chỉ có việc cải nhau rồi sanh ra hiềm-khích nhau hơn, nhứt là những người đã có định-kiến thì thường cố-chấp, ít khi chịu nghe những gì trái với định-kiến của họ, cho nên khó lòng mà dùng lý-luận để thuyết-phục. Ví dụ như trong số người Việt ở hải ngoại, những người có lập-trường chống Cộng không thể ngồi cùng bàn để nói chuyện chánh-trị với những người Cộng-sản hoặc những người có chủ-trương hòa-hợp, hòa-giải với Việt-Cộng.

Bởi vậy, trong những đoàn-thể tranh-đấu chống Cộng, khi nào nội-bộ có xuất-hiện những mầm mống đi đêm với Việt-cộng của một số người thì đoàn-thể đó tất nhiên bị phân-hóa. Đây là kinh-nghiệm xương máu vô cùng chua-xót mà chúng ta đã không tránh khỏi từ hơn 20 năm nay, chỉ vì trong hàng-ngủ của chúng ta có lẫn-lộn những hạng người vốn chất-chứa trong dòng máu của họ những con vi-trùng phản-trắc, đón gió trở cờ, cho nên sự-thể mới ra nông-nổi như ngày nay.

Xin lặp lại câu nói nầy để thêm một lần ghi nhớ.

2.- Sự Tương-Quan:
Trong vấn-đề ngồi lại với nhau để thảo-luận chuyện hòa-hợp, hòa-giải, ngoài vấn-đề quan-điểm nói trên thì sự tương-quan lực-lượng giữ đôi bên bao giờ cũng là vấn-đề then-chốt. Trong thời chiến trước năm 1975, nếu tổ-chức bù-nhìn, tay sai Chánh-phủ Lâm-thời Cộng-hòa Miền nam VN của bọn Nguyễn-hữu-Thọ, Huỳnh-tấn-Phát không có quan thầy Việt-cộng đứng đàn sau lưng thì họ làm gì có được sự tương-quan lực-lượng để có thể ngồi nói chuyện với phái-đoàn của Việt-Nam Cộng-Hòa.

Nhấn mạnh điều nầy để cho những kẻ “Ăn Cơm Quốc-Gia Thờ Ma Cộng-sản”, hay nói khác đi là những kẻ “Ăn Cơm Tự-Do Thờ Ma Độc-Tài Khát Máu” hãy tự nhìn lại thân-phận mình xem có được chút tương-quan gì để mưu-cầu hòa-đồng với bạo-quyền Việt-cộng? Trừ khi họ là Cộng-sản nằm vùng thì không còn gì để nói.

Nếu những thành-phần nầy mà không tự hối, u-mê, hám danh, hám lợi, tiếp-tục lao thân vào con đường hòa hợp, hòa-giải với bạo-quyền Việt-cộng thì chẳng khác nào tự-nguyện làm những con thiêu-thân, thấy ánh sáng là cứ lao vào cho bị chết cháy, không cần biết nơi đó chỉ là những cạm-bẫy, những lò thiêu cả linh-hồn lẫn thể-xác mà bạo-quyền dành cho họ. Cứ nhìn lại những trường-hợp như: tên gián-điệp Phạm-Xuân-Ẩn, đại-tá tình-báo Phạm-Ngọc-Thảo, v.v…là những kẻ đã đóng góp cho bạo-quyền Việt-cộng biết bao nhiêu là công-lao, giờ chót họ được đối xử như thế nào?

Tấm gương trước mắt lồng-lộng như thế sao không chịu nhìn, cứ mãi điên-cuồng lao đầu vào con đường “Thờ Ma Cộng-sản” thì rồi đây sẽ không còn đường nào trở lại, và chắc-chắn chẳng những xú-uế đó sẽ không chỉ ở bản-thân họ, mà nó sẽ còn làm vạ lây cho con cháu của họ, không bao giờ dám ngẩn mặt với đời.

Lịch-sử đã cho thấy, người đời sau, chỉ nghe nói đến con cháu nhà Lê để có những hảnh-diện về vua Lê-Lợi, chớ không ái dám nói là con cháu của vua Lê-Chiêu-Thống cả. Người trước làm ô-nhục thì hậu-duệ sẽ mang di-hận có khi đến cả nghìn đời, như con cháu của ông vua Lê-Chiêu-Thống chẳng hạn.

Bạo-quyền Việt-cộng hiện nay chỉ là một bọn gian-manh cầm quyền, để củng-cố địa-vị, chúng đã tình nguyện dâng đất, dâng biển cho ngoại-bang, rước giặc Trung-cộng vào để họ thực-hiện mộng xăm-lăng qua chánh-sách “tầm ăn dâu”, trá hình là khai-thác quặn mỏ nhôm bau-xít ở Cao-Nguyên. Việc làm nầy con cháu của họ sẽ mang di-hận không khác gì con cháu vua Lê-Chiêu-Thống.

Còn riêng đối với những kẻ a-dua, nịnh-bợ, mưu-đồ hòa-hợp, hòa-giải với kẻ thù nước, nhắm mắt chạy theo bạo-quyền để liếm gót, thì họ chẳng khác nào những tội-đồ của dân-tộc, vừa đê-tiện vừa hèn-mạc, vô liêm-sĩ.

3.- Sự Tương-Nhượng:
Giữa người Việt Quốc-Gia và bạo-quyền Cộng-sản dĩ nhiên là không bao giờ có sự tương-nhượng vì một bên vì chánh-nghĩa, tranh-đấu cho tư-do dân-tộc (Người Việt Quốc-Gia) còn một bên là bạo-quyền độc-tài, thống-trị, tham-nhũng tột-độ, bán nước, dâng biển cho ngoại-bang (Bạo-quyền Việt-cộng).

Thông thường, sự tương-nhượng chỉ có thể xãy ra khi giữa hai bên cùng ở chung trong một khuynh-hướng, trong một tổ-chức hay trong một chánh-quyền. Ví dụ, 2 tổ-chức chống-Cộng, hoặc 2 Cộng Đồng Người Việt Quốc-Gia ở hai nơi, có thể tương-nhượng nhau về một số phương-thức điều-hành nào đó để cùng ngồi lại với nhau cho một số công-tác chung, hoặc 2 nhóm người trong một đoàn-thể, trước kia đã tách rời nhau vì một số bất đồng cá-nhân, nay vì việc lợi-ích của công cuộc tranh-đấu chung mà tương-nhượng nhau, gạt bỏ đi những tị-hiềm trước kia để ngồi lại với nhau mà cùng lo việc nước.

Trong nội-bộ đảng Cộng-sản VN, chuyện bất-đồng giữa họ vẫn thường xuyên xãy ra, nhưng họ vẫn tương-nhượng lẫn nhau để còn bám vào nhiều quyền-lợi mà họ đang khai-thác. Trên đời nầy không có nguồn lợi nào to lớn cho bằng nguồn lợi do tài-sản quốc-gia mang tới vì tài-sản quốc-gia là vô-tận, những tài-sản nầy vào tay của nhóm người tham-lam nào thì họ sẽ ngậm cho tới chết.

Chánh-sách của Bạo-quyền Việt-cộng đã qui-định một cách máy-móc và nhanh chóng ở những vùng mà họ chiếm đóng về tài-sản quốc-gia như sau: Tài-sản của nhân-dân, nhưng Nhà nước quản-lý, và Đảng lãnh-đạo.

Như vậy, tài-sản của quốc-gia là tài-sản được chúng qui-định là nằm trọn trong tay của đảng Cộng-sản, vì vậy mà tên đầu sỏ nào cũng tha-hồ vơ-vét và trở thành giàu sụ, điều nầy ai ai cũng biết. Tuy nhiên, sự chia-chác để làm giàu đôi khi không cân bằng do quyền-hành của các nhóm lớn nhỏ khác nhau, cho nên có những bất đồng vì ganh-tỵ, nhưng những bất đồng như thế dễ-dàng có những tương-nhượng trên nền-tảng Đảng Cộng-sản, vì đảng nầy chính là cái-phao mà họ phải bám lấy, rời phao là mất hết quyền lợi, là “tự-sát”.

Một số người vẫn còn u-mê, bảo rằng ngày nay bạo-quyền Việt-cộng đã thay đổi, đã cởi-mở. Nói như thế chẳng khác nào lấy áo cà-sa mặc vào mình một tên cướp rồi bảo rằng hắn là một nhà tu. Thực chất thì tên cướp vẫn là tên cướp, Việt-cộng thì bao giờ cũng vẫn là Việt-cộng, hồi trước thế nào, bây giờ cũng vẫn thế, không bao giờ chấp nhận cho dân được quyền tự-do ngôn-luận, không bao giờ chấp nhận quyền tự-do Tôn-Giáo, không bao giờ chấp nhận đối-lập chánh-trị.

Sự cởi-mở, đổi mới của chúng chỉ là vấn-đề kinh-tế, giống như con cắc-kè bông, đổi màu để thoát hiễm, để mưu lợi khi gặp hoàn-cảnh bất khả-kháng mà thôi.

Thay lời kết
Trong một tổ-chức chánh-trị cũng giống y như vậy, mặc dầu cùng quan-điểm với nhau, nhưng vì tranh giành địa-vị mà tạo ra phân-hóa. Trên căn-bản nầy, nếu thật sự vì lòng yêu nước mà tranh-đấu, họ có thể tương-nhượng với nhau một cách dễ-dàng, nhưng vì quyền-lợi thực-tế mà bạo-quyền đã hứa còn xa-vời, chưa có gì để chia-chác nhau, riêng địa-vị thì chỉ có một, cho nên sự tranh-giành đôi khi còn khốc-liệt đến nổi xem nhau như kẻ thù, cho nên không dễ gì có sự tương-nhượng để cùng ngồi lại với nhau. Điều nầy đã diễn ra từ bấy lâu nay, nó như một chứng bịnh trầm kha, không biết đến bao giờ mới chấm dứt?

Việc nước đối với những hạng người nầy chỉ là thứ yếu, không đáng kễ, còn quyền-lợi cá-nhân, bè-phái thì đã lên tới đỉnh đầu, cho nên, họ vẫn phải bám cái phao đoàn-thể để cứu tử. Nhưng vì chủ-trương của đoàn-thể là Chống Cộng, cho nên, mặc dầu vẫn nhân danh đoàn-thể, nhưng việc tuyên-bố không hòa-hợp, hòa-giải với Cộng-sản, họ không bao giờ dám lên tiếng một cách chánh-thức, bất-đắc-dĩ, họ chỉ tuyên-bố miệng lẻ-tẻ những nơi mà họ đến và bị đồng-bào đặt câu hỏi mà thôi. Đó là chưa kễ những thành-phần Cộng-sản nằm vùng bên cạnh họ, lúc nào cũng thọc gậy bánh xe, tạo nên những hỏa mù để làm đổ vỡ những tổ-chức chống lại chúng.

Thiết nghĩ, để cho mình mắc lừa những thành-phần nầy, dù là vô-tình hay hữu-ý, cũng đều nhục-nhã như nhau, chẳng những khó gội rữa được mà còn là một điều đáng tiếc!

Thanh-Thủy (29/03/2009)

http://tinparis.net/vn_index.html


hồ chí minh súc vật, nông đức mạnh súc vật, nguyễn tấn dũng súc vật, nguyễn minh triết súc vật, dcsvn súc vật, ditmecodosaovang, ditmehochiminh, ditmenongducmanh, ditmenguyentandung, ditmenguyenminhtriet, dadaocongsan, latdocongsan, tieudietcongsan, hochiminhsucvat, sucvathochiminh, sucvatnongducmanh, sucvatnguyentandung, sucvatnguyenminhtriet, dadaovietcong, iavaomathochiminh, iavaomatnongducmanh, iavaomatnguyentandung, iavaomatnguyenminhtriet, súc vật lê khả phiêu, lê khả phiêu súc vật, suc vat le kha phieu, le kha phieu suc vat , lekhaphieu, suc vat vo nguyen giap, sucvatvonguyengiap, vonguyengiapsucvat, súc vật võ nguyên giáp, võ nguyên giáp súc vật, ditmevonguyengiap, iavaomatvonguyengiap

Advertisements

CƯỜNG HÀO ÁC BÁ PHẬT GIÁO TÂY ÚC: LÊ TẤN KIẾT, LẠM DỤNG LÒNG TỪ THIỆN ĐỂ BẮT CHẸT PHỤ NỮ PHỤC VỤ" SINH LÝ"

CƯỜNG HÀO ÁC BÁ PHẬT GIÁO TÂY ÚC: LÊ TẤN KIẾT, LẠM DỤNG LÒNG TỪ THIỆN ĐỂ BẮT CHẸT PHỤ NỮ PHỤC VỤ” SINH LÝ”. – TRƯƠNG MINH HÒA –

” Chánh Giác hay là chánh giặc đây?
Chùa nầy ăn mặn lẫn ăn chay.
Trụ Trù MỘT lão, đầu không cạo.
Ăn nói huênh hoang, chuyện gió mây.
Nội cung nghi ngút nhang và thuốc.
Thoang thoảng mùi hương, lợn dã cầy.
Bá tánh xa gần nên lưu ý.
Thiền môn đa dạng hóa kinh tài.”

( Bài thơ của một tác giả vô danh, phổ biến trong cộng đồng người Việt Tự Do Tây Úc).

Ở tiểu bang viễn Tây nước Úc Đại Lợi, với dân số người Việt chừng 14 ngàn; ai cũng biết chùa Chánh Giác, tọa lại ở số 45, Money St, Northbridge, tại trung tâm phố, là tài sản đáng giá nhiều triệu Úc Kim, là sự thành đạt của Phật Giáo của những kẻ” mượn đạo tạo tiền” với chủ trương trước sau như một” dù chuông có thể bể, mõ có thể rè, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” trong việc phát triển cơ sở chùa, tượng Phật, rình rang lễ hội, vía, bán cơm chay, có chùa còn có sáng kiến tổ chức” thi hoa hậu áo dài” và dịp tết âm lịch, để cho sư ngắm, hầu” thanh tâm trường khoái lạc” mà tu mau, gicá ngộ sớm, hầu đạt tới” đạo tu” hoặc” tu đạo”…..nhưng cái ” tâm thì cần hỏi lại và cần chứng minh”, do ngày nay đạo pháp ngả nghiêng theo dòng đời, khi ma quái, quỷ đỏ vô thần lộng hành, xâm nhập vào thiền môn, hư hư thật thật nào dễ phân biệt, nên lắm kẻ” lạy ma quái đến mỏi cả chân tay, sói đầu, mà tưởng là Phật”, mang tiền đóng góp cho kẻ xấu núp bóng Phật đài mà tin tưởng” vun bồi công đức”, được những kẻ tu giả tuyên truyền qua việc lạm dụng thuyết luân hồi nhân quả để lừa đảo, nên nhiều Phật tử mù quáng coi việc cúng dường, công quả, phục vụ cho tang ni là:” đầu tư công đức cho kiếp sau”, thế nên nhiều TIỆM PHẬT vẫn tồn tại, phát triển trong cảnh” chùa to, tượng Phật lớn”.

Vị trụ trì ngôi chùa CHÁNH GIÁC nầy, không phải là sư, mà là một người bình thường, tên là Lê Tấn Kiết, lấy pháp danh ĐẠI HỶ, được dân ở đây nói lái cho vui, theo văn hóa bình dân học vụ là ĐĨ HẠI. Cũng giống như Hồ Chí Minh, lúc mới 57 tuổi, tự xưng là:”cha già dân tộc” và đạt danh hiệu BÁC HỒ, thì ông Lê Tấn Kiết, cũng với tuổi đời gần như vậy, vào thời đó, cũng đạt danh hiệu BÁC MỘT, nên hầu như từ già đến trẻ đều gọi là Bác Một tự nhiên” như người Hà Lội”, nên bác Một trở thành bậc trưởng thượng. Theo một số người hiểu rỏ” sơ yếu lý lịch” thì gọi là” ông Mười Một”, quê ở Vĩnh Bình, một người có trình độ văn hóa cao cấp, nếu không tốt nghiệp” cao đảng sơ học” cũng là” đại học sơ cấp trường làng”.

Vào năm 1984, tờ báo Chuông Saigon, cơ quan ngôn luận đầu tiên ở Úc Châu, do Chu Văn Hợp chủ trương, có đăng một bài viết của một người tên Tuấn, là thư ký riêng của một tay có máu mặt sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tố cáo một người ở Tây Úc, làm chức” Trưởng Ban Lương Thực Thành Phố Hồ Chí Minh”. Riêng tại Tây Úc, theo nguồn tin của một số cư dân đầu tiên, thì vào năm 1982, bác có bí mật mở cuộc”thảo luận” với một số cán ngố kinh tài Việt Cộng, trên lầu tại nhà hàng Kim Anh, nên một số người tỵ nạn thuộc nhóm của H..Râu tới bao vây, nhưng phái đoàn nhanh chân tẩu thoát, rồi gặp bác tại cầu thang, bác tung tin giả là:” tụi Việt Cộng đến nhà thằng luật sư Quỳnh ở Girrawheen”…số anh em nầy tưởng thiệt bèn mò tới nhà rình, đến sáng thì không thấy gì, sau dó mới biết bác tung hỏa mù để lừa, bị trúng quỷ kế. Là CƯ SĨ nhưng bác Một” thành công hơn KỶ SƯ rất nhiều, không lao động mà lại” vinh quang” cứ ngồi không, ê a kinh kệ, dựng chùa, tượng Phật là:

” Tiền vô như nước sông Đà.
Tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin”.

Chùa Chánh Giác là tự viện đầu tiên ở vùng Tây Úc, vì” Bác Một” là những người” vượt biển” sớm nhất, khi mới thành lập chùa, Bác tuyên bố với nhiều người, câu nầy trở thành” châm ngôn” cho những kẻ THAY MƯỢN thiền môn làm THƯƠNG MẠI, thành công rực rở trong việc biến CHÙA PHẬT thành TIỆM PHẬT:” Một các chùa bằng ba cái shop”, cũng như câu ca dao của đám hậu duệ” Lưu Hương Đạo Soái” trong chuyện kiếm hiệp Trung Hoa:

” Con ơi học lấy nghề cha.
Một năm ăn trộm, bằng ba năm làm”.

Đối với những người có tâm” buôn Phật, bán Bồ Tát” thì:

” Kinh doanh lời nhất cất chùa.
Tiền vô như nước, lại vừa danh thơm”

Nhờ nhiều Tam Tạng thời đại đóng góp, cúng dường, công quả, sau nầy thì TÁ HỎA tam tinh, nên ngôi Chánh Giác đi đúng như câu” cửa chùa từ không đến có” hay là theo những vị CHÁN TU chủ trương:” Phật giáo vùng lên để cất chùa”, như câu:” cách mạng vùng lên để đổi đời”. Từ ngôi nhà mướn, sau thời gian” trụ trì” thu tiền, nay chùa do” bá tánh đóng góp, bác Một quản lý và lãnh đạo” thật là:” Từ tượng Phật ta trưng ra, chùa xây lớn gấp mười lần qua”.

Những” sáng lập viên” của chùa Chánh Giác là vài người đến cùng thời, mà theo những chuyện vui ở trại tỵ nạn, khi khai với cao ủy, với nghề nghiệp” DANH CA”, do đánh máy không bỏ dấu, nên lầm tưởng là” CA SĨ”; tuy nhiên, những người” ngư ông và biển cả” đến Úc rất sớm bằng tàu đánh thẳng vào lục địa nầy, có” tâm đạo” nên” tạo đâm”, như gia đình ông Trần Mét ( người binh dân học vụ gọi là ông CHẰN MÉT) với đám con cháu gồm: Năm Cọp, Tư Beo, Nam Nhật, Hai Ù…..làm hậu thuẫn vô cùng” vững chắc như thành đồng LA HÁN”, như” thần Hộ Pháp tại thế”, vận động tài chánh, lấy danh nghĩa Phật, chớ những người nầy làm sao có thể nói cho người khác nghe, chỉ có mượn danh Phật thôi, nên lúc đó, khi đến chùa, thấy những khung trồng bông được đóng bằng” chay bia”, trông rất ư là” thanh tâm trường ăn nhậu”, là nét đặc thù của ngôi chùa Phật đầu tiên tại đây, rất ư là phù hợp với phong trào” bảo vệ môi sinh” tức là có sáng kiến dùng chai bia để” recycle” thành khuôn trồng hoa, là” ăn nhậu đa văn hóa” trong giới lưu linh.

Theo nguồn tin đồn, thì thỉnh thoảng, các” LỔ TRÍ THÂM” thời đại hay là con cháu sư TẾ ĐIÊN, nơi nầy có bắt vài con chó đi lạc, bị biến thành những món” dã cầy”, mà trong nước được gọi là” cẩu tặc”. Công việc làm ăn khắm khá, thì từ năm 1983, đại đức Thích Phước Nhơn ( tục danh Tô Định Phương) sang, hai bên tranh chấp chức hội trưởng Phật Giáo, thườnh dùng các buổi” thuyết pháp” để chửi, bôi nhọ nhau bằng nhiều hình thức từ tuyên truyền xám đến công khai sử dụng” khẩu quyền” lẫn lộn trong kinh Phật một cách” sáng tạo tài tình” hòa hợp hòa giải giữa văn đạo và văn đời. Rồi” luật cùng tất biến”, một số chức sắc cao cấp gọi là” Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Tại Úc Đại Lợi” đã thân chinh từ miền Đông sang miền Tây, trong đó có huề thượng Thích Như Huệ, đến hổ trợ cho đại đức Thích Phước Nhơn, đem” bàn thờ Phật xuống đường” như cảnh cũ 1966 ở Việt Nam, lúc thượng tọa Thích Trí Quang làm loạn, có khi đem bàn thờ Phật” an vị” trên đống rác; lần nầy ở hải ngoại, bàn thờ Phật được” ăn vị” bên lề đường, ngả ba, trước mặt là” ĐỘNG NÀNG TIÊN TÓC VÀNG”, thật là” bồng lai tiên cảnh, ai có bạc hảy vô đây, để tìm đường lên Niết Bàn” như sư Thích Nguyên Trực, cao tăng giáo hội tiếm danh Úc Châu, chỉ với 40 Úc Kim mà gần đạt Chân Như, mới thấp thoáng nhìn thấy cổng Niết Bàn, vừa toan bước vào, là bị” thiên lôi cảnh sát Úc” vớt và nơi” đài nguyệt cảnh tòa án” bị gõ búa với 12 tháng tù treo. Sau khi làm” thủ tục hành chánh” theo kinh kệ, thì những vị cao tăng nầy bèn dời Phật tới khu North Perth, ở đường Albert, mướn một nơi làm chùa, đó là chùa Phổ Quang sau nầy, sau cùng dời về vùng Wanneroo, trở thành ngôi Phổ Quang Thiền Viện” hoành tráng”, nên ở Tây Úc có hai câu thơ phổ biến:

” Chùa Chánh Giác, vì ai tan nát.?
Chùa Phổ Quang, lắm kẻ dọc ngang”

Rồi từ đó, hai bên” tranh nhau” từ tín đồ, lễ hội và đương nhiên là chúa Chánh Giác do trụ trì là” CƯ SĨ” giàu hơn KỶ SƯ rất nhiều. So với ngành nghề như Kỷ Sư, thì” cư sĩ” như bác, không lao động mà lại vinh quang, ở không mà” huy hoàng” nên từ ngày bác qua Úc định cư, lập chùa, tích sản lớn dần” như có bác trong thiền môn, Phật Pháp”, nay có cả bạc triệu với ngôi tự viện, là cũng nhờ vào” công đức” của bá tánh đến” thi đua” đóng góp từ cúng dường đến công quả.

” Ai tu sĩ, tay không nên tự viện.
Ai giả tu mà chẳng kiếm bạc bao giờ?
Dậy mà đi, dậy mà đi…
Cúng dường hởi Phật tử ơi!”

Hay là:

” Nước lã mà quất nên hồ.
Tay không tu viện thật GỒ mới hay”

Nhờ có một số Phật tử Tam Tạng thời đại hết lòng” hỷ xã” với tâm” bồ tát”, nên uy tín” bác Một” tăng dần, bác trở thành” lãnh đạo tinh thần” mà không cần phải học hỏi, dấn thân, là chức” lãnh đại tự biên tự diễn, không người lái” nhưng cũng” không có nhiệm kỳ”, nên trong các cuộc lễ, được giới thiệu như là nhân vật quan trọng” thân hào nhân sĩ”, rồi được các hội đoàn tín nhiệm, trở thành” ủy ban vận động bầu cử” cho cộng đồng người Việt Tự Do Tây Úc hàng chục năm, nên lời bác nói đều có giá trị và được một số Phật Tử” trọng Phật Kinh Tăng” vây quanh, tâng bốc với niềm tự hào của bác:” thế gian là Phật sắp thành” dù bác ăn chay, mặn lẫn lộn tùy ý. Bác Một nói năng thật ligic, chẳng khác nào thứ” đỉnh cao trí tuệ” sau năm 1975, ra thành tiếp thu miền Nam, điển hình như bác nói” điện thoại” thành” ĐIỆN THẠI”, đoàn kết thành ĐÀN KẾT, mâu thuẫn thành MÂU THỬN, báo Việt Luận thành VIỆT LỰN….. nhưng trong các cuộc họp cộng đồng, bác tuyên bố:” Bác nói với thằng thủ hiến, thằng bộ trưởng…tụi nó nghe bác lắm!”, Bác gọi những chính trị gia Úc, dù làm lớn như tới đâu, cùng là NÓ, cũng giống như tiếng Anh” YOU, ME” hay tiếng Pháp” Toi, Moi”…đúng là” hội nhập lẹ vào đời sống đa văn hóa”.

Những bài” tham luận” của Bác thường được” ứng khẩu” với những từ ngữ trong văn chương” con cá gô, bỏ trong cái gổ, nhảy nghe gồ gồ..) tại các cuộc lễ cộng đồng như tết âm lịch tại hội chợ, tết trung thu….ngay các hội đoàn như Làng Văn Hóa Việt Tây Úc, là nơi văn hóa đấy, nhưng khi bác tham dự, có đóng góp tài chánh, thường cũng được làng có lên” phát biểu” như một” đỉnh cao trí tuệ” sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nếu bác ngồi theo” kiểu nước lụt” là người Việt ở Tây Úc tưởng đâu mình đang sống vào thời kỳ” đổi tiền” tại Việt Nam vậy. Tình trạng” lãnh đạo ngang hông”, nói năng như vậy, mà lại tồn tại hàng hơn 20 năm tại Tây Úc mới là chuyện” bất bình thường”; lý do là nhờ một số Phật tử hậu thuẫn, bác cũng” láu cá” vặt, biết dùng tiền bá tánh đóng góp để” recycle” cho các hội đoàn, nên trở thành” mạnh thường quân” hào sảng, nên được lòng những tổ chức, những chủ tịch hội, đại diện nhóm…bác đúng là”Nhạc Bất Quần thời đại”. Tài chánh là quan trọng, nhưng không phải vì cần tiền hoạt động mà lại bợ, bưng những người không ra gì làm” thần tượng”. Nói mỉa mai là: tập thể người Việt tự do Tây Úc đã sinh hoạt y như” xã hội chủ nghĩa trong nước” ngay tai nước dân chủ, nếu có ai phê phán, không đồng ý, thì bác được những người từng được bác bố thí, hiến tặng binh vực hết mình, chính họ là những người dung dưỡng những điều” trái tai gai mắt” hàng hơn hai thập niên kể từ” khi có bác với nên ngôi chùa Chánh Giác”; do đó, những ai đã từng” bưng, bợ bác” từ lâu nay, có nhục không?.

Còn tiếng Việt trong sáng, bác thường dùng tiếng ĐAN MẠCH để” truyền giảng đạo pháp” ngay trong lúc nói chuyện; điều nầy cũng từng xảy ra ở Việt Nam, tại tỉnh Cà Mau, năm 1973 có đại đức Thích Nhật Quang ( nay trụ trì chùa Ấn Quang), là sư mở miệng ra là” niệm hai chữ” Đ.M” chớ không” Nam Mô A Di Đà Phật”. Được biết bác nói và viết tiếng Việt không rành, nhưng lại nói với người Úc, chính phủ Úc, toàn là mấy ông lớn nghe, cũng là nhờ chung quanh có nhiều kẻ mù quáng, ham lợi và những” quân sư quạt máy” vấn kế. Măt khác cũng rất quan trọng nhưng đau lòng là: Nhờ một số” phật tử” có học tạo dùm uy tín cho bác, qua sự giới thiệu bác với chính quyền, nên bộ mặt của Bác được chính phủ Tây Úc coi là” đại diện cho người Việt” thế mới nguy to. Cũng nhờ những” trí thức Phật giáo” dưới trướng hết lòng cút cung tận tận, đánh bóng, nên bác được chính phủ tài trợ một số tiền tu bổ chùa ( nghe đâu cũng vào ba trăm ngàn Úc Kim) trong chương trình đa văn sự vụ, năm 2007, bác còn được ai đó” đánh bóng” và được gắng huy chương của chính phủ Úc, bác mừng lắm, có tổ chức tiệc tại sòng bạc Casino ( Burswood) để ăn mừng thành công rực rở nầy ( nghe đâu tiệc nầy cũng có người mang tiền đến cùng dường cho bác để chia vui và vinh danh một nhân vật có công rất lớn đóng góp cho cộng đồng, làm từ thiện?)

Từ một tay ngang, ít học, không rành chữ Việt, nên kinh kệ chắc cũng là” mù tịt” như cõi vô minh, thế mà nhờ bác biết khai thác câu” Trọng Phật kính tăng”, đứng ra thành lập chùa, từ mướn sau mua, nhờ bá tánh” u mù” đóng góp cúng dường, công quả để” vung bồi tài sản của bác Một” chớ nào phải:”vun bồi công đức”. Nhờ tiền cúng dường, bác áp dụng chiêu:” mượn đầu heo nấu cháo”, dùng tiền đó với nhiều mục đích: phát triển chùa, đem một số tiền cho các hội đoàn, dùng làm từ thiện….tiền bá tánh nhưng được bác xài và công đức là thuộc về bác. Cho nên, với SÁCH LƯỢC nầy, bác đã XƯỢC-LÁCH lâu năm, trở thành nhân vật uy tín, bào trùm quyền lực cộng đồng, vì có một số thọ ơn bác mà ủng hộ. Nhìn cách hoạt động của Bác, người hiểu chuyện, có chút sáng suốt, suy tư bình thường cảm thấy là: Bác chỉ dùng tượng Phật, đặt bên cạnh là thùng Phước Sương, thu tiền vào và chi ra theo cảm tính để hưởng lợi, có khi dùng tiền đó để khuynh đảo các hội đoàn. Thời gian sau nầy, bác còn khai thác thêm” dịch vụ ma chay” là tụng kinh cho đám ma, qui tụ một số” chuyên gia đọc kinh” có thù lao. Không biết bác có rành kinh sách mà đọc kinh, nhiều khi lấy không trúng kinh, đọc, khiến linh hồn người quá cố lanh quanh” nơi miền cực lạc” mà không được giấy phép” đăng ký” với Nam Tào Bắc Đẩu; cũng như nộp đơn xin xây nhà mà lại đi nhằm cơ quan cảnh sát vậy.

Trong những hoạt động” xây dựng cộng đồng, giúp đỡ người Việt đồng hương” mà Bác hay khoe khoan về” thành tích” và được một số Phật tử hùa theo, dù ít biết chữ, có học cao như tiến sĩ Bình An Sơn ( du học Colombo trước 1975) bác kêu một tiếng là dạ rân và chạy quýnh đít ( Bình An Sơn thỉnh thoảng có viết bài trên Giao Điểm), được một số” lãnh tụ” Mặt Trận, phục quốc….bưng bợ khá kỷ và” bảo vệ uy thế bác như con ngươi trong tròng mắt”, nên bác trở thành một thứ” lãnh đạo tinh thần” có quyền lực bao trùm trong cộng đồng địa phương, lại thêm cái cơ quan truyền thông là hệ thống SBS radio do Lưu Tường Quang thành lập với trưởng đài Quốc Việt ở Melbourne và Ngọc Hân ở Sydney, thỉnh thoảng đưa lên làn sóng” tàn quốc”, nên tên tuổi bác nổi như cồn qua công tác từ thiện, lãnh đạo” chùa”, phục vụ cộng đồng….Có lần, bác hứng thú nói với một số người đến chùa, để tự ca công đức vang dội từ nước ngoài đến trong nước, bác nói:” Khi bác chết, hổng chừng ở trong nước làm LỄ TRUY ĐIỆU” ( người viết bài nầy, có mặt với ông cựu cảnh sát viên quận Cầu Kè, sui gia với ông An La, nghe bác nói mà giựt mình). Nhiều người Việt tỵ nạn ở Úc Châu cảm tưởng như đang sống trong” thiên đàng xã hội chủ nghĩa” khi tham gia, tham dự các sinh hoạt cộng đồng như các cuộc lễ hội Tết, Trung Thu…bác thường trở thành” khách danh dự” lãnh đạo tinh thần chùa Chánh Giác, đương nhiên là ngồi hàng ghế đầu cũng với quan khách Úc, đại diện các đoàn thể, bác được” xướng ngôn viên” trân trọng xướng danh và thỉnh thoảng còn mời bác lên” phát biểu” rất ư là” văn chương văn minh miệt vườn, văn hóa ao hồ sông rạch, rau muống đồng..” với những từ như” thưa TÀN THỂ quí vị, sinh QUẠT cộng đồng, DI NHẤT ( duy nhất..), ĐÀN KẾT (đoàn kết)… Qua lối nói chuyện của bác, người ta có cảm tưởng như đang sống lại thời kỳ” cách mạng” trong nước sau 1975, với câu ca dao:

” Năm đồng đổi lấy năm xu.
Thằng khôn học tập, thằng ngu day đời”.

Tình trạng nầy kéo dài hàng hơn hai thập niên, kể từ” khi có bác trong tham gia cộng đồng”, vậy mà nhiều tay” lãnh đạo hội đoàn, kháng chiến, phục quốc, có học cao, bằng kỷ sư, tiến sĩ, luật sư, kể cả một vài cựu quân nhân quân lực VNCH” cứ bợ bác, ù ù khạc khạc, ngay cả khách phương xa như ông nghị Nguyễn Sang từ Melbourne, luật sư Lưu Tường Quang, cô Nguyễn Thị Quỳnh Mai ở Hoa kỳ…. đến” tham quan” bác, nên các cộng đồng Tây Úc vẫn dậm chân tại chỗ và ngày nay suy yếu. Sau đây là vài hoạt động nổi bật của bác trong việc xây dựng và phục vụ cộng đồng:

-Nổi bật trong biến động ở Tây Úc là vụ tên huề thượng quốc doanh Thích Thanh Từ: được nhóm tổ chức gồm ba ông: Bình ( Bình An Sơn, tiến sĩ du học Colombo), Ông A ( một Phật tử thuần thành, người trúng số độc đắc 4, 5 triệu Úc Kim), Chấp ( một cư sĩ Phật Giáo). Theo thông cáo thì huề thượng Thanh Từ thuyết pháp tại 3 chùa là Chánh Giác, Quan Âm Ni Tự và chùa Pháp Giới của Úc ( do Bình An Sơn trung gian?), trong thời gian từ ngày 3 đến 7 tháng 12 năm 1996. Nhằm chuẩn bị cho chuyến” vừa thuyết pháp ru ngủ, gây phân hóa, thu tiền và hạ cờ vàng ba sọc đỏ”, nên ngày 2 tháng 12 năm 1996, phái đoàn đại diện cho Thanh Từ gồm: ông A, Diện và một người tên Thảo ở Melbourne sang, lúc 11 giờ sáng đến chùa Chánh Giác gặp bác để điều đình, đòi hạ cờ vàng trên bàn thờ; lúc đó có mặt ông Phùng ( biệt kích dù 81), ông Giao ( tín đồ Hoa Hảo) nên bác hổng dám hạ cờ. Do đó kế hoạch thuyết phát rút ngắn và Thanh Từ đành trở về Việt Nam để học tập lại, tuy nhiên, liên tiếp trong các hội chô tết từ 1997, 1998, 1999, nơi gian hàng của chùa Chánh Giác, có phổ biến kinh sách, băng thuyết pháp của Thích Thanh Từ.

Điều nầy làm cho mọi người giựt mình, vì biết bác” nói một đàng, làm một nẻo”. Sau vụ hạ cờ đó, nguyệt san Ngôn Luận ( bác gọi là NGÔN LỰN) cơ quan truyền thông của cộng đồng người Việt Tự Do Tây Úc, nhiệm kỳ bà Thể Vân là nữ chủ tịch đầu tiên ở đây, người viết bài nầy là người thành lập tờ báo, là trưởng ban báo chí cộng đồng, có đăng tin hạ cờ, sau khi báo phát hành, thì bác Một gọi” điện thại” tới nhà chủ bút và bảo rằng:” cháu đánh chết mẹ nó đi, cháu đăng luôn trên tờ Việt Lựn…”. Người viết không có ý kiến, vì đây là nhiệm vụ bảo vệ cờ vàng, lập trường chính trị, vạch mặt chỉ tên những kẻ tiếp tay cho giặc Cộng. Độ một tháng sau, bác Một” điện thại” tới nói:” cháu gở dùm thằng A..”. Tôi đáp:” báo nầy đã đăng, thì không thể nói lại, làm mất uy tín tờ báo cộng đồng”, nhưng bác cứ nói hoài, cuối cùng, hỏi lý do, thì bác nói thẳng:” THẰNG A LÀ CON NAI MẬP”. Thì ra là lúc trước, ông A trúng số chưa chi tiền” cúng dường và vun bồi công đức” cho bác, nên bác không” đại hỷ” bèn tìm cách hạ cho bằng được; nhưng sau khi đưa tiền cho bác, thì bác muốn gở cho” Phật tử biết điều”.

-Vào tháng 6 năm 1998, nhiệm kỳ bà Thể Vân sắp hết, nên bác là” chủ tịch ủy ban vận động bầu cử” trường kỳ, có nhiệm vụ mời người ra ứng cử và cái chức nầy rất quan trong trong việc sắp xếp nhân sự trong ban chấp hành. Được biết, thời bà Thể Vân, bác cũng” gài” người vào, đó là ông Nguyễn Trí T…làm phó chủ tịch nội vụ ( là chức kiểm soát cộng đồng), chính ông nầy từng đòi” kiểm duyệt tờ nguyệt san Ngôn Luận” nhưng người viết nầy nào để cho những thằng” bá láp” có vợ cưới từ Việt Nam, rất trẻ, làm việc tại chức tại thành Hồ. Nhiều lần, ông T…hống hách trong các cuộc họp cộng đồng và sau nầy phải từ chức. Tờ báo Ngôn Luận phát hành đều đặc tới 21 số trong 2 năm, là nổ lực của các anh em trong ban biên tập, chúng tôi với hai bàn tay trắng, đi vận động tiền và bỏ sức làm, phải vào văn phòng cộng đồng mượn máy computer trong ngày weekend, vì không thể sử dụng trong ngày làm việc; tờ báo bị đánh phá nhiều phía: tờ Phổ Thông của Hoài Nam, tên là Bùi Tấn Chức, khóa 27 võ Bị Đà Lạt ( yểm trợ văn công VC), Từ chùa Chánh Giác ( vì không kiểm soát được) và nhất là cơ sở Mặt Trận, Liên Minh Việt Nam Tự Do (lãnh đạo từ Pháp với Nguyễn Ngọc Đức), nhiều lần áp lực cho đăng những bài viết như” tờ cớ mất trộm của nguyễn Văn Trấn”, đánh bóng Trần Độ, Nguyễn Hộ, Đoàn Viết Hoạt….nhưng ban biên tập cương quyết không làm theo, vì đây là cơ quan ngôn luận của cộng đồng, không để bị ảnh hưởng các đảng phái, nhất là đám Mặt Trận Hoàng Cơ Minh. Một người trong ban biên tập là anh Hùynh Thanh T…với chức tổng thư ký cộng đồng, là người mời tôi ra làm báo, đã bị áp lực nặng nề, anh T…than thở với tôi nhiều lần:” cơ sở Mặt Trận ép tôi: một là chọn tờ báo, hai là chọn tổ chức”; được biết lúc đó, anh T…là bí thư cơ sở Mặt Trận Tây Úc. Anh T…giữ lời hứa, nên tiếp tục làm báo đến hết nhiệm kỳ và sau đó bỏ Mặt Trận luôn.

Trở lại nhiệm kỳ bà Thể Vân, sau khi bà chịu đứng ra làm việc” ăn cơm nhà vác ngà voi”, thành lập xong ban chấp hành nhiệm kỳ 1998-2000, thì trước khi bầu cử, bác Một” điện thại” mời bà đến chùa và sau khi bàn thảo công việc, bác nói với bà rằng:” Cô làm chủ tịch, cô đuổi thằng Hòa ra khỏi cộng đồng”….bà Thể Vân bực mình nên không thèm ra làm việc nữa. Lý do là: tờ báo do tôi chủ trương nhằm phục vụ cộng đồng, chớ không” thuần phục” bất cứ tổ chức nào, báo chủ trương:” Đón gió, nằm vùng, đánh tới cùng”, bác Một không thể biến tờ báo thành công cụ của Chùa và báo chống Cộng mạnh (đây là lý do thầm kín, làm cho cả Mặt Trận Hoàng Cơ Minh và chùa Chánh Giác lo sợ). Bà Thể Vân qua đời ngày 13 tháng 10 năm 2006, người viết bài nầy rất khâm phục bà, xin được kể trước hương linh của một phụ nữ có tấm lòng quốc gia, nhưng bị một kẻ phá làm tan cả kế hoạch.

Theo những dự án mà tôi và bà Thể Vân bàn, là phát triển tờ báo chống Cộng, cơ quan truyền thông, lấy quảng cáo, dùng tiền làm ngân sách cho cộng đồng. Riêng tờ báo, tôi làm đơn xin quỷ Lotto, họ cho 5 ngàn Úc Kim để trang bị máy computer, sau khi thấy có tờ báo phát hành đều đặc một năm; tôi có kế hoạch sẽ xin thêm tiền để trang bị in ấn qua nhiệm kỳ kế tiếp và nếu kế hoạch nầy không bị” kỳ đà cản mũi” thì tờ báo sẽ làm lợi rất nhiều cho cộng đồng, bảo vệ lập trường. Chính những Phật tử” Tam Tạng thời đại” ở Tây Úc đã giúp cho” Bác Một” uy thế, trở thành lãnh đạo tin thần, nên bác tung hoành tại Tây Úc hàng hai chục năm qua. Sau khi mãn nhiệm kỳ, vì công việc chưa xong, nên tôi mang tờ báo ra ngoài làm, đổi tên là Nguyệt San Chính Luận, xuất tiền túi ra làm đến 2003 mới ngưng vì báo kẹt tài chánh ( in 1,6 Úc Kim, bán chỉ 1 đô) nên đọc giả tăng là báo phải dẹp vì không kham nổi chi phí. Tuy nhiên, nơi đây, có vài nguồn tin xuyên tạc, hình như có cả vài quân nhân quân lực VNCH đố kỵ vì tờ báo dám đăng, họ rỉ tai nhau:” báo của thằng Hòa không quảng cáo mà sống đều đều, như vậy là tiền của Việt Cộng đưa”, cho nên sau nầy, tôi không ngạc nhiêu về lá thư” biểu dương” chụp mũ tôi là Việt Cộng được gởi đến hầu hết các tổ chức, hội đoàn…. đau lòng là tờ đó có gởi cho hội quân nhân, nhưng” các chiến hữu” của tôi” im lặng là vàng” không hề lên tiếng binh vực, có khi họ còn đồng tình với lá thư đó, nghe đâu có vài quân nhân ( thân hữu với chùa)” nhất trí” cho tôi là Việt Cộng nằm vùng. Chính lý do đó mà cá nhân tôi không còn hứng thú, tinh thần để sinh hoạt trong hội cựu quân nhân nữa.

-Sau khi bà Thể Vân không làm, thì bác bố trí cho người trẻ lên, dễ sai, đó là luật sư Nguyễn Quốc Duy, luật sư nầy gọi bác Một bằng câu:” Bác Lê Tấn Kiết, NIÊN TRƯỞNG TỐI CAO CỦA CỘNG ĐỒNG”, cầu nầy cũng như” bác hồ vĩ đại”. Một điều khôi hài là câu nói đó của chủ tịch cộng đồng, người trẻ tương lai, lại oang oang trên hệ thống phát thanh SBS toàn quốc, có phải là trò cười cho thiên hạ không?

-Sau thời gian NGHỊCH với đám Phước Huệ qua vụ tranh chấp chùa, chức vụ hội trưởng, thì ngày 14 đến 17 tháng 5 năm 1999, bỗng nhiên huề thượng Thích Phước Huệ ( sau nầy vụ tịnh thất với Diệu Đức, thực tập theo thiền Tiếp Hiện của thiền sư Nhất Vẹm) sang, trong lần” thuyết pháp” đầu tiên, bác Một tán dương rằng:” Huề Thượng Thích Phước Huệ với CÔNG ĐỨC VĨ ĐẠI”. Từ đó, chùa Chánh Giác nằm trong hệ thống” Tiệm Phật Phước Huệ Công Đức Tùm Lun” ở Úc Châu.

-Có thể nói là sau nầy, qua các nhiệm kỳ của luật sư Nguyễn Quốc Duy, chùa Chánh Giác bao trùm cả cộng đồng; theo nguồn tin thì Bác đưa người vào làm nhân viên cộng đồng, là cô Hằng Mai, làm không đúng theo bộ đa văn hóa, nên mất số tiền hàng năm gần 100 ngàn Úc Kim. Rồi năm 2002, sau nhiều năm xin tiền từ các nhiệm kỳ cộng đồng, đến thời chủ tịch Nguyễn Quốc Duy, mới có kết quả: quỷ Lotto cho số tiền 320 ngàn Úc Kim, thế là Bác nhào ra hứng hết công lao, được đài phát thanh Tây Úc với Ngọc Thủy và hệ thống SBS Radio toàn quốc” đánh bóng”, trên các làn sóng, bác oang oang câu:” ĐỒNG TIỀN KHÔN”…rồi thay vì tổ chức trao tiền tại văn phòng cộng đồng, chủ tịch lại mang vào chùa để làm lễ, thật là khó coi và ai cũng hiểu là cộng đồng Tây Úc là:” do người Việt bầu ra, ông luật sư trẻ quản lý, dưới sự lãnh đạo của Niên Trưởng tối cao Bác Một”. Qua vụ nầy, bác tuyên bố mạnh là:” bác phải thực hiện cho cộng đồng có sơ sở trước khi chết”….đúng là công đức vĩ đại và” cảm động… đậy”.

Mới đây, theo tin tức tờ tuần báo Việt Luận, số 2346, ngày 27 tháng 3 năm 2009, nơi trang đầu có đăng tin, tựa đề như sau:” Hoàn cảnh một đứa bé đáng thương, bị cha thiêu sống, hiện đang sống ở Úc”. Nội dung bài viết nầy nói về trường hợp đáng thương của bà Nguyễn Thị Huệ, 40 tuổi, nông dân tại ấp Giồng Nổi, xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, thật là” HỌA VÔ ĐƠN CHÍ” dù bà nầy là dân:” cuốc đất trồng khoai” từ Việt Nam sang:

-Ở Việt Nam thì gặp phải ông chồng tên là Phạm Thanh Niên, rượu chè bê bết, trong lần say chí tử, mất hết lý trí, vào tháng 8 năm 2005, anh ta bắt trói đứa con trai mới 12 tuổi tên là Phạm Trường An Khang và đổ xăng đốt cháy, khiến đứa con bị phỏng nặng, trở thành phế nhân, phần da mặt chảy xệ và dính luôn với da trên ngực, cả phần ngực và rốn đều loang lổ những vết phỏng, nên ăn uống rất khó khăn, phải nhờ bà mẹ giúp đở, dù em khang được đưa điều trị ở bịnh viện Chợ Rẩy, riêng người cha tàn nhẩn bị 9 năm tù . Vì không trị được nên bà Huệ phải nhờ đến các cơ quan từ thiện Tây Phương, may mắn bà được cơ quan Connecting Communities Việt Nam ( CCV) của cô lyn tại Perth, được sự đồng ý của nữ giáo sư Fionna Wood, tại Royal Hospital, khoa chửa trị da, mọi chi phí do bịnh viện nhưng ăn ở thì nhờ người Việt hảo tâm giúp cho. Tại Tây Úc, nhân vật lừng danh nhân đạo là ” Bác” Lê Tấn Kiết, chủ chùa Chánh Giác ra tay” cứu khổ cứu nạn” theo đúng như tinh thần từ bi.

-Tại nước tự do Úc: đáng lẽ bác Lê Tấn Kiết phải thương hại, dành nhiều sự giúp đở để bà Huệ được an tâm nuôi con, chờ chửa trị, nhưng ông chủ chùa bỗng hiện nguyên hình là một” cường hào ác bá Phật Giáo”, bắt bà Huệ làm việc quần quật như” đầy tớ”, nên khi nhân viên Úc đến chùa, luôn thấy bà” công quả” mà không hiểu lý do. Tệ hại hơn và cũng là mối nhục, khi ông Lê Tấn Kiết bắt bà phải” đấm bóp” và phục vụ sinh lý nếu muốn có nơi tá túc để lo cho con. Một người phụ nữ khốn khổ, bà mẹ thương con nên:

” Cũng đành nhắm mắt đưa chân.
Thử xem già dịch nó quần tới đâu?”.

Việc” cường hào ác bá Phật Giáo Lê Tấn Kiết” pháp danh là ĐẠI HỶ làm giống như cảnh thời Tây, cường hào ác bá già dịch ở nông thôn, ỷ giàu, ép tá điền phải gã con gái để trừ nợ; cũng như thời Cộng Sản gây chiến từ 1954 đến 1975, những cán bộ phe cánh, công an địa phương, dùng lương thực, tem phiếu, vài mét vải thô, cái đài ( radio)…. để buộc vợ trẻ của bộ đội đi B phải phục vụ sinh lý, nên nhiều cán binh may mắn trở về, choáng váng khi:

” Bị Bác Hồ lùa đi đánh Mỹ.
Em ở nhà, giữ kỷ nuôi con
Khi đi xẻ dọc Trường Sơn.
Khi về con của công an đầy nhà”.

Giai thoại về gã đại tướng” không người lái” Võ Nguyên Giáp, sau cái gọi là chiến thắng long trời lở đất Điện Biên, hắn muốn lấy cô con gái trẻ là Đặng Thái Thanh, vốn là học trò của mình, bằng cách nhờ Hồ Chí Minh áp lực với cha của cô là Đặng Thái Mai, sau nầy” mối tình ép duyên” sinh ra cậu con trai, đặt tên là Võ Điện Biên.

Vì bị cường háo ác bá làm nhục ngay tại nước tự do, bà Huệ ức lắm, nhưng vì hoàn cảnh mà phải sa vào tay” cư sĩ” Phật Giáo, vốn có tấm lòng” đại bác”, cũng là ĐỒNG HƯƠNG, cùng quê Vĩnh Bình, nhưng là thứ già dịch, đã 98 tuổi mà” thanh tâm trường nắng cực” và để mắt” tham quan từ” ĐƯỜNG HÔNG, khu, đít, …..để mau giác ngộ” trong cái TÂM GIÀ luôn chứa mầm móng TÀ DÂM núp đàng sau bộ vía tu hành, nhân đạo. Nạn nhân đáng thương nầy bị hành hạ một thời gian, cắn rặng chịu đựng, nếu theo sự hiểu lầm Phật Pháp qua câu” trả quả” vì kiếp trước bà nầy có gây” nghiệp báo” thì coi như bị cường hào ác bá, núp bóng từ tâm, làm phước hành hạ xác thân để” kiếp sau được sung sướng”. Bà Huệ được một số người phát giác ra và tìm cách giúp đở trong tinh thần Phật Giáo:” đại hùng, đại lực, đại từ bi” với” diệt gian trừ bạo” nên ngấm ngầm quây phim khi Cường hào ác bá Phật Giáo Lê Tấn Kiết ép buộc bà Huệ cùng hát bài” Bác cùng chúng cháu hành quân” với lúc bác hết xí quách thì cũng dám bắt nạn nhân thực hành bài:” Ngựa Phi Đường Xa”, hoặc bắt nạn nhân phải cùng với hắn” ngồi thiền Tiếp Hiện” theo đúng” 36 pháp môn” thiền của thiền sư Thích Nhất Vẹm, chủ LÀNG MÔN để đạt chân như.

Nhờ khoa học kỷ thuật cao, nếu không thì bác không bao giờ” chịu cha ăn cướp”, nên sau khi” phát hiện” ra màng” kịch lói” được thực hiện thành DVD, kỷ thuật” hiện đại” mà người xem đang tưởng là Bác Một được mời sang Hollywood để đóng phim, nói về bí kíp tình yêu, với:” đường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần sâu”. Trước cái” tình huống cực kỳ bất lợi”, bác Lê Tấn Kiết hoàn toàn” nhất trí” chi trả cho bà Huệ 4 ngàn Úc kim để mua đứt ” tài liệu mật chùa Chánh Giác”, nhưng bà Huệ nào chịu, vì đây là sĩ nhục, không phải vì tiền mà làm, vi quá ức như cảnh” dân oan khiếu kiện” vậy. Do áp lực tâm lý nặng nề, nhục nhả, nên bà Huệ phải cầu cứu các nhân biên cứu trợ Úc để xin” tỵ nạn từ thiện” ở một nơi khác cho an thân, để vào ngày 19 tháng 6 năm 2009 hết hạn cư trú, trở về Việt Nam.

Qua việc nầy, nên mọi người cần cẩn thận trước những kẽ mở miệng ra toàn là nhân đạo, từ bi, làm lánh lánh dữ, gieo công đức…mà hảy lấy câu hát vọng cổ của Úc Trà Ôn trong bài” Tôn Tẩn Giả Điên” có đoạn như sau:” biết đâu những kẻ lừa thầy phản bạn, thường hay giả dạng kẻ nhân từ”. Sự kiện cường hào ác bá Phật Giáo Lê Tấn Kiết, tức là Ông Một, pháp danh ĐẠI HỶ, nhờ đi nước ngoài sớm, dựa vào tượng Phật để trở thành” tư bản Phật Giáo” với” nghiệp chuyên: NGỒI MÁT VỚT CÚNG DƯỜNG”, nay ỷ có tiền, có uy tín, ép buộc phụ nữ từ Việt Nam sang, lợi dụng tình cảnh khó khăn để ép nạn nhân” phục vụ sinh lý” như bọn cán bộ Cộng Sản ép những cô gái trong vùng chúng tạm kiểm soát, phụ nữ miền bắc gia nhập vào hàng ngũ” HỘ LÝ” để vừa có đầy tớ nấu nướng, và có người giải trí mà còn bắt nạn nhân bị hành hạ” cám ơn đồng chí giải phóng”. Nhưng đau lòng là cường hào ác bá nầy lại lộng hành ở một nước tôn trọng nhân quyền như nước Úc, thì quả là coi luật pháp không ra gì.

Do đó, các luật sư gốc Việt ở Úc Châu hay ở các nước trên thế giới, hảy giúp đở dùm nạn nhân là bà Nguyễn Thị Huệ trong việc TRUY TỐ tên cường hào ác bá Phật Giáo” già dịch” bấy lâu nay núp bóng từ bi, khinh khi đạo pháp. Hảy tiếp tay với cảnh sát, với cái dĩa DVD là bằng chứng, cùng lời khai bà Huệ để sáng tỏ công lý. Nếu đọc được bài nầy mà các luật sư gốc Việt lấy câu” thanh tâm trường yên lặng” là coi như đồng lỏa với tội ác”.

Riêng đối với những người Việt tỵ nạn, hảy nhìn thấy cái gương ở Tây Úc để tìm ra những con sâu mọt, đa dạng, núp cả trong tôn giáo. Cường hào ác bá Lê Tấn Kiết mà lập được cơ sở trị giá bạc triệu và uy tín như ngày nay, là nhờ sự tiếp tay của các” Phật tử Tam Tạng” cùng các hội đoàn, khoa bảng….. đưa một người không biết chữ nhiều lên chức sắc” lãnh đạo tinh thần” đại diện cho một giáo hội ở tiểu bang và khuynh đảo các hội đoàn, cộng đồng, chùa Chánh Giác cũng được coi là” ổ” bảo lãnh từ Việt Nam sang, mà chủ chùa lợi dụng tư cách pháp nhân tôn giáo để lãnh những người” đáng nghi ngờ” sang, mà trong đó có thể có cả Việt Cộng và những người bảo lãnh để kiếm chác bằng cách lợi dụng khe hở luật di trí. Cho nên nhân vụ nầy, nếu các luật sư giúp cho bà Huệ, cũng nên cảnh báo với bộ di trú Úc để xem lại những hồ sơ bảo lãnh từ chùa Chánh Giác hàng hơn 2 thập niên qua, mà ông chủ chùa Lê Tấn Kiết là kẻ” giả dạng kẻ nhân từ”, nay thì lộ mặt là người mà huề thượng Thích Phước Huệ, cũng là” cá mè một lứa” qua vụ tịnh thất ở Hoa Kỳ với bà Diệu Đức sốt 15 năm, qua quyết định số 04/83 VHC/VP/QĐ, ký từ năm 1983 có ghi rằng:” Những hành động của ông Lê Tấn Kiết, chứng tỏ đương sự là một con người không có tư cách của một Phật Tử, không giữ được cái hạnh tốt của MỘT CÁN BỘ PHẬT GIÁO theo giáo luật”. Hình như đây là lời nhận xét của một thầy cúng theo tinh thần” Lươn chê lịch” lúc nghịch nhau, nhưng giờ đây cả hai đều là” thanh tâm trường dâm tặc”.

Qua vụ cường hào ác bá Phật Giáo Lê Tấn Kiết, lợi dụng chiêu bài từ thiện để ép buộc một phụ nữ đáng thương, có đứa con tật nguyền, đang cần sự giúp đở, nhưng bất hạnh là lọt vào” ĐỘNG MA VƯƠNG” Chùa Chánh Giác, tài liệu rành rành, với DVD. Tuy nhiên, ông Một là người có nhiều mưu mẹo gian manh, nên tai Tây Úc có những tin đồn từ những người của ông ta, xin được thu thập và nêu lên trong tinh thần thông tin trung thực sau đây:

-Tuần Báo Việt Luận bị mất hút số 2346 tại Tây Úc, nên nhiều người không biết, đó là do bác dùng tiền để mua hết báo. Người Viết cũng từng bị ông Một hốt gần hết báo Chính Luận số tháng 11 năm 1998 khi có đăng bài về Thích Thanh Từ được chùa Chánh Giác phổ biến kinh, băng thuyết pháp trong 3 hội chợ tết. Rồi nguồn tin cho biết, nghe là trò con nít như sau:” Bác Một nhờ luật sư viết thư bảo tờ” Việt Lựn” không được bán báo, nên báo sợ mà không dám làm..”. Được biết, bất cứ chuyện gì về kiện thưa, quan tòa chưa gõ búa là chưa có hiệu lực, như vậy luật sư của Bác chắc phải là ÔNG TRỜI CON ở Úc.

-Nguồn tin đồn rỉ tai cho biết là: bác Một bị gài bẩy, vì bà Huệ cho bác uống thuốc Mê, nên không biết gì. Tuy nhiên sau khi xem cuốn DVD” con đường dâm ta đi”, thì thấy Bác là người” năng nổ” để tận hướng thú” hộ lý” một cách” tích cực” trong” CHỦ ĐỘNG” (đừng nói lái mà mất ý nghĩa). Do đó, với cái tuổi đời 89 mà lại” như tuổi đôi mươi” có thể là do bác tự uống loại THUỐC LẮC hiệu Celius hay Viagra…khi uống vào là” LẮC ĐÍT” lắc nhanh, lắc mạnh, lắc dai…..theo gương chủ địt Hồ Chí Minh dạy đĩ, sống mãi trong sự nghiệp đéo lường, Đ…bậy.

– Có người của Bác còn u mê chửi là: con đó ăn cháo đá bát, bác giúp nó mà còn hại….giống như vụ huề thượng Thích Phước Huệ, báo đăng rành rành, vậy mà tờ Văn Nghệ ( dân gọi là DÂM NGHỆ) do Nguyễn Vi Túy và Hồ Ông chủ trương và tờ Chiêu Dương (dân gọi là tờ CHIẾU GIƯỜNG” của Nhất Giang, hết lòng ngụy biện, qui chụp là” bà Diệu Đức dụ thầy vào đường TU ĐẠO” chứ thầy Phước Huệ cao dầy công đức, bị quỷ ám nên” trả quả” kiếp trước…hể cái gì làm bậy là cứ đổ thừa cho” cái quả từ kiếp trước” là hết tội.

Vụ cường hào ác bá Phật Giáo Lê Tấn Kiết ở Tây Úc là bài học mà các hội đoàn, đoàn thể nên cẩn thận. Chẳng lẽ cán Vẹm như Lê khả Phiêu, Phan Văn Khải….hay người ít học, gốc chăn trâu, đâm thuê chém mướn, cạo đầu, mặt bộ cà sa và lập chùa ở hải ngoại, thì trở thành” lãnh đạo tinh thần”? Đồng tiền cúng dường lầm cho một ngôi chùa, là gieo nghiệp báo, đồng lỏa với kẻ” mượn đạo tạo đời” mà nhóm Phật giáo” Tiệm Phật Về Nguồn” là nơi xuất phát ma quái, nhiễu nhương tại hải ngoại từ bấy lâu nay. Cho nên có một số người sau khi lầm chùa, lộn sư, chán ngán cho là: thà mang tiền cúng Casino, không có đốt nhang, mình thưởng thức thú vui” hao bạc” còn hơn là cúng chùa, nhằm chùa Việt Cộng, tay sai Về Nguồn là coi như đem tiền giúp quỷ phá nhà chay, lam hại đạo Pháp, hoen ố danh Đức Phật, là đồng lỏa với kẻ ác gian; cúng chùa loại nầy, tiền vào túi riêng của quỷ tăng, ma ni…có khi nhờ tiền nầy mà chúng đánh phá, đi chơi bời, du hý….còn cúng Casino thì tiền mình được dùng để: chi cho những người làm, tiền thuế dùng để tu sửa đường, bịnh viện….mà người thua bạc cũng hưởng. Tuy vậy, cờ bạc là bác thằng bần đấy./.

THƠ LÁI ÂM.
CƯ SĨ VÀ KỶ SƯ.
Tại tiểu bang Tây Úc, CƯ SĨ Lê Tấn Kiết, hổn danh” Bác Một”, suốt đời tỵ nạn, không làm việc, chỉ tụng kinh, đốt nhang, dùng tượng Phật để phát huy bề thế; bác không lao động mà là vinh quang, thành công hơn bất cứ kỷ sư.

CƯ SĨ không là gốc KỶ SƯ.
KỶ SƯ thua cả CƯ SĨ ừ….
KỶ SƯ thất nghiệp thành CƯ SĨ.
CƯ SĨ gặp thời, hơn KỶ SƯ.
TẠI GIA đừng tưỏng là TA DẠI.
THÁNH TIÊN tại thế THIÊN TÁNH dù.
KỶ SƯ xuất thế, thành CƯ SĨ.
THẤY ĐỜI khai thác THỜI ĐẤY Sư…

PHỤC DỤ NẠN NHÂN ÉP” PHỤ DỤC”
Tại Tây Úc, cường hào ác bá Phật Giáo Lê Tấn Kiết, lợi dụng từ thiện để ép một phụ nữ từ Việt Nam sang chửa bịnh cho con để” phục vụ sinh lý”, bị bể. Đây là hình thức nô lệ tình dục xảy ra ngay tại nước tự do mà lại tại chùa nữa.

ĐỒNG HƯƠNG từ thiện dỏm ĐƯƠNG HỒNG.
ĐỒNG HƯƠNG sách nhiễu Đít…. ĐƯỜNG HÔNG.
MẠT PHÁP chủ chùa càng MẬP PHÁT.
NGÁO BỊP dâm ô, NGHIỆP BÁO tường.
ÁO BÁC Một nầy, gây ÁC BÁO.
AI LÁT” môn-lề” ÁC LAI đương *
ĐẠI HỶ chơi xong, phao ĐĨ HẠI **
KIẾP NGẠI dâm tà, CÁI NGHIỆP vương.

Ghi chú: * Môn Lề: tức là bên lề thiền môn ( chứ không phải nói lái là MÊ L…). ** ĐẠI HỶ, pháp danh cư sĩ Lê Tấn Kiết, sau khi hành hạ phụ nữ, lại có người phao tin là” con đĩ đó hại bác”.

TRƯƠNG MINH HÒA.
Ngày 02.04.2009

http://tinparis.net/vn_index.html


hồ chí minh súc vật, nông đức mạnh súc vật, nguyễn tấn dũng súc vật, nguyễn minh triết súc vật, dcsvn súc vật, ditmecodosaovang, ditmehochiminh, ditmenongducmanh, ditmenguyentandung, ditmenguyenminhtriet, dadaocongsan, latdocongsan, tieudietcongsan, hochiminhsucvat, sucvathochiminh, sucvatnongducmanh, sucvatnguyentandung, sucvatnguyenminhtriet, dadaovietcong, iavaomathochiminh, iavaomatnongducmanh, iavaomatnguyentandung, iavaomatnguyenminhtriet, súc vật lê khả phiêu, lê khả phiêu súc vật, suc vat le kha phieu, le kha phieu suc vat , lekhaphieu, suc vat vo nguyen giap, sucvatvonguyengiap, vonguyengiapsucvat, súc vật võ nguyên giáp, võ nguyên giáp súc vật, ditmevonguyengiap, iavaomatvonguyengiap

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn: Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn: Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân

Phạm Phong Dinh

Tên tuổi của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã bắt đầu lừng lẫy từ khi ông còn là một sĩ quan cấp Úy phục vụ trong binh chủng Mũ Nâu Biệt Động Quân ở Miền Tây. Các cấp chỉ huy Biệt Động Quân trong thời điểm đầu những năm 1960 đã để ý nhiều đến tân Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn, Trung Đội Trưởng BĐQ, về những hành động quả cảm đến phi thường trong những cuộc giao tranh. Người Trung Đội Trưởng trẻ mới có 22 tuổi đời đã đứng xõng lưng dẫn quân Mũ Nâu xung phong lên đánh những trận long trời trên chiến trường đồng bằng sông Cửu Long. Những chiếc lon mới nở nhanh theo cùng với những chiến thắng. Chỉ trong vòng bốn năm, Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn đã được vinh thăng lên đến cấp bậc Đại Úy và được điều về làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 33 của Sư Đoàn 21 Bộ Binh “Tia Sét Miền Tây”. Lúc đó trên lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật đã nổi lên những khuôn mặt chiến binh dũng mãnh mà đã đƯợc ca tụng là những con mãnh hổ miền Tây, Đại Úy Hồ Ngọc Cẩn có vinh dự nằm trong số năm vị này. Những vị còn lại gồm những tên tuổi như sau:

– Thiếu Tá Nguyễn Văn Huy, Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân.

– Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân.

– Thiếu Tá Lê Văn Dần, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân.

– Thiếu Tá Lê Văn Hưng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 31, SĐ21BB.

– Thiếu Tá Vương Văn Trổ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 33, SĐ21BB.

Thật ra bản danh sách này chỉ có tính cách ước lệ và tượng trưng, đâu phải một Miền Tây rộng bát ngát mà chỉ có vỏn vẹn có năm người hùng. Mỗi người lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa xứng đáng được vinh danh là những anh hùng, vì những đóng góp máu xương quá lớn cho tổ quốc.

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24.3.1938 tại xã Vĩnh Thạnh Vân, Rạch Giá. Thân phụ của ông là một hạ sĩ quan phục vụ trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (danh xưng của quân đội trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm). Đại Tá Cẩn không may sinh ra và lớn lên trong thời buổi chiến tranh, nên khi lên bảy tuổi ông sắp sửa cắp sách đến trường, thì chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, việc học của ông bị gián đoạn. Mãi hai năm sau, tức vào năm 1947 ông mới được đi học lại, sau khi tình hình ở các thành phố trở lại yên tĩnh, quân Việt Minh rút về các chiến khu, quân Pháp chiếm đóng các thành phố. Cậu bé Cẩn học muộn đến những hai năm, khi ông học tiểu học được bốn năm thì thân sinh của cậu quyết định xin cho cậu nhập học Trường Thiếu Sinh Quân Gia Định. Có lẽ vị thân sinh của người đã nhìn thấy được những dấu hiệu, những nảy nở của tinh thần và ý hướng, mà sau này sẽ hướng người vào con đường binh nghiệp, sẽ làm nên những công nghiệp lớn có ích lợi cho đất nước

Cuộc đời đèn sách trễ nải của chàng thiếu niên Hồ Ngọc Cẩn, lúc này đã 17 tuổi, đã ngáng bước đi lên về mặt văn hóa. Theo học quy của Trường Thiếu Sinh Quân, một học sinh ở độ tuổi 17 chưa học xong Đệ Ngũ, sẽ được gửi đi học chuyên môn. Vì vậy chàng thiếu niên Hồ Ngọc Cẩn được trường gửi lên Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức học khóa chuyên môn CC1 Vũ Khí. Trong lớp văn hóa hồi ở Trường TSQ, ông chỉ ở mức trung bình, nhưng sau ba tháng học ở Thủ Đức, chàng trai trẻ lại đậu hạng ưu. Ông được cho học thêm khóa chuyên môn vũ khí bậc nhì CC2. Sau khóa học này ông quyết định đăng vào phục vụ trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, với cấp bậc Binh Nhì. Theo quy chế dành cho các Thiếu Sinh Quân, thì ba tháng sau, Binh Nhì Hồ Ngọc Cẩn sẽ được thăng lên Hạ Sĩ, ba tháng kế tiếp được lên Hạ Sĩ Nhất và ba tháng sau nữa được thăng Trung Sĩ. Trong vòng chín tháng kế tiếp, với khả năng ưu hạng về môn vũ khí, Trung Sĩ Hồ Ngọc Cẩn được chọn làm huấn luyện viên vũ khí cho trường.

Cuộc đời làm huấn luyện của ông những tưởng êm đềm trôi và tài năng quân sự của người sẽ bị mai một trong một ngôi trường khiêm tốn. Nhưng định mệnh đã dành cho người anh hùng một vị trí xứng đáng trong quân đội và những cơ hội thi thố tài năng, mà sau này được mọi người truyền tụng lại như là những huyền thoại, để phục vụ và bảo vệ tổ quốc. Tình hình quân sự ngày càng nghiêm trọng cho một quốc gia non trẻ và một quân đội còn tập tễnh kinh nghiệm chiến đấu, sĩ quan chỉ huy thiếu hụt. Bộ Quốc Phòng quyết định mở các khóa Sĩ Quan Đặc Biệt bắt đầu từ năm 1962 để cung cấp thêm sĩ quan có khả năng cho chiến trường và nâng đỡ những Hạ Sĩ Quan có ước vọng thăng tiến. Một may mắn lớn cho Trung Sĩ Hồ Ngọc Cẩn, mà cũng là may mắn cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Đại Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, một cựu Thiếu Sinh Quân, đã nâng đỡ cho các đàn em TSQ. Những Thiếu Sinh Quân không hội đủ năm năm quân vụ và có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp vẫn được cho đi học Khóa Sĩ Quan Đặc Biệt. Hơn nữa, dường như Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Đại Tướng Lê Văn Tỵ có mật lệnh, các tân Chuẩn Úy xuất thân từ Thiếu Sinh Quân đều được đưa về các binh chủng thiện chiến hay đặc biệt như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Thiết Giáp, Biệt Động Quân, Quân Báo, An Ninh Quân Đội, Lực Lượng Đặc Biệt. Tổng Thống Diệm và Đại Tướng Tỵ cũng không quên gửi những Thiếu Sinh Quân tốt nghiệp Tú Tài vào học các Trường Cao Đẳng Sư Phạm và Y Khoa để có nhân tài phục vụ xã hội và huấn luyện lại cho những thế hệ tuổi trẻ kế tiếp. Đặc biệt nhiều Thiếu Sinh Quân cũng được cho vào học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt để làm nền tảng cho cái xương sống chỉ huy chuyên nghiệp trong hệ thống quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Trung Sĩ Hồ Ngọc Cẩn được cho theo học Khóa 2 Sĩ Quan Hiện Dịch tại Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH, Đồng Đế, Nha Trang. Các tân Chuẩn Úy Đặc Biệt, trong đó có Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn tung cánh đại bàng bay đi khắp bốn phương và sau này đã trở thành những sĩ quan tài giỏi nhất của quân lực, lưu danh quân sử. Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn được thuyên chuyển về Biệt Động Quân Vùng 4 Chiến Thuật Miền Tây, sau một khóa học Rừng Núi Sình Lầy của binh chủng Mũ Nâu. Lúc đó các đại đội BĐQ biệt lập theo lệnh của TT Diệm, đã được cải tổ và sát nhập thành các tiểu đoàn. Khu 42 Chiến Thuật gồm lãnh thổ các tỉnh Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu và An Xuyên, có hai tiểu đoàn BĐQ, mà lại là hai tiểu đoàn lừng lẫy nhất của binh chủng. Đó là Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân “Cọp Ba Đầu Rằn”, và Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân “Cọp Xám”. Chuẩn Úy Hồ Ngọc Cẩn nhận sự vụ lệnh trình diện Tiểu Đoàn 42 BĐQ và làm Trung Đội Trưởng. Khả năng quân sự thiên bẩm, tài chỉ huy và sự chiến đấu hết sức gan dạ của Chuẩn Úy Cẩn, mà đã đem nhiều chiến thắng vang dội về cho TĐ42BĐQ, được thăng cấp đặc cách nhiều lần tại mặt trận, đã nhanh chóng xác nhận Trung Úy tân thăng

Hồ Ngọc Cẩn có khả năng chỉ huy tiểu đoàn. Trung Úy Cẩn được bổ nhiệm làm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 42BĐQ, đặt dưới quyền chỉ huy của một chiến binh lừng lẫy và nhiều huyền thoại không kém gì Trung Úy Hồ Ngọc Cẩn. Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, xuất thân từ Sư Đoàn 21 Bộ Binh, với tác phong chiến đấu dũng cảm làm quân giặc kiêng sợ và thuộc cấp kính phục. Cung cách đánh giặc như vũ bão của Trung Úy Cẩn còn được nhân lên thập bội, khi lời yêu cầu của ông lên cấp chỉ huy xin cho các chiến binh gốc Thiếu Sinh Quân được về chiến đấu chung với ông. Lời yêu cầu này được thỏa mãn một phần, nhưng cũng đủ để cho Trung Úy Cẩn có thêm được sức mạnh cần thiết. Có lần ông tâm sự với một người bạn lý do này: “Một là để dễ sai. Tất cả bọn cựu Thiếu Sinh Quân này đều ra trường sau tôi. Chúng là đàn em, dù tôi không phải là cấp trên của chúng, mà chúng nó lộn xộn, tôi vẫn hèo vào đít chúng nó được. Nay tôi muốn chúng nó về với tôi, để tôi có thể dạy dỗ chúng nó những gì mà quân trường không dạy. Hai là truyền thống của tôi khi ra trận là chết thì chết chứ không lùi. Vì vậy cần phải có một số người giống mình, thì đánh nhau mới đã. Bọn cựu Thiếu Sinh Quân đều như tôi”.

Một câu chuyện dũng cảm và cảm động khác kể về Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 15 Bộ Binh tại mặt trận An Lộc năm 1972. Trong khi quân của Trung Đoàn 15 thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh bị pháo địch nã hàng ngàn quả ghìm đầu xuống trong những hố cá nhân bên đường Quốc Lộ 13 gần thị xã An Lộc, thì binh sĩ trung đoàn ngạc nhiên lẫn cảm kích khi thấy vị Trung Đoàn Trưởng của họ dẫn vài người lính cũng quả cảm như vị chỉ huy điềm tĩnh đi thẳng lưng dưới cơn hỏa pháo cường kích như bão lửa của Sư Đoàn 7 Bắc Việt từ công sự này sang hố chiến đấu kia thăm hỏi chiến sĩ, an ủi các chiến thương và khích lệ tinh thần binh sĩ. Chiến binh Hồ Ngọc Cẩn coi thường cái chết, mà dường như cái chết cũng sợ hãi và tránh xa con người kiệt xuất ấy. Định mệnh sẽ dành cho người một cái chết cao cả nhất, ít nhất cũng chưa phải là trong mùa hè đỏ lửa của năm 1972. Dường như giữa Trung Tá Cẩn và cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí có rất nhiều chất hào hùng quả cảm giống như nhau. Đại Tướng Đỗ Cao Trí thường nói với các phóng viên ngoại quốc đi trong cánh quân của người, khi họ tỏ lòng khâm phục người chiến binh Nhảy Dù ấy đã đứng giơ cao khẩu súng Browning thúc giục binh sĩ tiến lên, giữa những làn đạn đan chéo như vải trấu của địch quân: “Nếu đạn không trúng mình thì mình được tiếng anh hùng, mà nếu đạn có trúng thì mình cũng được tiếng anh hùng luôn”!

Các loại pháo địch từ 122ly đến 130ly, chưa kể đến những loại cối 81ly và các loại súng đại bác không giật 75 ly và 90 ly dội hàng chục ngàn quả lên vị trí của quân ta. Quân Trung Đoàn 15 đánh lên An Lộc dọc theo QL13 từ Tân Khai tiến rất chậm vì đạn pháo giặc. Để tránh bị thiệt hại nặng, Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn đã lệnh cho binh sĩ mỗi người đào một hố nhỏ như những cái “miệng ve” để ẩn trú. Nếu pháo dội trúng cái “miệng ve” nào, thì chỉ một chiến sĩ ở chỗ đó bị tử thương mà thôi. Trong một khoảng chiến tuyến mỗi chiều bề dài 300 thước, có hàng mấy trăm cái hố nhỏ, mấy ngàn quả pháo của cộng quân dội xuống, tính trung bình mỗi mét vuông lãnh vài trái. Nếu tính theo lý thuyết toán học thì mỗi chiến sĩ Trung Đoàn “ăn” từ hai trái lấy lên, và như vậy toàn bộ trung đoàn coi như chết hết. Nhưng thật kỳ diệu, chiến thuật “cò ỉa miệng ve” của quân ta lại cứu sống hàng ngàn sinh mạng chiến sĩ. Dứt cơn pháo địch, chiến sĩ ta nhú đầu lên điểm danh quân số, thì thấy rằng, nhờ ơn trời, rất ít chiến thương. Tuy nhiên khi quân Trung Đoàn 15 tiến quân trên QL13 và giao chiến với quân địch, thì con số thương vong lên rất cao. Có nhiều đại đội trên 100 người, khi tàn cuộc chiến trở về Quân Khu IV chỉ còn khoảng ba chục chiến sĩ.

Ở phía Nam Tân Khai, Sư Đoàn 21 Bộ Binh cũng bị thiệt hại nặng vì pháo, nhiều sĩ quan cao cấp bị tử thương. Trung Đoàn Trưởng của một trung đoàn là Trung Tá Nguyễn Viết Cần và một vị Trung Tá Trung Đoàn Phó của một trung đoàn khác hy sinh vì pháo địch quá ác liệt. Trung Tá Nguyễn Viết Cần chính là bào đệ của cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh. Ông xuất thân từ binh chủng Mũ Đỏ Nhảy Dù, con đường binh nghiệp đang có nhiều triển vọng đi lên thì ông bị liên can trong vụ thuộc cấp ngộ sát hai Quân Cảnh Mỹ tại Sài Gòn. Thiếu Tá Cần bị thuyên chuyển về SĐ 21 BB, ít lâu sau ông thăng Trung Tá và nắm trung đoàn. Cuối cùng thì dòng họ Nguyễn Viết đã cống hiến cho đất nước đến hai người con ưu tú. Theo lời kể lại của Đại Úy Tiến, một vị Tiểu Đoàn Phó của Trung Đoàn 15 Bộ Binh lên An Lộc tham chiến, thì Trung Tá Cẩn đã lệnh cho ông phải đứng lên điều động binh sĩ giữa lúc đạn pháo giặc dội như bão xuống các vị trí Trung Đoàn. Tất cả các vị chỉ huy cao cấp của Trung Đoàn đều phải nêu gương dũng cảm cho thuộc cấp và chiến sĩ, để cùng xông lên giải cứu An Lộc. Vì những chiến công ngoài chiến trường, tính đến năm 1970 thì Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn là chiến sĩ được tưởng thưởng nhiều huy chương nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với 78 chiếc của gồm 1 Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, 25 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, 45 Anh Dũng Bội Tinh với các loại Ngôi Sao, 3 Chiến Thương Bội Tinh và 4 Huy Chương Hoa Kỳ.

Sau khi trở về từ An Lộc, Trung Đoàn 15 Bộ Binh còn tăng viện cho các trung đoàn bạn và Sư Đoàn 7 Bộ Binh đánh những trận long trời ở miền biên giới Việt-Miên, các tỉnh bờ Bắc sông Tiền Giang. Những tổn thất và vết thương còn chưa hồi phục từ chiến trường Miền Đông, lại vỡ toác ra từng mảnh lớn khác. Nhưng có sá gì chuyện tử sinh, làm thân chiến sĩ thì người lính của chúng ta chỉ biết tận lực hiến dâng xương máu cho nền tự do của tổ quốc và cho niềm hạnh phúc của dân tộc. Một lần nữa, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn được trao cho một chức vụ trọng yếu và hết sức khó khăn, khó có ai đảm đương nổi. Ông sẽ đi trấn nhậm tỉnh Chương Thiện, một tỉnh có địa hình phức tạp nhất vùng đồng lầy Miền Tây, với cái gai nhọn nhức nhối mật khu U Minh Thượng trong lãnh thổ, từ đó quân Bắc Việt và Việt Cộng phóng ra những cuộc đánh phá lớn, uy hiếp các quận xã hẻo lánh. Chọn Đại Tá Cẩn về trấn giữ tỉnh Chương Thiện, vị Tư Lệnh Quân Đoàn IV biết chắc Đại Tá Cẩn cùng với lực lượng Địa Phương Quân-Nghĩa Quân thiện chiến của ông sẽ ít nhất hóa giải được áp lực giặc, không cho chúng tiến xuống Cần Thơ. Giữ vững được Chương Thiện tức là bảo đảm an toàn cho lãnh thổ Quân Khu IV ở bờ Nam sông Hậu Giang.

Trong thời gian Đại Tá Cẩn làm tỉnh trưởng Chương Thiện, nhiều huyền thoại khác về ông đã được kể lại. Đại Tá Cẩn chẳng những là một nhà quân sự xuất chúng, mà còn là một nhà cai trị và bình định tài ba. Một ngày trước khi ông nhận bàn giao tỉnh Chương Thiện, Đại Tá Cẩn đã ăn mặc thường phục, giả dạng thường dân đi thanh tra ngầm một vòng tỉnh lỵ Vị Thanh. Ông vào các sòng bài, những nơi nhận tiền đánh số đề và những ổ điếm quan sát.

Ngày hôm sau, khi đã chính thức là vị Tỉnh Trưởng Chương Thiện, Đại Tá Cẩn cho gọi người Thiếu Tá Trưởng Ty Cảnh Sát tỉnh đến cật vấn nghiêm khắc về những tệ đoan xã hội trong tỉnh, rồi lập tức cách chức ông này. Thay vào đó là Trung Tá Đường, một vị sĩ quan mẫn cán và tài năng. Trung Tá Đường là cánh tay mặt vững chãi của Đại Tá trong lĩnh vực bình định, xã hội và truy bắt bọn Việt Cộng hoạt động dầy đặc trong tỉnh. Bọn cộng phỉ rất căm thù Trung Tá Đường, đến nỗi sau ngày 30.4.1975, chúng bắt được Trung Tá Đường, chỉ giam giữ ông một thời gian ngắn rồi đem ông ra xử bắn tại Vị Thanh. Cùng đền ơn tổ quốc với Trung Tá Đường còn có Đại Úy Bé, Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Thám Báo Tỉnh. Đại Úy Bé đã làm điêu đứng bọn giặc cộng, với những chiến sĩ Thám Báo nhảy sâu vào hậu cứ địch báo cáo tin tức, địch tình, cũng như tọa độ trú quân để Không Quân, Pháo Binh dội những cơn bão lửa lên đầu chúng. Trung Tá Đường và Đại Úy Bé bị giặc tàn nhẫn bắn chết tại chân cầu dẫn vào thành phố Vị Thanh.

Có một ông Quận Trưởng nọ, muốn cho chi khu của mình được an toàn tối đa, chiều nào cũng xin Pháo Binh tiểu khu yểm trợ hỏa lực, nại lý do Việt Cộng pháo kích hay tấn công. Đại Tá Cẩn thỏa mãn tối đa và được báo cáo là quận bị thiệt hại một kho xăng và kho lương thực. Đại Tá tin thật, ông lệnh cho sĩ quan Trưởng Phòng 3 chuẩn bị xe Jeep đi xuống quận. Buổi chiều chạng vạng trên những con đường đất hoang vắng rợn người ở vùng quê Chương Thiện mà vị Tỉnh Trưởng trẻ của chúng ta dám đi xe Jeep cùng với một vài người lính, chỉ có những chiến binh dũng cảm như Đại Tá Cẩn mới làm được. Ông Quận Trưởng đang nằm trên võng rung đùi uống Martell hoảng kinh ngồi bật dậy mặt mũi tái xanh đứng nghiêm chào vị Tỉnh Trưởng đầy huyền thoại. Đại Tá Cẩn đi thẳng xuống Trung Tâm Hành Quân của Chi Khu xem bản đồ và ra lệnh cho ông Quận: “Tôi muốn những ấp loại C sau ba tháng được nâng lên loại B. Những ấp loại B sau ba tháng phải được nâng lên loại A”. Ngài Quận Trưởng tạm ngưng uống rượu và làm việc trối chết. Đại Tá Cẩn không trừng trị tội xao nhãng nhiệm vụ của ông Quận, nhưng cung cách độ lượng và cương quyết của Đại Tá Cẩn giống như lưỡi gươm trừng phạt treo đung đưa trên đầu. Đúng ba tháng sau, nhận được báo cáo khả quan của vị Quận Trưởng, Đại Tá Cẩn lại xuống quận ngủ đêm, sau khi đã trân trọng gắn lon mới tưởng thưởng cho ông này. Nếu tất cả 44 tỉnh của Việt Nam Cộng Hòa đều có những vị Tỉnh Trưởng can đảm, mẫn cán và tài ba như Đại Tá Cẩn, làm sao giang sơn hoa gấm của tổ tiên của chúng ta có thể lọt vào tay bọn cộng nô tay sai Nga Tàu dễ dàng như vậy được. Chúng ta cũng được biết rằng, Đại Tá Cẩn là vị Tỉnh Trưởng trẻ tuổi nhất của Việt Nam Cộng Hòa. Ông nhận chức vụ này hồi năm 1973, lúc ông mới có 35 tuổi.

Những đóng góp và hy sinh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn lớn lao và nhiều không sao có thể kể được hết, suốt một đời người đã tận tụy với nước non, danh tiếng lừng lẫy và nắm giữ những chức vụ khó khăn, mà người vẫn khiêm nhường hết mực, giữ cuộc sống trong sáng và thanh liêm, tâm tư lúc nào cũng hướng về những thế hệ đàn em. Một người bạn cũ trong một dịp gặp lại Đại Tá Cẩn ở Cần Thơ vào mùa hè 1974, đã hỏi ông: “Anh từng là Trung Đoàn Trưởng, hiện làm Tỉnh Trưởng, anh có nghĩ rằng sau này sẽ làm Tư Lệnh sư đoàn không”? Con người danh tiếng lừng lẫy trên các chiến trường đã khiêm tốn trả lời: “Tôi lặn lội suốt mười bốn năm qua gối chưa mỏi, nhưng kiến thức có hạn. Được chỉ huy trung đoàn là cao rồi, mình phải biết liêm sỉ chớ, coi sư đoàn sao được. Làm Tỉnh Trưởng bất quá một hai năm nữa rồi tôi phải ra đi, cho đàn em họ có chỗ tiến thân. Bấy giờ tôi xin về coi Trường Thiếu Sinh Quân, hoặc coi các lớp huấn luyện Đại Đội Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng, đem những kinh nghiệm thu nhặt được dạy đàn em. Tôi sẽ thuật trước sau hơn ba trăm trận đánh mà tôi đã trải qua”. Ôi cao cả biết ngần nào tấm chân tình với nước non và với thế hệ chiến binh đàn em của người. Con người chân chính để lại cho hậu thế những lời khí khái.

Cuối cùng thì cái ngày tang thương 30.4.1975 của đất nước cũng đến. Dân tộc Việt Nam được chứng kiến những cái chết bi tráng hào hùng của những vị thần tướng nước Nam, của những sĩ quan các cấp còn chưa được biết và nhắc nhở tới. Và của những người chiến sĩ vô danh, một đời tận tụy vì nước non, những đôi vai nhỏ bé gánh vác cả một sức nặng kinh khiếp của chiến tranh. Sinh mệnh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cũng bị cuốn theo cơn lốc ai oán của vận mệnh đất nước. Chu vi phòng thủ của Tiểu Khu Chương Thiện co cụm dần, quân giặc hung hăng đưa quân tràn vào vây chặt lấy bốn phía. Những chiến sĩ Địa Phương Quân-Nghĩa Quân của Chương Thiện nghiến răng ghì chặt tay súng, quyết một lòng liều sinh tử với vị chủ tướng anh hùng của mình. Đại Tá Cẩn nhớ lại lời đanh thép của ông: “Chết thì chết chứ không lùi”. Ông tự biết những khoảnh khắc của cuộc đời mình cũng co ngắn lại dần theo với chu vi chiến tuyến. Ông nhớ lại những ngày sình lầy với Biệt Động Quân, những ngày lên An Lộc với chiến sĩ Sư Đoàn 9 Bộ Binh đi trong cơn bão lửa ngửa nghiêng, những lúc cùng chiến sĩ Sư Đoàn 21 Bộ Binh đi lùng giặc trong những vùng rừng U Minh hoang dã, và những chuỗi ngày chung vai chiến đấu với chiến sĩ Địa Phương Quân-Nghĩa Quân thân thiết và dũng mãnh của ông trên những cánh đồng Chương Thiện hoang dã. Hơn ba trăm trận chiến đấu, nhưng chưa lần nào ông và chiến sĩ của ông phải đương đầu với một cuộc chiến cuối cùng khó khăn đến như thế này.

Khoảng hơn 9 giờ tối ngày 30.4.1975, gần nửa ngày sau khi Tướng Dương Văn Minh đọc lệnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng, Đại Tá Cẩn cố liên lạc về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV xin lệnh của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Người trả lời ông lại là phu nhân Thiếu Tướng Lê Văn Hưng. Đại Tá Cẩn ngơ ngác không biết chuyện hệ trọng nào mà đã đưa Bà Hưng lên văn phòng Bộ Tư Lệnh. Bà Hưng áp sát ống nghe vào tai, bà nghe có nhiều tiếng súng lớn nhỏ nổ ầm ầm từ phía Đại Tá Cẩn. Như vậy là Tiểu Khu Chương Thiện vẫn còn đang chiến đấu ác liệt và không tuân lệnh hàng cùa tướng Minh. Trước đó, khoảng 8 G 45 phút tối 30.4.1975 Thiếu Tướng Lê Văn Hưng đã nổ súng tử tiết, Thiếu Tướng Nam đang đi thăm chiến sĩ và thương bệnh binh lần cuối cùng trong Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ, rồi người tự sát ngay trong đêm. Bà Thiếu Tướng Hưng biết Đại Tá Cẩn kiên quyết chiến đấu đến cùng, thà chết không hàng, vì đó là tính cách thiên bẩm của người chiến sĩ Hồ Ngọc Cẩn. Nếu có chết thì Đại Tá Cẩn phải chết hào hùng, trong danh dự của một người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa công chính. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cùng các sĩ quan trong Ban Chỉ Huy Tiểu Khu và các chiến sĩ Tiểu Khu Chương Thiện đã đánh một trận tuyệt vọng nhưng lừng lẫy nhất trong chiến sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đánh tới viên đạn và giọt máu cuối cùng và đành sa cơ giữa vòng vây của bầy lang sói. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 11 giờ trưa ngày 1.5.1975, quân ta không còn gì để bắn nữa, Đại Tá Cẩn lệnh cho thuộc cấp buông súng. Khi những người lính Cộng chỉa súng vào hầm chỉ huy Tiểu Khu Chương Thiện, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, vị Trung Úy tùy viên và các sĩ quan tham mưu, hạ sĩ quan và binh sĩ tùng sự đều có mặt. Một viên chỉ huy Việt Cộng tên Năm Thanh hùng hổ chỉa khẩu K 54 vào đầu Đại Tá Cẩn dữ dằn gằn giọng:”Anh Cẩn, tội anh đáng chết vì những gì anh đã gây ra cho chúng tôi”. Đại Tá Cẩn cười nhạt không trả lời.

Cộng Sản Việt Nam hèn hạ dùng nhục hình để xử tử hình Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ngày 14-8-1975.

Nhưng bọn cộng phỉ không giết ông ngay, chúng đã có kế hoạch làm nhục người anh hùng sa cơ nhưng cứng cỏi của chúng ta. Các sĩ quan tham mưu được cho về nhà, nhưng Đại Tá Cẩn thì không, địch áp giải ông sang giam trong Ty Cảnh Sát Chương Thiện. Vài ngày sau, các sĩ quan Tiểu Khu Chương Thiện cũng bị gọi vào giam chung với Đại Tá Cẩn. Để làm nhục và hành hạ tinh thần người dũng tướng nước Nam, giặc cho phá hủy nhà cầu trong Ty Cảnh Sát và thay vào bằng một cái thùng nhựa. Mỗi buổi sáng, ngày nào chúng cũng bắt Đại Tá Cẩn cùng một người nữa khiêng thùng phân đi đổ. Người ưu tiên được làm nhục thứ hai là vị Phó Tỉnh Trưởng. Dù cho các sĩ quan của ta có đề nghị hãy để cho mọi người làm công tác công bằng, nhưng bọn Cộng vẫn nhất quyết đày đọa Đại Tá Cẩn. Người anh hùng của chúng ta chỉ mỉm cười, ung dung làm công việc của mình. Chúa Jesus đã chẳng từng nói khi lên thập giá: “Lạy Cha ở trên trời, họ không biết việc họ đang làm” đó sao. Bà Đại Tá Cẩn lo sợ bị cộng quân trả thù nên bà đã đem cậu con trai duy nhất của ông bà là Hồ Huỳnh Nguyên, lúc ấy được 5 tuổi, về Cần Thơ ẩn náu và thay đổi lý lịch nhiều lần. Nhớ thương chồng, nhiều lúc bà đã liều lĩnh choàng khăn che mặt xuống Vị Thanh tìm đến Ty Cảnh Sát đứng bên này bờ con rạch nghẹn ngào nhìn vào sang dãy tường rào kín bưng. Một vài sĩ quan ra xách nước trông thấy bà đã tìm cách dẫn Đại Tá Cẩn ra. Những khoảnh khắc cuối cùng đẫm đầy nước mắt ấy sẽ theo ký ức của bà Đại Tá Cẩn đến suốt khoảng đời còn lại của bà. Đầu năm 1979 bà Cẩn cùng bé Nguyên liều chết vượt biển. Thượng Đế đã dang tay từ ái bảo vệ giọt máu duy nhất của Đại Tá Cẩn. Bà Cẩn và bé Nguyên đến được đảo Bidong thuộc Mã Lai. Mười tháng sau hai mẹ con bà Đại Tá Cẩn được phái đoàn phỏng vấn Mỹ cho định cư tại Hoa Kỳ theo dạng ưu tiên có chồng và cha bị cộng sản bắn chết tại Việt Nam.

Bọn phỉ không giết Đại Tá Cẩn ngay, chúng muốn làm nhục người và làm nhục quân dân Miền Tây. Bọn chúng sẽ thiết trí một pháp trường và dành cho người một cái chết thảm khốc hơn. Đại Tá Cẩn không thể tử tiết, vì là con chiên ngoan đạo, luật Công Giáo không cho phép con cái Chúa được tự tử. Đại Tá Cẩn thường cầu nguyện mỗi buổi sáng và thổ lộ tâm tư với thuộc cấp trước khi ra trận: “Sống chết nằm trong tay Chúa”. Vì vậy viên đạn cuối cùng người bắn vào kẻ thù, để cho chúng biết rằng nước Nam không thiếu anh hùng.

Quân dân Miền Tây đã tiếc thương cái chết của hai vị thần tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng trong ngày u ám đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. Giờ đây, cũng trong bầu không khí ảm đạm đau buồn của ngày 14.8.1975, người dân thủ phủ Cần Thơ sẽ được chứng kiến giây phút lìa đời cao cả của người anh hùng Hồ Ngọc Cẩn. Bọn sói lang đã áp giải người từ Chương Thiện về Cần Thơ và cho bọn ngưu đầu đi phóng thanh loan báo địa điểm, giờ phút hành hình người anh hùng cuối cùng của Quân Lực Việt Cộng Hòa. Bọn tiểu nhân cuồng sát thay vì nghiêng mình kính phục khí phách của người đối địch, thì chúng lại lấy lòng dạ của loài khỉ và loài quỷ để đòi máu của người phải chảy. Chúng quyết tâm giết Đại Tá Cẩn để đánh đòn tâm lý phủ đầu lên những người yêu nước nào còn dám tổ chức kháng cự lại bọn chúng. Thật đau đớn, trong khoảnh khắc cuối cùng này, bà Đại Tá Cẩn và người con trai còn phải ẩn trốn một nơi kín đáo theo lời căn dặn của Đại Tá Cẩn trước khi ông bị bắt, vì sợ bọn chúng bắt bớ tra tấn, nên bà không thể có mặt để chứng kiến giây phút Đại Tá Cẩn đi vào lịch sử.

Người dân Cần Thơ lén đưa thi thể có Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn về … và phủ cho một lá cờ Việt Nam Cộng Hòa … mà cố Đại Tá đã suốt đời phục vụ cho lý tưởng của Việt Nam Cộng Hoà.

Đại Tá Cẩn bị giải lên chỗ hành hình, mấy tên khăn rằn hung hăng ghìm súng bao quanh người chiến sĩ. Trước khi bắn người, tên chỉ huy cho phép người được nói. Đại Tá Cẩn trong chiếc áo tù vẫn hiên ngang để lại cho lịch sử lời khẳng khái: “Tôi chỉ có một mình, không mang vũ khí, tôi không đầu hàng, các ông cứ bắn tôi đi. Nhưng trước khi bắn tôi xin được mặc quân phục và chào lá quốc kỳ của tôi lần cuối”. Dĩ nhiên lời yêu cầu không được thỏa mãn. Đại Tá Cẩn còn muốn nói thêm những lời trối trăn hào hùng nữa, nhưng người đã bị mấy tên khăn rằn nón cối xông lên đè người xuống và bịt miệng lại. Tên chỉ huy ra lệnh hành quyết người anh hùng. Điều duy nhất mà bọn chúng thỏa mãn cho người là không bịt mắt, để người nhìn thẳng vào những họng súng thù, nhìn lần cuối quốc dân đồng bào. Rồi người ngạo nghễ ra đi.

Cùng ngẩng cao đầu đi vào chiến sử Việt Nam với Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn tại sân vận động Cần Thơ là người anh hùng Thiếu Tá Trịnh Tấn Tiếp, Quận Trưởng quận Kiến Thiện, bạn đồng khóa với Đại Tá Cẩn. Thiếu Tá Tiếp đã cùng các chiến sĩ Địa Phương Quân Chi Khu chiến đấu dũng cảm đến sáng ngày 1.5.1975 thì ông bị sa vào tay giặc. Thiếu Tá Tiếp là một sĩ quan xuất sắc, trí dũng song toàn. Ông đã từng gây rất nhiều tổn thất nặng nề cho quân địch, nhờ tổ chức thám sát chính xác, có lần ông đã gọi B 52 dội trúng một trung đoàn cộng quân và hầu như xóa sổ trung đoàn này. Cộng quân ghi nhớ mối thù này, người anh hùng của chúng ta sa vào chúng, thì chúng sẽ giết chết ông không thương tiếc. Hai người anh hùng cuối cùng của miền Tây đã vĩnh viễn ra đi. Đất trời những ngày đầu mùa mưa bỗng tối sầm lại.

Một nhân chứng đứng ở hàng đầu dân chúng kể lại rằng, trong những giây phút cuối cùng, Đại Tá Cẩn đã dõng dạc hét lớn: “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Đả Đảo Cộng Sản”! Năm sáu tên bộ đội nhào vào tấn công như lũ lang sói, chúng la hét man rợ và đánh đấm người anh hùng sa cơ tàn nhẫn.

Người phụ nữ nhân chứng nước mắt ràn rụa, bà nhắm nghiền mắt lại không dám nhìn. Bà nghe trong cõi âm thanh rừng rú có nhiều tiếng súng nổ chát chúa. Khi bà mở mắt ra thì thấy nhiều tên Việt Cộng quây quanh thi thể của Đại Tá Cẩn và khiêng đem đi.

Đúng ra, phải vinh danh Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn là Chuẩn Tướng Hồ Ngọc Cẩn, vì người đã anh dũng chiến đấu trên chiến trường và vị quốc vong thân. Nhưng Tổng Thống Tổng Tư Lệnh, Tổng Tham Mưu Trưởng đã bỏ chạy từ lâu, Tư Lệnh Quân Khu IV đã tử tiết, lấy ai đủ tư cách trao gắn lon và truy thăng Chuẩn Tướng cho người. Anh linh của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã thăng thiên. Tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử đến ngàn đời sau. Xin người hãy thương xót cho dân tộc và đất nước Việt Nam còn đang chìm đắm trong tối tăm và gông xiềng cộng sản, xin hãy ban cho những người còn đang sống khắc khoải sức mạnh và quyết tâm. Để cùng nhau đứng dậy lật đổ chúng, hất bọn chúng, tất cả bọn tự nhận là con cháu loài vượn đó vào vực thẳm lạnh lẽo nhất của địa ngục.

Phạm Phong Dinh

http://www.hon-viet.co.uk/PhamPhongDinh_DaiTaHoNgocCan.htm


hồ chí minh súc vật, nông đức mạnh súc vật, nguyễn tấn dũng súc vật, nguyễn minh triết súc vật, dcsvn súc vật, ditmecodosaovang, ditmehochiminh, ditmenongducmanh, ditmenguyentandung, ditmenguyenminhtriet, dadaocongsan, latdocongsan, tieudietcongsan, hochiminhsucvat, sucvathochiminh, sucvatnongducmanh, sucvatnguyentandung, sucvatnguyenminhtriet, dadaovietcong, iavaomathochiminh, iavaomatnongducmanh, iavaomatnguyentandung, iavaomatnguyenminhtriet, súc vật lê khả phiêu, lê khả phiêu súc vật, suc vat le kha phieu, le kha phieu suc vat , lekhaphieu, suc vat vo nguyen giap, sucvatvonguyengiap, vonguyengiapsucvat, súc vật võ nguyên giáp, võ nguyên giáp súc vật, ditmevonguyengiap, iavaomatvonguyengiap

Gửi chị Bảy Vân

Lính của Nguỵ quyền Việt gian Cộng Sản chết bao nhiêu?

Nhưng con số thiệt hại về nhân mạng của miền Bắc là bao nhiêu?

Tên trá hàng Bùi Tín, trong một tác phẩm tuyên truyền hạng bét, văn chương sọt rác, (Mây mù thế kỷ, Hoa xuyên tuyết..) đã viết:

– “Lê Duẫn từng khoe: Tôi gặp ông Mao, tôi nói thẳng rằng Trung Quốc chi viện cho chúng tôi thì chúng tôi thắng Mỹ với những hi sinh thấp hơn, còn như Trung Quốc không chi viện, thì chúng tôi sẽ phải hi sinh thêm 1 đến 2 triệu người, chúng tôi không sợ và cuối cùng chúng tôi vẫn thắng!!!”.

Kinh khiếp thay đồng chí Lê Duẫn, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh. Xem vài triệu mạng sống của đồng bào, đồng chí, bộ đội, thanh niên xung phong… như số lẻ, như mấy xu trong túi quần, có móc ra vất đi cũng không bận tâm.

Nhưng câu nói trên của Lê Duẫn đã bị bóp méo, cắt xén phần quan trọng nhất. Đó là con số nhân mạng “đã” thiệt hại là bao nhiêu triệu?

“Đồng chí” Bảy Vân, vợ Lê Duẫn, trong cuộc phỏng vấn ngày 23 tháng 12 năm 2008, đã trả lời Xuân Hồng, phóng viên đài BBC rằng:

– “Anh Ba (Duẫn) nói với lãnh đạo Trung Quốc rằng”: Chúng tôi đã hi sinh 10 triệu người rồi, nếu Trung Quốc chi viện cho chúng tôi thì chúng tôi thắng Mỹ với những hi sinh thấp hơn, còn như Trung Quốc không chi viện, chúng tôi dù phải hi sinh vài triệu người nữa, chúng tôi vẫn thắng Mỹ”.

Tôi lại xin lạc đề vài câu nữa. Ông Xuân Hồng đài BBC hỏi bà Bảy Vân, đại ý rằng, có nên tiếp tục “xã hội chủ nghĩa không? Đồng chí Bảy Vân kính mến trả lời rằng:

– “Phải tiếp tục con đường xã hội chủ nghĩa, vì chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn”.

Tại sao ông Xuân Hồng không hỏi tiếp:

– “Thế giai cấp giàu là những người nào? Còn bọn nghèo khổ là những ai?”. Giai cấp giàu là đảng viên (riêng đồng chí Bảy Vân “phải” chui rúc trong “túp lều” giá trên hai triệu đô la Mỹ), còn giai cấp nghèo là lũ dân đen mà các đồng chí đảng viên đang ngồi trên đầu đó!

Như thế, trong chiến tranh chống Mỹ, phải trên mười triệu người dân vô tội miền Bắc Việt Nam đã bị đảng ta đẩy vào Trường Sơn cho B52 dội bom. Một con số khủng khiếp. Lê Duẫn đem số lẻ vài triệu (bổ sung) vào Nam không phải để đánh nhau, mà để cho B52 dội bom, số sống sót mới thực sự đối diện với quân miền Nam mà đánh nhau.

Bạn muốn biết con số đó khủng khiếp đến bực nào thì thử rải mười triệu xác chết lên một nghìn cây số từ Bắc vô Nam, trên đường mòn Hồ Chí Minh (con đường Bác đi là con đườngbiđát). Mỗi cây số có bao nhiêu xác bộ đội nhân dân anh hùng? Mười nghìn xác rải trên 1km. Mỗi mét 10 xác bộ đội. (Bài của Dép Râu – trích Huyết Hoa)

Bút Xuân Trần Công Tử liền có thơ gửi chị Bảy Vân, vợ đồ tể Lê Duẩn, Cựu Tổng Bí thư đảng Việt gian Cộng sản như sau:

Gửi chị Bảy Vân

Chị Bảy Vân! Chị quen cái thói

Bắt nạt người, ức hiếp dân lành
Vợ chồng chị thứ gian manh

Yêu tinh chế độ, nhe nanh thịt người!

Xưa Duẩn vốn một thằng vô học

Theo giặc Hồ luồn lọt chui lên

Duẩn cùng một lũ kên kên

Nhảy quanh xác chết, miệng luôn reo hò!

Ngày 30 tháng Tư quốc hận

Duẩn lúc cười lúc khóc mừng vui!

Bởi vì người Mỹ đã lùi

Mỹ cam bức tử than ôi! Cộng Hoà!

Duẩn giết dần quân nhân, công chức

Bù gia Mập, Suối Máu, Hà Tây…

Trăm ngàn chiến sĩ thương thay!

Trăm ngàn vợ đói, đoạ đày lũ con!

Duẩn tịch thu trăm ngàn nhà cửa

Đánh công nghiệp tư bản tư doanh

Đảng viên cướp phá, hoành hành

Bóc lột cho đến cái manh quần đùi!

Duẩn đoạ đày dân Nam vì hận

Y gây ra cả triệu tang thương

Thanh Nga, đào hát cải lương

Bảy Vân mi giết mi thường nổi ghen!

Giết Thanh Nga, Đổng Lân chết tốt

Mi phao lên bọn bắt cóc mần

Con Kim Cương đã một lần

Đóng kịch bắt cóc để lầm người dân!

Mi tàn ác hơn loài beo sói

Chồng của mi cũng thói giặc Hồ

Một, hai triệu chết tỉnh bơ

Miễn sao bay được phượng thờ, giầu sang!

Mi tưởng rằng dân ngu tất cả?

Một ngày mai toà án La Haye

Tội diệt chủng khắp bọn bay

Tử hình án ấy không sai chạy rồi!

Tiếp tục đường Việt gian cộng sản

thì bọn bay tỉ phú thêm giầu

những phường đầu gấu mặt trâu

Nhân dân đói khổ, đớn đau, não nề!

Vợ thằng đồ tể khỏi chê!

Bút Xuân Trần Công Tử

http://www.hon-viet.co.uk/ButXuanTranCongTu_GuiChiBayVan.htm


hồ chí minh súc vật, nông đức mạnh súc vật, nguyễn tấn dũng súc vật, nguyễn minh triết súc vật, dcsvn súc vật, ditmecodosaovang, ditmehochiminh, ditmenongducmanh, ditmenguyentandung, ditmenguyenminhtriet, dadaocongsan, latdocongsan, tieudietcongsan, hochiminhsucvat, sucvathochiminh, sucvatnongducmanh, sucvatnguyentandung, sucvatnguyenminhtriet, dadaovietcong, iavaomathochiminh, iavaomatnongducmanh, iavaomatnguyentandung, iavaomatnguyenminhtriet, súc vật lê khả phiêu, lê khả phiêu súc vật, suc vat le kha phieu, le kha phieu suc vat , lekhaphieu, suc vat vo nguyen giap, sucvatvonguyengiap, vonguyengiapsucvat, súc vật võ nguyên giáp, võ nguyên giáp súc vật, ditmevonguyengiap, iavaomatvonguyengiap

HOẠT ĐỘNG " XỎ LÁ" CỦA BĂNG ĐẢNG VIỆT TÂN Ở ÚC CHÂU

HOẠT ĐỘNG ” XỎ LÁ” CỦA BĂNG ĐẢNG VIỆT TÂN Ở ÚC CHÂU

TRƯƠNG MINH HÒA

Tại Úc Châu, theo thông lệ, hể mỗi khi chính quyền Úc có những vấn đề cần tham khảo ý kiến về những vấn đề có liên quan đến tình hình Việt Nam, nhất là về mặt nhân quyền, viện trợ… các bộ sở mời đại diện cộng đồng Người Việt Tụ Do Liên Bang Úc Châu. Việc làm nầy đúng như tinh thần sinh hoạt dân chủ trong một quốc gia luôn đặt tôn trọng ý dân, tức là đại diện cộng đồng là những người do dân cử, có tính cách pháp nhân, là tiếng nói trung thực cho người Việt trong đời sống đa văn hóa; một khía cạnh khác, là ban đại diện cộng đồng người Việt Tự Do Úc Châu, cũng là tiếng nói của những người Úc gốc Việt, đóng góp vào đời sống xã hội, đóng thuế.

Từ nhiều năm qua, các bộ ngoại giao, di trú, ban ngành trong quốc hội, đã làm việc nầy và thời đó, bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, Đoàn Việt Trung….chủ tịch cộng đồng liên bang thực hiện những cuộc tiếp xúc với các giới chức chính quyền từ hành pháp đến lập pháp, trong phái đoàn hay có mặt của vài vị” lãnh đạo tinh thần” Công Giáo…. đặc biệt có Thích Quảng Ba, được coi là đại diện Phật Giáo Úc Châu, vì đồng hương, Phật tử lầm ông nầy đại diện cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong nước do huề thượng Huyền Quang, Quảng Độ lãnh đạo, đang đương đầu với muôn ngàn nguy hiểm trước sự đánh phá của bọn quỷ đỏ vô thần Việt Cộng. Tuy nhiên sau nầy, từ 2008, khi giáo hội trong nước xác nhận đây là giáo hội tiếm danh với băng tăng ni Thích Như Huệ, Thích Bảo Lạc, Quảng Ba, Viên Trí, Nguyên Trực ( người đắc đạo tại thế, đến gần cửa Biết Bàn với giá 40 Úc Kim)…, thì mọi người bật ngữa đây là đám THAY MƯỢN thiền môn làm THƯƠNG MẠI và các cơ sở Phật Giáo thuộc hội nầy không khác gì các TIỆM PHẬT, lợi dụng cửa thiền để thu tiến cúng dường, làm công quả để trở thảnh” triệu phú Phật Giáo” mà không cần làm lao động, mượn đạo tạo tiền, dối gạt người hiền, thu tiền làm của riêng.

Theo nguồn tin và những nhận xét của đồng bào Úc Châu, dù bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, luật sư Đoàn Việt Trung…. nếu không là thành viên Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, cũng là người của Liên Minh Việt Nam Tư Do ( tổ chức râu ria của Mặt Trận), nhưng họ là đại diện dân cử từ người Việt tỵ nạn, là hợp tình, hợp lý. Được biết, từ nhiều năm qua, mãi đến ngày nay, Mặt Trận Hoàng Cơ Minh và nay là Việt Tân, có kế hoạch chen vào các ban chấp hành cộng đồng, nhưng may mắn là ở Úc Châu, nơi có tuyệt đại đa số chống Cộng mạnh, giữ vững lập trường, qua nhiều cuộc thử lửa chống văn hóa vận từ Múa Rối Nước Thăng Long, Tình Ca Olyompic 2000, tình ca mùa đông, duyên dáng Việt Nam, T.V 4 ( chống truyền hình SBS)….huy tụ con sống hàng chục ngàn, lừng danh là” thành trì chống Cộng” của người Việt hải ngoại, nên dù đảng viên Việt Tân hay bất cứ tổ chức nào muốn khuynh đảo, cũng khó thực hiện được, nên những người thuộc đảng Việt Tân cũng phải đành” tuân theo quần chúng” để chờ thời cơ, nếu có nằm trong các ban chấp hành.

Băng đảng Việt Tân chỉ là thiểu số rất ít, so với tỷ lệ dân số, hảy nhìn các buổi ra mắt sách do bí thư trung ương đảng Lý Thái Hùng, những lần nói chuyện của Đồ Hoàng Điềm….con số người tham dự mỗi lần chừng vài chục nếu ở tiểu bang như Tây Úc với 14 ngàn dân, hay không quá 100 người nếu ở tiểu bang đông dân Việt như N.S.W, Victoria với khoảng từ 60 đến 70 ngàn dân. Con số tham dự nầy tính luôn ban tổ chức, đảng viên, cảm tình viên của họ, đủ thấy thực lực của nhóm nầy; một đều dễ nhận ra là: những người của Mặt Trận trước đây và nay là đảng viên Việt Tân, đắc cử vào các chức vụ trong ban chấp hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do, không phải do họ được đảng vận động, mà là do uy tín của từng cá nhân qua các hoạt động trong cộng đồng tại địa phương, đó là điểm mà người Việt hải ngoại cần lưu ý, khi thấy người của Việt Tân chiếm các cộng đồng mà lầm tưởng họ mạnh. Băng đảng Việt Tân ở Úc Châu như con thuyền mục nát, đang lênh đênh trên đại dương, là khối quần chúng chống Cộng mạnh, nên con thuyền không thể tự ý” rẻ sóng” theo chính sách của băng đảng, phải nương theo quần chúng để tồn tại được lúc nào hay lúc ấy. Nhưng cũng phải đề cao cảnh giác trước những” âm mưu khuynh đảo” nằm sẵn mai phục, chờ thời cơ vùng dậy.

Tuy nhiên, lần nầy, không biết lý do gì mà chính phủ Úc phá lệ, mời những người không phải là đại diện cộng đồng đến để tham khảo, điều làm cho nhiều người ngạc nhiên và được đài phát thanh sắc tộc toàn quốc, trong chương trình tiếng Việt SBS đưa tin để giúp cho băng đảng nầy có thêm thanh thế, khiến nhiều người ở Úc Châu bực mình. Theo tin tức cho biết, lúc 10 giờ 30 sáng, ngày 19 tháng 3 năm 2009, một phái đoàn của băng đảng Việt Tân gồm những” lãnh tụ vĩ đại” là:

-Đổ Hoàng Điềm: Chủ tịch băng đảng Việt Tân, chắc chắn là dân Hoa Kỳ, không phải là người quốc tịch Úc, nên không có tư cách gì để đại diện cho đồng bào Úc Châu. Nhưng trong cuộc họp nầy, thì Đổ Hoàng Điềm được coi là” đại diện chính”, là trưởng phái đoàn, đại diện cho khoản 200 ngàn người Việt tỵ nạn tại Úc Châu, thế mới là XỎ LÁ, để lộ bản chất láu cá của một tổ chức có quá trình lừa đảo từ chiến khu cho đến những hoạt động tại sau nầy ở hải ngoại.

-Nguyễn Đổ Thanh Phong, Ủy Viên Trung Ương đảng Việt Tân, là người Úc gốc Việt.
-Trương Minh Đức, đại diện Việt Tân ở Úc Châu.

Phái đoàn” vu vơ” nầy đến Tiểu Ban Nhân quyền, thuộc Ủy Ban Phối Hợp Quốc Phòng, Ngoại Giao, thương mại quốc hội liên bang Úc, nhưng tư cách là không đại diện cho dân Việt ở Úc Châu, để bàn cải với các giới chức Úc về những vấn đề” Vũ Như cẩn” đã có từ hơn 30 năm nay, mà hầu hết người Việt đều quan tâm như: Việt Cộng vi phạm nhân quyền, đàn áp các nhà đấu tranh trong nước ( chưa biết thật hay cò mồi?), và đề nghị vài” phương án” xây dựng nền tảng dân chủ, cơ chế nhân quyền vùng Thái Bình Dương ( mục tiêu quá lớn, bao quát, Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ còn chưa làm nổi, đúng là” đao to búa lớn, thùng rỗng kêu to”). Cuộc họp nầy khiến người ta nhớ lại thời tranh tối tranh sáng, lúc Nhật đầu hàng, tình hình Việt Nam lúc đó có nhiều tổ chức, trong đó có cái gọi là Chính phủ lâm thời, qui tụ những người yêu nước, đảng phái quốc gia, trong đó có một nhóm thiểu số Cộng Sản, nhưng họ thủ đoạn, nên tên Hồ Chí Minh làm chủ tịch; lợi dụng tình hình, nhóm Cộng Sản đi phó hội ở Fontainbleau, ngầm ký hiệp ước Sainteny mời Pháp trở lại cai trị lần thứ hai.

Trong cuộc họp nầy, chủ tịch băng đảng Việt Tân Đổ Hoàng Điềm xác nhận:” đấu tranh ôn hòa”, là cái chính sách, sách lược ru ngủ ma băng đảng nầy đưa ra để tiếng tới việc:” bàn giao hải ngoại trong vòng trật tự cho Việt Cộng”, làm cuộc đổi đời lần thứ hai, sau 1975. Được biết băng đảng Việt Tân có ba sách lược” giúp đảng Cộng Sản ổn cố, vững mạnh” là:

1-Đối đầu BẤT BẠO ĐỘNG để THÁO GỞ ĐỘC TÀI.

2-XÂY DỰNG xã hội DÂN SỰ để đặt nền tảng DÂN CHỦ.

3-VẬN ĐỘNG toàn dân để CANH TÂN đất nước.

Đối với Việt Cộng, phải đánh cho chúng dập đầu, vở trán mà còn chưa làm cho chúng ngán, huống chi là” đấu tranh bất bạo động theo kiểu” ông phỏng đá” của Nguyễn Khuyến, thì làm sao” Việt Nam là Ba Lan Thứ Hai?” như ngài bí thư Lý Thái Hùng viết sách lếu láo….ra mắt nhiều nơi. Người Việt ở Úc Châu, nhất là giới cựu quân nhân quân lực VNCH không còn lạ gì băng đảng Việt Tân, tổ chức” núp bóng cờ vàng, lập làng chống Cộng” đã đọc liên tiếp nhiều lần bài của Hà Dương Dực, bôi nhọ, vu khống, mạ lỵ quân lực VNCH, thời đó ông chủ tịch tổng hội quân nhân Úc Châu là Mai Đức Hòa ra thông báo phản đối mạnh, đến nổi băng đảng Việt Tân phải cử Lý Thái Hùng sang để” giải độc” cho quan chuyện, chớ nào” khắc phục sửa sai” đâu. Nhân vật TRƯƠNG MINH ĐỨC, nào xa lạ gì với người Việt tỵ nạn CS ở Úc Châu, nhất là tiểu bang Queensland qua vụ cùng với bác sĩ Bùi Trọng Cường, lợi dụng chức vụ chủ tịch cộn đồng người Việt Tự Do tiểu bang để” đi đêm” với đám du sinh Việt Cộng, thực hiện cuộc hạ cờ vàng ba sọc đỏ một cách có kế hoạch với vụ” TASTE VIETNAM”. Như vậy, với ban đại diện cho một băng đảng Việt Tân, gồm những người muốn hạ cờ vàng, đánh phá hội cựu quân nhân…mà đi đại diện cho khoản 200 ngàn người Việt Úc Châu để” bàn về nhân quyền” thì đây là trò hề, là ba tay chơ bài ba lá tồi, lập lờ đánh lận con đen, xin đồng hương Úc Châu đề cao cảnh giác và đừng để chuyện nầy lập lại lần nữa.

Không rỏ có phải ông Nguyễn Thế Phong, chủ tịch cộng đồng người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu có” bật đèn xanh” để bàn giao công tác ngoại vận, đại diện cho cộng đồng làm chuyện nầy? Được biết, trong thời gian qua, tại tiểu bang Victoria, ông Nguyễn Thế Phong, cũng là chủ tịch cộng đồng tiểu bang có vấn đề lấn cấn trong vụ tiền bạc, giấy phép trong việc xây dựng trung tâm sinh hoạt cộng đồng với kinh phí nhiều trăm ngàn Úc Kim, được cơ quan giám sát, hội đoàn đưa ra và có lên đài phát thanh SBS để tranh luận. Nếu ông Nguyễn Thế Phong lâm vào thế kẹt, muốn có hậu thuẫn để dựa, vì bị các hội đoàn không đồng ý về vụ nầy, nên tìm chỗ dựa, mà sa vào vòng tay Việt Tân, thì quả là điều càng nguy hiểm, càng đi xa quần chúng. Nên cuộc hội thảo vừa qua với ủy ban nhân quyền liên bang Úc, có phải là một sự đi đêm, bàn giao dần dần cho băng đảng Việt Tân trong việc đại diện cho người Việt Úc Châu nói về nhân quyền?

Tuy nhiên qua lần nầy, mới thấy được bản chất xỏ lá của băng đảng Việt Tân, từng mạo nhận đại diện cho người Việt ở Hoa Kỳ để họp với các giới chức Tòa Bạch Cung thời tổng thống George.W..Bush, trong khi đó chính phủ Mỹ không mời những đại diện cộng đồng dân cử, nên có lần chủ tịch Đồ Hoàng Điềm tuyên bố với giới chức Mỹ:” từ năm 1990, Cộng Sản Việt Nam không còn phân biệt đối xử với người quốc gia”, khiến nhiều người bực mình, phản đối, thì hắn đính chính và xin lổi người Việt, chứ không cải chánh với chính phủ Mỹ, có phải là láu cá vặt không? Một điều cảnh váo khác là: băng đảng Việt Tân coi Đảng Cộng Sản Việt Nam là thành phần dân tộc và Hồ Chí Minh là người có công với đất nước. Do đó, bất cứ cái gì họ làm cũng đều mang mục đích trên, nên vai trò của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh ngày xưa, nay là băng đảng Việt Tân, giống như Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam trước 1975, nay thì Việt Tân cũng đang thực thi công tác:” giải phóng hải ngoại” và bàn giao trong vòng trật tự lần nữa cho Việt Cộng./.

THƠ LÁI ÂM.

DẠO MÃ ĐẤU TRANH, GIẢ MẠO DANH.

Băng đảng Việt Tân lấy nguyên tắc” thiểu số chế ngự đa số” cũng giống như sách lược của đảng CSVN, nên họ luôn tìm cách nắm lấy thời cơ, giả vờ đấu tranh cho nhân quyền, nhào vô như đại diện cho người Việt tỵ nạn trong các cuộc họp với chính phủ sở tại. Băng đảng Việt Tân từng bon chen vào tòa Bạch Cung ở Mỹ và nay thò bàn tay lông lá sang tận Canberra. Xin đồng bào hảy cảnh giác, đừng để chúng lợi dụng có bằng cấp cao, giỏi Anh ngữ để khuynh đảo, dẫn dắt cộng đồng theo tấm bản chỉ đường của Việt Tân.

ĐÂU TRÁNH bắt tay đám ĐÁNH TRÂU.

VỞ GIÀ kịch nói, GIẢ VỜ nào..

XẢ LÓ đuôi chồn, quân XỎ LÁ.

LÀ RƠI mặt nạ, LỜI RA sao!

ĐỂ GIẢ chiến khu, nào ĐÃ DỄ?

BĂNG ĐẢNG Việt Tân, BẢN ĐĂNG rao.

TẠO MẶT đấu tranh, mưu TẶC MẠO.

ĐẠI BIỂU cho ai? ĐỂU BẠI mau.

TRƯƠNG MINH HÒA.

Ngày 01.04.2009

http://www.hon-viet.co.uk/TruongMinhHoa_HoatDongXoLaCuaBangDangVietTanUc.htm


hồ chí minh súc vật, nông đức mạnh súc vật, nguyễn tấn dũng súc vật, nguyễn minh triết súc vật, dcsvn súc vật, ditmecodosaovang, ditmehochiminh, ditmenongducmanh, ditmenguyentandung, ditmenguyenminhtriet, dadaocongsan, latdocongsan, tieudietcongsan, hochiminhsucvat, sucvathochiminh, sucvatnongducmanh, sucvatnguyentandung, sucvatnguyenminhtriet, dadaovietcong, iavaomathochiminh, iavaomatnongducmanh, iavaomatnguyentandung, iavaomatnguyenminhtriet, súc vật lê khả phiêu, lê khả phiêu súc vật, suc vat le kha phieu, le kha phieu suc vat , lekhaphieu, suc vat vo nguyen giap, sucvatvonguyengiap, vonguyengiapsucvat, súc vật võ nguyên giáp, võ nguyên giáp súc vật, ditmevonguyengiap, iavaomatvonguyengiap

Ba ve vô một hũ

Ba ve vô một hũ!

Nguyễn Thanh Ty

“Ba ve vô một hũ” là cách nói nôm na mách qué của người bình dân khi gom ba, bốn việc lại thành một việc cho gọn, tránh bớt nhiêu khê, rườm rà. Nhất là đỡ tốn kém.

Ví dụ như chuyện cưới xin. Thay vì, theo tục lệ phải có, gồm ba lễ là: Lễ chạm ngỏ, lễ hỏi và lễ cưới thì người dân nghèo phía đàng trai xin đàng gái “thông cảm hoàn cảnh” cho phép được “ba ve vô một hũ”.

Nghĩa là vừa chạm, vừa hỏi vừa cưới gom chung luôn trong một lễ.

Dĩ nhiên, bạn nghèo với nhau, đàng gái sẽ “ô kê” dễ dàng với lý do: “Càng rình rang bao nhiêu thì đôi trẻ sau này sẽ khổ bấy nhiêu. Chúng phải còng lưng làm việc nhiều năm để trả nợ ”.

Tuy nhiên có những việc không thể nào “xập xí xập ngầu” cho “ba ve vô một hũ” như người dân nghèo được.

Nếu cứ nhắm mắt làm càn thì e rằng sẽ “mất ổn định chính trị”.

Như chuyện phân quyền trong một quốc gia “dân chủ” và “có chủ quyền” như nước Cộng Hòa Xã Hội chủ nghĩa của ta chẳng hạn.

Quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp bắt buộc phải độc lập với nhau, chứ không thể vì “thông cảm hoàn cảnh” mà nhập vô làm một được.

Nói theo kiểu hô khẩu hiệu của Nhà nước XHCN ta, thì chuyện phân quyền nhất định là “một thực thể không thể nào đảo ngược được”!

Ai cũng biết rằng:

Lập pháp nằm ở Quốc hội, cơ quan làm ra luật.

Hành pháp nằm ở Bộ Công An, cơ quan thi hành pháp luật.

Tư pháp nằm ở Tòa án, cơ quan xét xử những ai phạm luật.

Ấy vậy mà, không biết do “cái nguồn cơn” nào khiến cho Nhà nước ta lại thích chơi cái trò “bình dân học vụ” của đám dân ngu khu đen là “xập xí xập ngầu” gom ba cái quyền trên “vô chung một hũ” không cần ý kiến, ý cò gì của ai cả.

Quốc hội Việt Nam khóa 12 trong phiên họp hôm thứ Tư 25/7/2007 đã chấp thuận cho ông Trương hòa Bình lãnh nhận chức vụ Chánh Án Tòa án Nhân dân Tối cao “một cách chóng vánh, qua loa, không một đại biểu quốc hội nào được chất vấn, được hỏi và người ta cũng không phỏng vấn gì vị chánh án tòa án tối cao này”. (Bùi Tín trả lờI RFA)

Tại sao việc Quốc hội “ô kê sa lem” cho ông Trương hoà Bình nhận lãnh chức vụ trên đã làm cho dư luận trong nước “băn khoăn”?

Cái “băn khoăn” họ nêu lên là:

– Cán cân công lý được làm bằng dùi cui!

hoặc

– Bàn tay chuyên cầm dùi cui nay được giao chiếc cân công lý!

Vậy ông Trương hòa Bình là ai mà dư luận lại có cái “băn khoăn ấy?

Theo đơn tố cáo của một số thẩm phán, cán bộ Tòa án Nhân dân Tối cao gửi đến các ông lãnh đạo cao nhất nước như Mạnh, Triết, Dũng, Trọng và Chi thì ông Trương hòa Bình: trích)

“Nguyên là Thứ trưởng bộ Công An, trong tờ khai lý lịch, ghi là trình độ kỹ sư, thạc sĩ luật nhưng không hề có thời gian nào học cử nhân luật. Xét theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo muốn có học vị thạc sĩ thì phải học, có bằng cử nhân luật chính qui, không thể dùng bằng cử nhân hệ tại chức và càng không thể từ kỹ sư học thành thạc sĩ luật được.

Điều trớ trêu là đ/c Trương hòa Bình khi ở Bộ Công an phụ trách công tác xây dựng lực lượng và cũng đã nhiều lần tuyên bố đấu tranh với tiêu cực trong công tác giáo dục, đào tạo, tệ nạn sử dụng bằng giả trong ngành Công an!

Một điều đáng chú ý nữa được thể hiện rõ ràng trong lý lịch của đ/c Bình là đ/c Bình luôn chuyển công tác và mỗi lần chuyển là đảm nhiệm chức vụ cao hơn. Từ Phó cục trưởng, sang làm Phó Giám đốc Công an TP. HCM, rồi Viện trưởng Viện kiểm sát TP. HCM, lại quay về Công an làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng, Thứ trưởng và nay là Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao. Mỗi chức vụ Đ/c Bình đảm nhiệm trong một thời gian khá ngắn chưa đầy hai năm…

… Điều đó có nghĩa đ/c Bình không hiểu sâu bất cứ lĩnh vực gì mà đồng chí đã từng làm, công an không giỏi, kiểm sát chưa hay, còn tòa án thì…”

Đơn tố cáo của mấy ông thẩm phán còn kể ra nhiều cái “ưu việt” của ông Bình như từ thiếu tướng lên trung tướng chỉ có một năm khiến cho các tướng Nguyễn chí Thanh, Lê trọng Tấn, Hoàng văn Thái, Phùng thế tài, Chu huy Mân phải ngả mũ chào thua.

Đơn tố cáo còn đặt vấn đề “nói không với tiêu cực” với ông Nhân và ông Triết:

“Nhiều lần đ/c chủ tịch nước đã khẳng định điều này khi họp với ngành Tòa án và tỏ ý sẽ quyết tâm đẩy mạnh tốc độ cải cách tư pháp trong kỳ này. Nhưng liệu việc nói không với tiêu cực trong giáo dục của Chính phủ và đẩy mạnh cải cách tư pháp của chủ tịch nước có thực hiện được không khi mà người đứng đầu ngành Tòa án vẫn đang sử dụng bằng giả.

… Tất cả các câu hỏi và điều băn khoăn, trăn trở nói trên xin được gửi đến đ/c Tổng bí thư, đ/c chủ tịch nước, đ/c Thủ tướng Chính phủ, đ/c chủ tịch Quốc hội, đ/c chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương giải đáp”.

Mấy ông thẩm phán này hoặc là ngờ nghệch hoặc là “ghen ăn ghét ở” với người tài đức như ông Bình mới bày đặt bới bèo ra bọ để “khiếu kiện” gây khó khăn trong việc chọn người tài giỏi của Đảng ta rồi.

Ắt hẳn lại “nhận tiền” của “bọn phản động nước ngoài” và bị chúng lợi dụng xúi dục.

Một cái đơn tố cáo của mấy ông thẩm phán ngớ ngẩn chưa ăn thua gì.

Thêm một cái nữa của ông Bùi Xuân Sinh gửi cho Bộ Công An ngày 5/10/06. Ông Sinh viết, trích:

“Tôi là Thượng tá Bùi xuân Sinh, hiện đang công tác tại Công an TP.HCM. Với 54 tuổi đời, 35 tuổi ngành, cả cuộc đời tôi giành trọn cho Đảng, cho Ngành và không phải hổ thẹn…

Về ông Trương Hòa Bình thì tôi khẳng định là người tài ít, cơ hội nhiều. Dựa vào hai ông trùm Maphia chính trị Bùi Quốc Huy, Nguyễn Khánh Toàn mà đường quan lộ của ông Bình lên như diều gặp gió…

…Điều đáng ngạc nhiên là ông Trương Hòa Bình luôn khoe là thạc sĩ luật, nhưng tất cả mọi người từng công tác với ông Bình ở A.25, Công an TP.HCM, Viện kiểm sát TP.HCM đều khẳng định ông Bình chưa bao giờ học một trường Đại học chuyên khoa ngành luật nào cả…

Hai cái đơn cũng vẫn chưa đủ “nặng ký” để gióng lên tiếng chuông “băn khoăn” làm cho Đảng ta “băn khoăn” về sự đề cử.

Thêm một cái đơn tố cáo thứ ba nữa xem có “ép phê” làm cho Đảng ta có khả năng phản tỉnh “xét lại” cái “đỉnh cao trí tuệ” của mình không?

Đơn tố cáo của Thượng tá Nguyễn văn Đô, Tổng cục 3, Bộ Công an. Ông Đô viết, trích:

“…Người tôi muốn nói chính là ông Trương Hòa Bình, Thứ trưởng Bộ Công an. Cho đến giờ, có không ít cán bộ công an vẫn đang thắc mắc không hiểu vì sao đường thăng tiến của ông Bình lại có thể nhanh như vậy…Ông Bình bắt đầu thoái hóa và biến chất khi trở thành “trợ lý” đắc lực cho ông Bùi Quốc Huy (nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, đã bị xử lý trong vụ Năm Cam), khi đó ông Bình là Cục phó A.25. Chính ông Bùi Quốc Huy đã “đạo diễn” đưa ông Bình về làm Phó giám đốc Công an TP.HCM nhằm thao túng toàn bộ hoạt động của Công an TP. HCM. Không biết có phải gần mực thì đen không, nhưng đã có rất nhiều vụ án đã bị làm “chìm xuồng” bỏ lọt tội phạm…

Ba cái đơn tố cáo vẫn không ăn thua gì với Đảng ta.

Mặc ai nói ngả nói nghiêng, Đảng ta vẫn cứ vững như kiềng ba chân. Chó sủa mặc chó, đường ta, ta cứ đi…

Cứ như theo lời tố cáo của “những kẻ bị bọn xấu xúi dục” thì việc Đảng và Nhà nước đưa một tướng Công an chuyên cầm dùi cui chuyên chính lên làm Chánh án Tòa án Tối cao là sai à?

Ai có thể sai chứ Đảng ta là “đỉnh cao trí tuệ loài người” thì không thể sai được!

Cả một Bộ chính trị gồm mười mấy cái đầu vĩ đại, suy nghĩ, bàn bạc, sói cả đầu, bạc cả tóc, mới có thể cử ra được một người có đủ tài và đức như ông Bình, một vưu vật khó tìm trong thời buổi này, để cầm cân nẩy mực cho thiên hạ đâu phải chuyện dễ, để giỡn chơi đâu?

Ta hãy nghe ông Nguyễn văn Hiện, Chánh án Toà án Tối cao vừa mới bị thay thế, tại phiên họp Quốc hội giữa năm 2006, được chiếu trên truyền hình, than thở:

“ … Trong thời gian vừa qua, ngành Tòa án tỏ ra bất cập, nạn tham nhũng và tiêu cực đã làm cho số tội phạm tăng vọt, việc xử án chậm chạp, cán cân công lý nghiêng ngả. Ngành Tòa án khủng hoảng to, số quan tòa quá yếu lại rất thiếu đã phải “vơ vét” từ thư ký đến lái xe trong ngành để đào tạo gấp thành thẩm phán…”

Rõ chưa nào! Thẩm phán tòa án mà phải tận dụng cả cánh lái xe và thư ký để đào tạo lên ngồi ghế Bao Công thì đủ biết cái ưu việt của Đảng ta cất cánh và bơi ra biển lớn như thế nào rồi!

Thật ra thì mấy ông này chỉ là lo bò trắng răng mà thôi.

Trong thời gian phát động phong trào đấu tố để “cải cách ruộng đất” đã có biết bao nhiêu cái gọi là “Tòa án nhân dân” được dựng lên cấp tốc giữa đồng để xử bọn “trí, phú, địa hào”, mấy ông Quan tòa đâu cần ai đào tạo cũng vẫn có thể ngồi ghế Chánh án tuyên án xử tử tội nhân được cơ mà. Mà tội nhân bị xử quyết đâu phải một hay hai. Số bị án tử lên đến vài ba trăm ngàn người. Nào có thấy ai kêu oan, kêu ức gì đâu?

Nói đúng ra, thì từ ấy đến nay, cái chức Quan tòa chỉ đặt ra cho vui thôi vì cái án xử nặng hay nhẹ tất tần tật đều do Đảng bên trên chỉ đạo cả. Các con bù nhìn Chánh án chỉ khoác áo quan tòa ngồi đọc cái giấy Đảng đã ghi sẵn mà thôi.

Như cái vụ xử con Bùi tiến Dũng, con bạc triệu đô, mới đây là một ví dụ điển hình. Lúc đầu Tòa đề nghị án tù là 26 năm. Đến lúc tuyên án, mở giấy ra đọc thì chỉ còn có 13 năm. Chính ông Chánh án đọc giấy cũng há hốc mồm ra ngạc nhiên vì sợ đọc nhầm con số. Nhưng có con dấu đỏ lòm của Đảng đứng bên cạnh thì rõ ràng đúng là con số 13.

Bàn dân thiên hạ đều bưng mũi cười thầm vì đã biết rõ bản án dành cho “đồng chí” họ Bùi chỉ là đòn giơ cao đánh khẽ của Đảng mà thôi.

Nhưng ngớ ngẩn nhất là cái nhà ông Bùi Tín, hay là ông chỉ giả vờ như ông Việt Thường bên Anh quốc vẫn tố cáo là phản tỉnh cuội!

Ông đại tá Bùi Tín, Phó tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân đã có nhiều năm đắp chăn CS, đã biết tỏng trong chăn có bao nhiêu loài rận vậy mà vẫn đặt câu hỏi:

“…Điều khác thường là trong hàng chục ngàn thẩm phán các cấp, trong đó không thiếu quan tòa có hiểu biết sâu, có kinh nghiệm sống, có công tâm vẫn bị đánh giá không đủ tài đức, để Đảng phải “thả dù” vào hàng ngũ các quan tòa thời đổi mới một ông tướng cảnh sát i-tờ về luật pháp, tay vừa buông chiếc dùi cui chuyên chính để đóng vai Bao Công cầm cân công lý cho toàn xã hội.

…Để xem ông tướng Trương Hòa Bình sẽ có đủ kiến thức uyên thâm về luật pháp trong nước và quốc tế đến mức nào, sẽ xông vào một lĩnh vực cực kỳ mới mẻ với ông ra sao để thực thi nền pháp quyền mới, không lọt kẻ gian, không oan người ngay, đem luật pháp nghiêm minh vào cuộc sống.

…Chuyện cử quan tòa tối cao như thế này mà xảy ra ở một nước dân chủ thuần thục ắt sẽ gây xì căng đan cực lớn, cả xã hội sẽ biểu môi và bịt mũi chống lại, vì ai cũng hiểu từ đây tai họa bất công và oan trái có thể giáng xuống bất kỳ ai.”

Cái điều ông Bùi Tín đặt ra rất ngây thơ cụ hay ngớ ngẩn giả vờ là vì ông biết rõ đ/c Bình là không có khả năng, tư cách, đạo đức mà chỉ nhờ theo hầu hạ điếu đóm ông Thứ trưởng Công an Bùi Quốc Huy trong các cuộc ăn chơi trác táng mà nên sự nghiệp.

Thứ nữa ông cũng biết rõ là Việt Nam làm gì có luật pháp. Luật pháp chỉ ở trên mấy cuốn sách luật để làm cảnh và trình diễn cho quốc tế đến xem mà thôi.

Như vụ xử Cha Lý vừa qua cho thấy phiên tòa không có luật sư biện hộ, chỉ có công tố viện buộc tội. Khi bị can cãi thì bị bịt miệng.

Và còn rất nhiều vụ bắt giữ không cần lý do, xử không cần chứng cớ và phán án thì tha hồ. Muốn bi nhiêu thì bi.

Môt đ/c công an xách kiếm rượt chém mấy đ/c bảo vệ phi trường mà chỉ phạt có 5 triệu rồi huề cả làng, chỉ vì đ/c công an này là quí tử của ông chủ tịch tỉnh Bình Dương. Nếu một anh dân ngu khu đen mà phạm tội kiểu ấy, thì 600 tờ báo Đảng ta sẽ a dua, hùa lên sủa, kết tội ít nhất cũng năm, mười cuốn lịch cho bỏ cái tật: “chống lại nhân viên thừa hành công vụ và phá rối trị an” thay cho Tòa án, nhất là tờ Công An Nhân dân hay tờ An Ninh thế giới.

Duy chỉ có một điều có thể tin ông Bùi Tín là ông luôn “băn khoăn” trong lòng lo cho cái Đảng của ông:

“ Bộ máy quản lý nhân sự của Đảng Cộng sản, ban tổ chức trung ương, ban nội chính trung ương vẫn cổ lỗ như thời 20 năm trước, vẫn coi thường đội ngũ thẩm phán các cấp, càng coi thường gần 500 đại biểu quốc hội mới. Nhiều người am hiểu thấu đáo bộ máy cho biết đây có thể có sự nhúng tay sâu của một thế lực MA quái dai dẳng tệ hại.”

Ở những nước văn minh chỉ có “vỏn vẹn một lần dân chủ” không thể so bì với Việt Nam Xã Hội chủ Nghĩa ta, “triệu lần dân chủ hơn đế quốc” thì đều theo phép tam quyền phân lập mà trị quốc an dân.

Tổng thống hay dân phạm tội đều được xử như nhau.

Nhưng Việt Nam ta thì khác. Như Ngài Tổng bí thư Mạnh đã phán: “Nước Việt Nam có luật pháp riêng theo hoàn cảnh của Việt Nam”.

Cho nên trong thời gian mười năm, từ 1975 đến 1985, Nhà nước ta thi hành chính sách “kinh tế chỉ huy” khiến cho cả nước đọi quá, đành phải “đổi mới”, tạm cất cái chính sách “chuyên chế” vào kho và chạy theo đế quốc để “làm kinh tế thị trường” cứu đói.

Chỉ mấy năm sau, từ cái quá đói bỗng chuyển sang cái no bội thực, khiến cho dân tình hỗn loạn, tệ nạn phát sinh, mạnh ai nấy lo mánh mung làm giàu, từ đảng viên cho chí dân đen, đều nhắm mắt nhắm mũi chạy theo đồng tiền.

Xã hội phút chốc trở nên suy đồi, giá trị đạo đức không còn. Mọi việc lớn nhỏ đều lấy tiền làm thước đo. Trong dân gian xuất hiện câu vè “Tiền” để mô tả cái xã hội đảo điên lúc bấy giờ:

Tiền là Tiên là Phật

Là sức bật của tuổi trẻ

Là sức khoẻ của tuổi già

Là cái đà danh vọng

Là cái lọng che thân

Là cán cân công lý

Đồng tiền là hết ý

Nhưng vào thời điểm hiện nay của cái năm 2007, thời điểm của Việt Nam là điểm hẹn, là của cú nhấn, cú huých, của cú nhảy, của mũi nhọn… thì “tiền” vẫn chưa phải là sức mạnh duy nhất để “giữ vững ổn định chính trị” trong nước để Việt Nam chuẩn bị vừa “bơi ra biển lớn” lại vừa “cất cánh bay cao, bay xa”.

Càng ngày, người dân bị Đảng viên Cộng sản cướp đất, cướp ruộng ở nông thôn nổi lên khiếu kiện càng đông.

Trước những áp bức, kềm kẹp bất công hà khắc của Đảng, những người bất đồng chính kiến nổi lên đòi quyền tự do ngôn luận, tư do nhân quyền ngày càng nhiều thì Đảng còn cần thêm một sức mạnh khác nữa để đàn áp dập tắt những mầm mống “mất ổn định” này.

Đó chính là dùi cui! Dùi cui thay cho luật pháp.

Kinh Mác Lê chỉ tóm gọn trong hai điều cơ bản:

Khi tiến hành các cuộc cướp chính quyền thì sức mạnh cách mạng nằm ở họng súng.

Khi nước nhà đã “độc lập tự do hạnh phúc”, muốn trị quốc an dân thì sức mạnh phải nằm ở “dùi cui”.

Đó là lý do tại sao Nhà nước ta và Đảng ta chơi cái trò không giống ai đối với công pháp quốc tế là cái trò “ba ve vô một hũ” để có một ông tướng Công an Trương Hòa Bình vừa là đại biểu quốc hội (làm ra luật), vừa là nha sai đi bắt người (cơ quan hành pháp) lại vừa là quan tòa xử án (cơ quan tư pháp).

Cả ba quyền đều gồm thâu vào một tay ông Bình. Thiệt là chí lý!

Và cũng chẳng là điều ngạc nhiên gì khi người ta nhận ra rằng ông Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng cũng là Công an.

Em cùng cha (tướng Nguyễn chí Thanh) khác mẹ của ông Dũng là Nguyễn chí Vịnh cũng là xếp sòng ở Bộ Công an.

Nay ông Trương Hòa Bình, tướng Công an, (cũng có thể) cùng mẹ khác cha với hai ông Dũng và Vịnh lên nắm Bộ Tư pháp mới thiệt đúng “logic” là bộ tam sên.

Một Nhà nước độc tài chuyên chế vẫn tồn tại được là nhờ xây dựng trên chế độ Công an trị thì Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp đều phải qui về một mối mới đúng bài bản “tam pháp đồng qui”.

Bây giờ cán cân công lý đã được làm bằng dùi cui rất chắc chắn.

Nay mai dân oan khiếu kiện hay các nhà bất đồng chính kiến “được mời” vô Hỏa Lò nghỉ mát một thời gian rồi ra hầu tòa, sẽ chứng kiến cảnh ông Trương Hòa Bình ngồi ghế Chánh án, thay vì gõ bằng búa gỗ để ra uy, ông Bình sẽ gõ xuống bàn bằng dùi cui.

Tiếng dùi cui nghe chát chúa, uy võ sẽ còn chấn động gấp trăm lần hơn tiếng búa.

Không khí xử án sẽ cực kỳ căng thẳng thần kinh, sẽ giống y chang cái thuở ban đầu “cải cách ruộng đất” lưu luyến ấy!

Hoan hô bộ tam sên Dũng, Vịnh, Bình!

Hoan hô Nhà nước Việt Nam triệu lần dân chủ với chủ nghĩa “Tam pháp đồng qui”!.

Hoan hô dùi cui!

Dùi cui muôn năm!

Nguyễn Thanh Ty

http://www.hon-viet.co.uk/NguyenThanhTy_BaVeMotHu.htm


hồ chí minh súc vật, nông đức mạnh súc vật, nguyễn tấn dũng súc vật, nguyễn minh triết súc vật, dcsvn súc vật, ditmecodosaovang, ditmehochiminh, ditmenongducmanh, ditmenguyentandung, ditmenguyenminhtriet, dadaocongsan, latdocongsan, tieudietcongsan, hochiminhsucvat, sucvathochiminh, sucvatnongducmanh, sucvatnguyentandung, sucvatnguyenminhtriet, dadaovietcong, iavaomathochiminh, iavaomatnongducmanh, iavaomatnguyentandung, iavaomatnguyenminhtriet, súc vật lê khả phiêu, lê khả phiêu súc vật, suc vat le kha phieu, le kha phieu suc vat , lekhaphieu, suc vat vo nguyen giap, sucvatvonguyengiap, vonguyengiapsucvat, súc vật võ nguyên giáp, võ nguyên giáp súc vật, ditmevonguyengiap, iavaomatvonguyengiap

Giao dan Thai Ha ngao nghe khi viet cong tran ap 27-3-2009

Giao dan Thai Ha ngao nghe khi viet cong tran ap 27-3-2009 from hochiminhsucvat on Vimeo.

http://www.vimeo.com/3965094

http://www.vimeo.com/user1446544


hồ chí minh súc vật, nông đức mạnh súc vật, nguyễn tấn dũng súc vật, nguyễn minh triết súc vật, dcsvn súc vật, ditmecodosaovang, ditmehochiminh, ditmenongducmanh, ditmenguyentandung, ditmenguyenminhtriet, dadaocongsan, latdocongsan, tieudietcongsan, hochiminhsucvat, sucvathochiminh, sucvatnongducmanh, sucvatnguyentandung, sucvatnguyenminhtriet, dadaovietcong, iavaomathochiminh, iavaomatnongducmanh, iavaomatnguyentandung, iavaomatnguyenminhtriet, súc vật lê khả phiêu, lê khả phiêu súc vật, suc vat le kha phieu, le kha phieu suc vat , lekhaphieu, suc vat vo nguyen giap, sucvatvonguyengiap, vonguyengiapsucvat, súc vật võ nguyên giáp, võ nguyên giáp súc vật, ditmevonguyengiap, iavaomatvonguyengiap