Vot Nguoi Bien Dong

Phần 1:

http://www.youtube.com/watch?v=56fUHVWJLdI

Phần 2:

http://www.youtube.com/watch?v=7qAa82XGpso

Phần 3:

http://www.youtube.com/watch?v=Vr3agqTpx6Q

Phần 4:

http://www.youtube.com/watch?v=FdqAlqsfiN8


http://www.youtube.com/user/honnhien29

Advertisements

GHPG sư công an sư quốc doanh mở nhiều Chùa hải ngoại

ĐẢNG CSVN VÀ GIÁO HỘI PGVNTN: MỘT ĐỒNG MỘT CỐT!

ĐẢNG CSVN VÀ GIÁO HỘI PGVNTN: MỘT ĐỒNG MỘT CỐT!

• CÁO HỒ VÀ QUẢNG ĐỘ CÙNG ĐỂ RÂU DÀI VÀ BÉO ĐỎ HỎN. THẦY CHÙA VÀ ÁC CHÚA NÀO KHÁC GÌ NHAU!

• ĐẶNG VĂN NHÂM

Chẳng khác nào đảng CS Nga trong cuộc cách mạng tháng 10 năm 1917, từ khi mới phát động cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lăng vào mùa Thu năm 1945, đảng CSVN đã nhân danh “cách mạng” giết hại không biết bao nhiêu lương dân vô tội, hàng vạn những nhà trí thức yêu nước không đồng chính kiến. Nhất là đại tội đã lừa gạt dân tộc đồng bào.Suốt 80 năm nay đảng đã cho cả nước ăn toàn bánh vẽ dân chủ, tự do và hạnh phúc!

Vốn là một vệ tinh (satellit) trung tín nhất của đảng CSVN từ những ngày đầu tiên của cuộc khởi nghĩa, giới thầy chùa, thầy cúng, ông đồng bà cốt, nay tụ tập trong cái gọi là giáo hội PGVNTN cũng đã từng tuân hành chỉ thị của đảng, lợi dụng danh nghĩa Phật, gây nên không biết bao nhiêu tội ác đẫm máu trong bóng tối lẫn công khai ngoài ánh sáng đối với đồng bào và các giới tín đồ Phật tử ngu muội, cuồng tín. Nhưng đại tội vô lường của các giới tăng ni núp bóng trong tổ chức Phật Giáo VIỆT NAM Thống Nhất, quan trọng nhất, trầm trọng nhất, đến mức không bao giờ lịch sử dân tộc có thể tha thứ được là: phản bội, lừa gạt đức tin của các giới Phật Giáo Đồ, đồng thời gây phá sản tín ngưỡng cho đạo Phật! Ảnh hưởng tai hại của nó về mặt tinh thần và tư tưởng sẽ còn kéo dài mãi đến nhiều đời sau, không dứt.

Tôi viết khẳng định như trên chẳng phải hàm hồ, ác ý gì với tổ chức PG. Ngược lại, trước tiên tôi là người mến mộ đạo Phật hơn đạo khác. Nhưng càng ngày trường đời và bọn giặc thầy chùa nhan nhản từ năm 1963 đến nay càng dạy thêm cho tôi những bài học thực tế để kịp mở mắt ra mà xa lánh bọn người hư đốn, cả đời chỉ ăn hại đái nát ấy.

XÉT VỀ CÁC TỘI ÁC CỦA ĐẢNG CS

Tuy cùng theo đuổi một chủ nghĩa giáo điều Cộng Sản, nhưng tùy tình trạng dân trí mỗi nước – trong đó bao gồm luôn cả trình độ kiến thức của giới lãnh đạo – mà lề lối cai trị và cung cách đãi ngộ giới văn học khác nhau. Thí dụ như : Nga, Tàu,Việt Nam và Căm Bu Chia…

Bọn Khmer Đỏ sau khi đã vùi dập, tàn sát trên 3 triệu đồng bào ruột thịt vô tội, gây chấn động khủng khiếp lương tâm nhân loại, đến khoảng đầu năm 1999, một lãnh tụ CS là Khieu Sam Phan khi về thủ đô Nam Vang tiếp xúc với thủ tướng Hun Sen đã thốt lời đáng tiếc hững hờ: ”Je suis désolé…, très désolé!”.
Mỉa mai thay cho số kiếp trên 3 triệu con người. Nhưng thà vậy còn hơn không một ai nói lời nào cả như các nhà lãnh đạo đảng CSVN từ 1975 đến nay!

Còn Nga Sô, ngay sau khi Stalin qua đời, nhân kỳ đại hội đảng lần thứ XX, ngày 14.2.56, tại Moskva, đảng CS Sô Viết đã đề ra chiến dịch ”giải trừ Stalin”. Vài tuần sau đó, ngày 6.3.56, đảng CS Nga khởi sự phục hồi danh dự cho các cựu chiến sĩ cách mạng đã từng bị Stalin thanh trừng. Đến ngày 4.2.1988, đảng CS Nga phục hồi danh dự cho 10 nhân vật trí thức đã bị Stalin sát hại vào tháng 3.1938. Đến ngày 13.8.1990 nhà cầm quyền Nga Sô đã phục hồi danh dự cho tất cả các nạn nhân đã bị CS Sô Viết sát hại suốt trong hai thập niên từ 1920 đến 1930, dưới thời Stalin cai trị.

Nhưng đặc biệt đáng kể nhất là vụ phục hồi danh dự cho gia đình hoàng gia Nga, gồm Nicolai Đệ Nhị, hoàng hậu Alexandra Féodorovna, và thân tộc… Hôm ấy là ngày 17. 7. 1998, tức là 80 năm sau vụ thảm sát những nhân vật cuối cùng của hoàng gia, trong một cuộc thánh lễ trọng thể theo nghi thức tôn giáo cổ truyền, thi hài của Sa Hoàng Nicolai II và hoàng hậu Alexandra Féodorovna, đã được cung kính mai táng dưới hầm mộ của Thánh đường Saint Pierre và Paul ở Petersbourg, trong lăng tẩm của triều đại Romanov, kể từ thời Sa Hoàng Pierre Đại Đế ( Pierre le Grand). Các công chúa và hoàng tử cùng với những thân nhân khác đã bị tàn sát cùng một lúc dưới căn hầm trong ngôi nhà của Ipatiev ở Iekaterinbourg cũng đã được tẩn liệm kề bên, gồm: ba Công Chúa Tatiana, Olga và Anastasia, viên y sĩ riêng của hoàng gia Evgueni Botkine, người đầu bếp Ivan Kharitonov, bồi phòng Anna Denidova, và nhân viên tạp dịch Alois Trupp. Tuy nhiên còn thiếu thi hài của hai nhân vật hoàng gia nữa là: Hoàng Tử Alexis và Công Chúa Maria, vì thi hài của họ đã không tìm thấy trong cuộc khai quật chính thức năm 1979.

Cuộc cải táng long trọng này là một cuộc lễ đánh dấu cho sự ” chuộc tội”( Pokoyaniyé) và ” hòa giải”( Soglassiyé). Hai danh từ ấy xuất xứ do nguồn gốc thần học” Chính Thống giáo ” của Nga (Orthodoxe). Riêng đối với dân tộc Nga, và các giới trí thức, văn học Nga, người ta còn coi buổi lễ phục hồi danh dự cho gia đình hoàng gia trong ”vụ án thảm sát Iekaterinbourg” như là một hành động phục hồi danh dự cho tất cả những nạn nhân vô danh đã bị giết hại dưới hai chế độ ” Leninisme” và ” Stalinisme”, để tiến tới mục tiêu hòa hợp, hòa giải có tính cách kế tục của dân tộc Nga.

Nay, trước tấm gương ” PHỤC HỒI DANH DỰ ” cho gia đình hoàng gia Nga, cùng với các nhà văn, nhà thơ, khoa học gia Nga… của các nhà cầm quyền Sô Viết như kể trên, chúng ta nhận ra đảng CS Nga và đảng CSVN vốn khác nhau như trắng với đen. Đảng CS Nga, sư tổ của CSVN, biết nhận lỗi và sửa sai lỗi lầm của mình trong quá khứ. Ngược lại, đảng CSVN đã không nhận thấy (hay không thấy, không chấp nhận?) những sai lầm đẫm máu cực kỳ kinh tởm của họ trong quá khứ và ngay cả hiện tại.Những sai lầm ghê gớm ấy hãy còn nằm sờ sờ trong ký ức mọi người dân miền Nam hiện đang sống sót trong nước và hải ngoại. Cũng có thể, đảng CSVN đã chà đạp và khinh thường đồng bào dân tộc cả nước VN, chớ không biết khôn ngoan như đảng CS Nga Sô Viết!

Nên nhớ cho kỹ, trong 30 năm khói lửa, khởi từ cuộc ”kháng chiến mùa thu năm 45 ” đến cuộc ” đại thắng mùa xuân năm 75”, người CSVN đã ba lần đắc tội với đồng bào dân tộc dưới hai chiêu bài: ” VIỆT GIAN” và ”MỸ NGỤY”.

– Lần thứ nhất, năm 1945, sử dụng chiêu bài” VIỆT GIAN”, CSVM đã chém giết bừa bãi rất nhiều thường dân vô tội. Lịch sử còn ghi: Nhiều người đã bị CSVM chặt đầu, mổ bụng chỉ vì trong nhà có vài quyển sách giáo khoa bằng tiếng Pháp, hay quần áo có màu mè sặc sỡ, xanh, đỏ , trắng , vàng v.v…Mặt khác, CSVM cũng chụp cái mũ” VIỆT GIAN” lên đầu cả những kẻ có tư thù, hay những người không cùng một đường lối yêu nước như VM…

– Lần thứ nhì, năm 1954, sau hiệp định đình chiến Genève, đảng CSVN đã dùng lời đường mật gian trá, kêu gọi hàng trăm ngàn viên chức nhà nước và quân đội QG đang phục vụ ở miền Bắc vĩ tuyến cùng với gia đình , thân nhân ở lại miền Bắc. CS hứa hẹn họ sẽ được đãi ngộ không phân biệt. Người nào chức vụ gì sẽ được tiếp tục làm việc nấy…
Nhưng chỉ khoảng vài tháng sau, bất ngờ đảng CS phát động chiến dịch tập trung hết số người ấy rồi đưa lên các vùng rừng thiêng nước độc miền thượng du Bắc Việt với đôi bàn tay trắng, để nhờ thiên nhiên, khí hậu khắc nghiệt và bịnh hoạn tiêu diệt dùm!

– Lần thứ ba, năm 1975, sau ” đại thắng mùa xuân”, CSBV đã hồ hỡi, phấn khởi quá mức trước sự phồn thịnh, sung túc của đồng bào miền Nam nên đả sử dụng chiêu bài ” DIỆT NGỤY” để thực hiện tất cả những hành động đặc trưng thổ phỉ dã man nhất của hình thái” chiến tranh xâm lăng”, gồm: Bắt giam kẻ chiến bại làm tù binh, trấn lột tài vật, cướp đoạt nhà cửa, ruộng đất trên phần đất bị xâm lăng, coi như ”chiến lợi phẩm”!

Muốn nhanh chóng cướp đoạt đồng loạt hết sạch tài sản của tòan thể quần chúng chiến bại miền Nam, người CSBV đã tung ra chiến dịch” đánh phá tư sản, mại bản”, dùng võ lực cưỡng bách họ đi” vùng kinh tế mới” với hai bàn tay trắng, để cho họ phải chết dần mòn nơi rừng thiêng nước độc, vì bịnh tật,thú dữ v.v…

Điều này, đúng 19 ngày trước khi cờ của quân ”giải phóng miền Nam” và cờ của quân CSBV kéo lên giữa thủ đô Sài Gòn, chính đại văn hào Nga, giải Nobel văn chương, Alexandr Soljenitsyn, đã tiên đoán không sai:”Tout le Vietnam sera transformé en un camp de concentration!”. ( ngày 11.4.75).

Xét lịch sử ”chiến tranh giải phóng dân tộc”, từ cổ chí kim, từ Âu sang Á, chưa bao giờ đã xảy ra một cuộc ” giải phóng” nào mà hình ảnh chiến thắng lại cực kỳ tương phản, đẩm máu,và đẫm nước mắt đắng cay của người dân lương thiện được … ”giải phóng” như CSBV đã thực hiện năm 1975.

Trong cuộc” ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN ”năm ấy, quân ”giải phóng” từ miền Bắc kéo vào miền Nam đã lũ lượt, hớn hở cùng nhau chuyển kìn kìn đủ các loại” CHIẾN LỢI PHẨM” từ cái bát, đôi đũa đến chiếc xe đạp, xe gắn máy, cái máy may, chiếc đồng hồ, cái radio, tủ lạnh v.v… là những thứ mà quân ”giải phóng miền Bắc” không có, hoặc chưa từng thấy bao giờ , về miền Bắc. Trong khi đó, ngược lại, dân chúng vô tội miền Nam, những kẻ được ” giải phóng” lại phải gạt nước mắt, âm thầm lén lút, trút bỏ tài sản, ruộng, vườn, quê cha đất tổ…cho ” quân giải phóng”tha hồ cướp đoạt, để bồng bế, dắt díu nhau lao đầu ra biển cả, thà làm mồi cho cá và hải tặc , gây nên một làn sóng chấn động khủng khiếp trong lương tâm nhân loại…

Những hành động kể trên đã khắc sâu thêm mối hận thù chia rẽ Bắc/ Nam không bao giờ phai nhạt. Nay, 25 năm đã qua, không còn mấy ai nhắc đến mối hờn ”giải phóng dân tộc” đó nữa. Như thế, chẳng phải mọi sự không hay kể trên đã theo thời gian đi vào quên lãng, mà thực ra nó đã đóng khối và chìm sâu trong tâm thức của con người đến truyền tử lưu tôn, đồng thời khắc ghi đậm nét trong lịch sử dân tộc đến vạn đời sau, không ai xóa được.

XÉT VỀ ĐẠI TỘI CỦA PHẬT GIÁO VÀ BỌN ÁC TĂNG TAY SAI CS.

Thiết tưởng, bây giờ, nơi đây tôi chẳng cần mất thì giờ biện giải lòng vòng, vì ai là người có chút hiểu biết sơ đẳng về giáo lý chân truyền của Phật Giáo ( PG) đều thừa biết từ nguồn gốc giáo lý do Phật Thích Ca chủ trương đã mang tính vô thần. Tuy tính cách vô thần của PG có khác phần nào với chủ thuyết vô thần của Karl Marx, mà đảng CSVIỆT NAM đã tôn thờ, gieo trồng và thực hiện trên đất nước ta từ năm 1930 đến nay. Vì cùng một bản chất như thế, nên khi gặp môi trường giao thoa thích hợp CS và PG rất dễ dàng kết hợp với nhau. Đó là sư hiển nhiên, đúng cả về mặt khoa học vật lý lẫn tâm cảm.

Riêng về mặt sinh tồn của PG, ngay từ thời Thích Ca còn tại thế, vì chủ trương của PG là tị thế, chiết ái, ly gia, nên từ ông Phật đến các đại đệ tử cùng với cả tăng đoàn đã phải tìm mọi cách sống bám vào các giới vua chúa quyền lực, giàu có. Suốt trên 2500 năm qua, lối sống ký sinh ấy đã biến thành truyền thống. Thế rồi, vì đời sống ngày càng thêm khó khăn, sinh nhai cạnh tranh thêm gay gắt, nên truyền thống ký sinh ăn bám của giới tăng ni VN ngày càng thêm tệ hại, tạo nên nhiều điều ô nhục không sao kể siết.

Muốn biết thời phong kiến, bọn tăng ni sống tồi bại như thế nào, hãy đọc quyển Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh. Đến thời Pháp thuộc, bọn này dễ dàng làm tay sai cho thực dân (đặc biệt thời toàn nquyền Decoux). Một mặt họ ngầm làm điềm chỉ viên (indicateur) cho bọn chó săn Tây. Mặt khác họ thực hiện kế hoạch của thực dân là ru ngủ quần chúng bằng những trò mê tín, dị đoạn: cúng quảy, tế lễ, bói toán, phong thuỷ, gọi hồn v.v…

Đến khi cuộc kháng chiến mùa Thu bùng nổ trên toàn quốc (1945), bọn người này giống hệt bọn thầy chùa, thầy cúng ở Trung Hoa thời Mao Trạch Đông, đương nhiên trở thành một lực lượng yểm trợ vô cùng đắc lực về các mặt cho CS. Họ đảm nhiệm các công tác: tuyên truyền rỉ tai, cung cấp nhân sự, thông tin điệp báo, tổ chức hậu cần, tiếp liệu thực phẩm, thuốc men, giao liên, tàng trữ võ khí, chứa chấp đặc công, gây rối loạn chính trị và nội an thường xuyên…ngay trong lòng địch. Khi gặp thời cơ nổi dậy, các chùa chiền, am miễu đều nhất loạt biến thành các“ mũi nhọn xung kích”.

Nên biết: giáo hội PGVNTN, gia đình Phật Tử, trong chế độ CSVN chẳng khác nào Mặt Trận Tổ Quốc, hội Nhà Văn, hội Phụ Nữ , hội Trí Thức Yêu Nước v.v…Tất cả đều chỉ là những tổ chức quần chúng, xây dựng quần chúng, tập họp quần chúng để cho đảng chỉ huy và sai khiến. Muốn cho dễ hiểu hơn, tôi mạn phép ví các tổ chức ngoại vi kể trên, trong số đứng đầu là giáo hội PGVNTN chẳng khác nào những con chó săn chuyên bầy lùa trừu đông đảo vào chuồng cho bọn chăn trừu ở xứ Tô Cách Lan xử trí, hớt lông, làm thịt v.v…

Những đại công trạng ấy, các tôn giáo khác như : Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hoà Hảo v.v…làm sao có được?! Nếu không nói là đã bị đảng CSVN liệt vào hạng:” đại phản động”, có nợ máu với nhân dân, cần phải tiêu diệt!

Cậy vào đại công ấy, tổ chức PGVNTN, hiện nay do Huyền Quang và Quảng Độ lãnh đạo đã không ngớt công khai đòi CSVN phải trả công hậu hĩ. Sự trả công không được vừa ý , PGVNTN lại giờ trò đấu tranh và xách động quần chúng PG đồ!
Đó là về mặt hoạt động chính trị và thủ đoạn đấu tranh đòi quyền lực, địa vị và bổng lộc của GHPGVNTN đối với đảng CSVN.

Bây giờ, ta thử kiểm điểm đến những sai lầm và tội lỗi tự bản thể của GHPGVNTN tại miền Nam trong suốt quãng thời gian dài từ 1954 đến nay 2008 cả ở trong và ngoài nước. Quan trọng nhất là đại tội gây rối loạn, vu khống chế độ đệ nhất CH miền Nam đàn áp PG, lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm, thao túng nền đệ nhị CH do Thiệu- Kỳ cầm quyền, đem bàn thờ xuống đường, tàn sát đồng bào TCG di cư trong vùng Thanh Bồ – Đức Lợi, tiếp tay quân CSBV trong vụ tấn công Tết Mậu Thân, bắt giam các giới quân cán chính VNCH vào trong chùa, để tra tấn, và giết đồng bào vô tội, kể cả đàn bà , trẻ em ở các tỉnh miền Trung trong những ngày cuối cùng tháng 4.75.

Sau năm 1975, trốn ra hải ngoại, giới thầy chùa tội lỗi lại còn thừa thắng xông lên, tạo thêm ra các đại tội: dâm loạn, lường gạt đức tin của tín đồ ngu dại, thất học, trấn lột tiền bạc của đàn na thí chủ, tranh cướp tài sản lẫn nhau…Những đại tội này nhiều đến nỗi không sao kể siết. Thậm chí bọn thầy chùa tự mệnh danh đại lão hoà thượng, chức sắc cao cấp trong tổ chức PGVNTN cũng không tránh khỏi. Đáng kể gồm: Thích Hộ Giác, Thích Chánh Lạc, Thích Mãn Giác, Thích Nhất Hạnh, Thích Nguyên Siêu, Thích Trí Minh, Thích Phước Huệ, Thích Huyền Vi v.v…và v.v….!

Những tội ác dã man, đáng ghê tởm ấy chứng minh hùng hồn thực chất PGVNTN chỉ là một tổ chức băng đảng tội ác, tu hành giả mạo, mượn danh Phật, núp trong cửa chùa và đội lốt cà sa để thực hiện mục tiêu đen tối của một lũ người bất lương, ung nhọt của xã hội thời loạn lạc. Tại sao bây giờ tôi dám to gan kết luận khẳng định chắc nịch: giáo hội PGVNTN chỉ là một băng đảng tội ác, vô luân, vô lương tâm, vô kỷ cương nhất trong lịch sử băng đảng tội ác đáng ghê tởm nhât thế giới?
Tôi, Đặng Văn Nhâm này, đã điên loạn chưa? – Xin thưa, chưa! Tôi còn sáng suốt và minh mẫn lắm!!!
Xin mời bạn đọc và hải nội chư quân tử, thức giả bốn phương hãy phán xét những điều tôi minh chứng sau đây. Đúng hay sai, xin quí vị cứ lấy công tâm phê phán. Tôi sẽ rất vui được đón nhận bất cứ lời phê phán minh lý của quí vị, dù nặng nề , đau đớn đến cỡ nào!

Như mọi người đều biết, như trên tôi đã kể sơ lược, từ năm 1954 đến nay 2008, bọn giặc thầy chùa trong tổ chức PGVNTN đã gây ra vô vàn tội ác đau thương cho đồng bào và đất nước. Nhưng, trên nửa thế kỷ nay, có ai được nghe một anh thầy chùa nào tự “XÁM HỐI” tội lỗi chung cho cả tập thể, hay của riêng cá nhân hắn không?
Riêng Huyền Quang , Qủang Độ, Hộ Giác, Chánh Lạc …và đám thầy chùa chức sắc cao cấp lâu nhâu trong các viện Tăng Thống và H oá Đạo của băng đảng vô luân PGVNTN có một kẻ nào đủ can đảm, hoặc còn sót chút liêm sỉ tối thiểu trong đầu dám công khai đứng ra nhìn nhận đại khái một vài tội lỗi trước quần chúng Phật Tử hay không?
Hiển nhiên tuyệt đối không! Đúng vậy không?!

Hơn thế giới thầy chùa còn luôn luôn tỏ ra ù lì cách trơ trẽn, cứ bịt mồm, bịt tai, bịt mắt, như bầy thú vô tri giác trước các tội lỗi dâm loạn ghê tởm đành rành, đã phơi bày trần truồng trước công luận khắp thế giới của các đồng bọn như Chánh Lạc, Hộ Giác, Nguyên Siêu, Trí Minh, Phước Huệ, Trí Hải v.v…Mặt khác Võ Văn Ái và đám PT tay sai mù quáng còn cố tình đánh bóng, mạ kền xú danh cho bọn ma tăng ấy, rồi thi nhau nâng đỡ, bao che cho đồng bọn tội lỗi ấy lên hàng chức sắc cao cấp trong tổ chức!

Chứng kiến những trò tu hành bịp bợm, những hành vi gian ác , hạ cấp đến mức đáng phỉ nhổ như thế của giới thầy chùa VN, tôi không khỏi mắc cở khi thấy đức giáo hoàng Jean Paul II (đệ Nhị) đã dám công khai phá bỏ bức tường kiên cố của quá khứ lịch sử Thiên Chúa Giáo La Mã thời Trung Cổ xa xưa mà xin lỗi các sắc dân châu Mỹ La Tinh đã từng là nạn nhân của một chính sách sai lầm. Ngài cũng đã tỏ ra đau buồn và hối hận về những hành động xử tội oan ức đối với các thiên tài khoa học của nhân loại như: Galillé và Bruno…do các toà án giáo hình (requisition) thời Trung Cổ (TK XVI) chủ trương.

Mới đây nhất, tin tức báo chí thế giới (từ khoảng ngày 15 đến 21. 4. 08) còn loan tin nóng hổi về cuộc vi hành của đương kim giáo hoàng Bénedict XVI đã đến Hoa Kỳ để cầu nguyện chung với các giới tín đồ và uỷ lạo, tạ lỗi với các nạn nhân tình dục của một số tu sĩ TCG La Mã đã không đủ nghị lực và kém đức tin. Mặc dù các nạn nhân lạm dụng tình dục ấy ( sexo abuse) đã được toà thánh đền bồi vật chất xứng đáng!
Hành động như thế của giáo hoàng Bénédict XVI đã cho ta thấy rõ sự khác biệt giữa những nhà tu hành chân chính, đáng kính phục, của một tôn giáo lớn có qui củ nghiêm minh, tổ chức chặt chẽ nhất hoàn cầu, với bọn bất lương, dốt nát, núp trong tổ chức GHPGVNTN, làm tay sai cho CS , để mưu cầu danh vọng thấp hèn và tài lợi lặt vặt cho cá nhân.

ĐẢNG CSVN VÀ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VN THỐNG NHẤT GIỐNG NHAU NHƯ ĐÚC!

Tóm lại, qua sự nhận xét , qua các luận chứng đã trình bày trên, chắc hẳn mọi người đều kịp nhận ra giáo hội PGVNTN hoàn toàn giống hệt với đảng CSVN!
Nếu đảng CSVN đã dám công khai tuyên bố : đảng không bao giờ sai lầm. Nếu có sai lầm đẫm máu dân vô tội, như vụ cải cách ruộng đất 53-54 tại miền Bắc, thì đảng chỉ đưa con dê tế thần ra nhận lỗi rồi sửa sai qua loa thôi. Chớ đảng vẫn không xin lỗi và không bồi thường cho ai hết!

Giáo hội PGVNTN cũng thế. Phật đã tuyên bố :” Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn!”. Vậy cho nên ngày nay đám giặc thầy chùa có can tội giết người, trấn lột tiền bạc, lường gạt tài sản của bá tánh, hiếp dâm nữ đệ tử con nít…thì vẫn là…thầy chùa trơ trơ, chẳng cần xám hối, chẳng phải xin lỗi đứa nào hết, dù là chính nạn nhân!
Kết luận, bây giờ , trước nghịch cảnh này, vấn đề đã trở nên không lối thoát. Cuộc đối thoại giữa quần chúng dân tộc với đảng CSVN ngoan cố, cũng như đối với băng đảng tội ác, PGVNTN, ù lì, đã hoàn toàn bế tắc. Vậy, thiết tưởng chúng ta chỉ còn mong đợi nơi trí khôn, óc sáng suốt, và lòng căm phẫn với đức tính can đảm truyền thống của dân tộc mà đồng tâm, nhất chí đứng lên hành động khai thông mối quốc nạn này cho đại khối dân tộc mả thôi!

ĐẶNG VĂN NHÂM

GHI CHÚ:
cái chết tức tưởi, mờ ám của hai cha con nhà đại văn hào Maxime Gorki (*) (thời Stalin), cùng với những hành động áp bức, khống chế, nhục mạ, đày đọa các nhà văn Boris Pasternak(*) ( tác giả danh phẩm Dr. Zhivago, giải Nobel văn chương), Alexandr Soljenitsyn (*) (tác giả các danh phẩm:” Một ngày của Ivan Denissovitch”- giải Nobel-, và ” quần đảo ngục tù/ Archipel du Goulag”), nhà thơ Evgueni Evtouchenko(*), nhà thơ Rojdevstevenski(*), nhà văn Doudintsev(*), sử gia Andre Amalrik(*), nhà văn Alexandre Zinoviev(*), và khoa học gia Andrei Sakharov(*) (cha đẻ bom H của Nga) v.v…

http://www.dangvannham.com/modules/news/article.php?storyid=772

BẤT TUÂN DÂN SỰ: "DÂN KHỔ" – BẤT TUÂN DU LỊCH: "ĐẢNG KHỐN"!

BẤT TUÂN DÂN SỰ: “DÂN KHỔ” – BẤT TUÂN DU LỊCH: “ĐẢNG KHỐN”!

TRƯƠNG MINH HÒA (Tinparis.net)

Lời người viết: Thông cảm trước nổi thống khổ của đồng bào ở quê nhà và nhất là các tôn giáo đang bị bọn quỷ đỏ vô thần tìm đủ mọi cách để triệt hạ, theo như lời dạy của đại quỷ vương Karl Marx:” tôn giáo là thuốc phiện”. Do đó người viết rất kính trọng bất cứ những ai dám đứng lên chống lại bạo quyền, họ là những người cam đảm và trong số đó có Huề Thượng Thích Quảng Độ. Tuy nhiên, không phải vì thế mà không nêu lên những tên” giả giờ phản tỉnh, lừa phỉnh đồng bào” như Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Trần Khuê, Trần Độ, Nguyễn Khắc Toàn….và cũng đóng góp vài ý kiến, trong tinh thần dân chủ về cuộc đấu tranh chung, giành lại chính quyền về tay nhân dân, để đất nước được tự do, độc lập, thoát khỏi bàn tay ngoại bang Trung Cộng. Trong tinh thần góp ý, chớ không bao giờ dám KHUYÊN huề thượng Thích Quảng Độ và những người liên hệ như cư sĩ trừ bị tai gia, ta bà đấu tranh Võ Văn Ái, các tu, tăng sĩ trong và ngoài nước, huynh trưởng gia đình Phật tử….một điều chắc chắn là: Huề thượng Thích Quảng Độ không phải là Thánh Tăng, ngay cả Đức Đa Lai Đa Ma cũng khiêm tốn không nhận danh hiệu” Phật Sống” ( living Buddha) nên cũng sai lầm như người thường. Trong chuyện Tây Du Ký, Tam Tạng không phải là thánh tăng, dù có cốt cánh tu hành, nên do cái” người phàm mắt thịt” mà nhiều khi sai lầm, nhìn không ra ma quái giả dạng Phật, có lúc quỳ lạy ma quỷ mà ngỡ là Phật, do lầm lẫn đó mà có lúc làm sai, hành hạ đệ tử là Tôn Hành Giả, xuýt làm hỏng cả con đường thỉnh kinh ở Tây Phương Cực Lạc../.

Phật Giáo đã đến Việt Nam từ đầu thế kỷ sau Công Nguyên, từ các thương buôn người Ấn, dân tộc Việt Nam đã có tính thần hòa đồng tôn giáo, nên chấp nhận đạo mới, song hành với đạo thờ cúng tổ tiên. Phật giáo trải qua bao thăng trầm cùng vận nước với nhiều cuộc xâm lược của người Hán là các triều đại Trung Hoa; có thể nói là sự đóng góp của Phật Giáo trong lịch sử quả là đáng kể, dù bên cạnh đó có nhiều tai tiếng, nhưng” đạo không bao giờ sai, chỉ có người hành đạo làm bậy” mà thôi, đó là suy nghĩ khách quan, nên không phải vì một số người mang áo tu sĩ làm bậy mà vội kết luận cả Phật Giáo, là điều cần phải tránh để khỏi bị ngộ nhận từ những tu sĩ chân chính.

Thời tiền Lê, sau khi Đinh Tiên Hoàng bị Đổ Thích ám sát, vua còn nhỏ và giặc ngoại xâm đang lăm le, nên thượng tướng quân Lê Đại Hành được tướng sĩ tôn làm vua; tuy nhiên sau khi vua mất, truyền ngôi cho con là Lê Long Đỉnh, là hôn quân dâm ô quá độ, nên mang hổn danh là Vua Lê Ngọa Triều ( tiếng xấu ngày nay vẫn còn), vua nầy gây ra nhiều tội ác, trong số đó có việc bắt một vài thầy chùa đưa đầu làm thớt để róc mía. Tuy nhiên, hình như thời đó cũng đã có sư phạm giới, chớ khong có lý do gì, Lê Long Đỉnh lại làm như thế? Có lửa mới có khói, cái gì cũng phải có nguyên do, là luật tương quan nhân quả.

Vào thời nhà Đường bên Trung Hoa, thời suy vong, loạn lạc nổi lên khắp nơi, cuối cùng, trong một lần cử hai danh tướng là Triệu khôn Dẫn và Triệu Khuôn Nghĩa đi dẹp loạn, khi quân triều đình mới tới cầu Trần Kiệu, tướng sĩ không thèm đi và đồng thời tôn Triệu Khuôn Dẫn lên làm vua, đoạn kéo quân về lật đổ vua Đường, lập nên nhà Đại Tống. Triệu Khuôn Dẫn không giết những tôn thất nhà Đường, trái lại còn làm tiệc linh đình, quan cũ muốn phục vụ triều đình mới, cứ ở lại được trọng dụng; ai không thích, được về vườn và còn cấp đất, vàng để sinh nhai ( So với thời sau 1975, thì Việt Cộng quá tệ, tàn ác khôn lường qua cái gọi là chính sách cải tạo).

Vì không tùng phục nhà Tống, nên hai tôn thất nhà Đường là Lý Khánh Vân và Lý Khánh Đản phải chạy sang nước Việt để nương náo, chờ thời cơ khôi phục cơ đồ. Tương truyền là hai ông hoàng thúc nhà Đuờng vốn tinh thông thiên văn địa lý, nên khi đi qua đất Đình Bản, thuộc Bắc Ninh, là nơi có long mạch ; nhưng vì không có hài cốt tiên gia nên Lý Khánh Vân ngầm kết hôn với một cô gái Việt, quê quán ở cánh đồng làng Đình Bản và sinh ra đưa con trai. Sau đó hai ông xưng là thiền sư, vì hoàn cảnh tu hành nên hai ông phao tin lượm đứa con trai, đem vào chùa tu và dạy, đặt tên là Lý Công Uẩn, sau thành vua Lý Thái Tổ, nên thời nhà Lý, Phật Giáo thịnh hành, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng sang thời nhà Trần và biến cố giặc Nguyên sang xâm lăng nước Việt, với binh hùng tướng mạnh, nên triều đình phải huy động hội nghị Diên Hồng, toàn dân cùng nhau đánh xâm lược, giữ vững bờ cõi; thời đó, già trẻ, trai gái, tu hành cũng đều đánh giặc cứu nước, trong đó có sư Thượng Sĩ, là người được trọng vọng, cũng” vứt áo cà sa khoát chiến bào” xông pha trận mạt không khác gì danh tướng và khi yên giặc, trở về tu hành. Nếu thời đó, đa số thanh niên sợ chết cạo đầu vô chùa tu, thì nước ta không có đủ chùa để chứa những người” thanh tâm trường an lạc trong cảnh đất nước lâm nguy” và nếu ai cũng” chống xâm lặng tai gia” thì nước ta bầy giờ là một huyện của Trung Cộng, còn đâu cho Việt Cộng đem dâng, bán.

Phật giáo âm thầm đi vào lòng dân tộc, tác động, ảnh hưởng tín ngưỡng sâu rộng trong dân chúng, nên đa số dân tin tưởng và Đức từ Bi, nhưng cũng không tránh khỏi sự lạm dụng của những kẻ” mượn đạo tạo đời” làm hoen ố đạo pháp và uy danh Đức Phật. Vào thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, ở đàng trong, thời chúa Nguyễn Phúc Chu, từ đất Tàu sang, sư Thích Đại Sán, mang thuyền lớn cùng với một số tu sĩ, tưởng là để” hoằng hóa” đạo pháp, nào ngờ sư dâng tập” Đồ Hình Tố Nữ” cho chúa Nguyễn và được” cúng dường” 5 ngàn lạng vàng, ngoài ra chúa Nguyễn còn kêu gọi dân chúng” cúng dường” bằng những sản phẩm địa phương, thu vào đầy cả thuyền và mang về Tàu. Tập Đồ Hình Tố Nữ là những hình vẽ dạy cách hành lạc rất ư là” Cụp Lạc” nên hình như từ đó đã có sư” lên non tìm động Pác Pó” và trở thành dâm tăng, đã có sẵn, mai phục qua lớp cà sa, khi có điều kiện là” vùng lên để cỡi quần” người khác phái, nên mới có chuyện ngụ ngôn về cái trống để gần nhà sư là bị lủng…

Thời xưa, người Trung Hoa cũng đã biết” khai thác kỷ nghệ tình dục”, như thời nhà Tấn, có ông Quảng Trọng là người đầu tiên đánh thuế các động mãi dâm, nên sau nầy được thờ, thành thần Bạch Mi; sách hành lạc có quyển” Nhục Bồ Đoàn” của Lý Ngư, cũng là thứ dâm thư không thua gì quyển sách của ai đó viết tại Việt Nam, được âm thầm chuyền tay trong giới bình dân học vụ, tên là” bảy đêm khoái lạc”. Do đó, dâm tăng đã có nguồn gốc” lịch sử” chớ chẳng phải mới mẻ gì, được thể hiện qua ca dao:

“Ba cô đội gạo lên chùa.

Một cô yếm thắm, bỏ bùa cho sư.

Sư về sư ốm tương tư.

Ốm la, ốm lóc, cho sư trọc đầu”.

Do nguồn gốc ấy mà ngay nay số dâm tăng gia tăng theo từng” tình huống” trong thời đại vật chất MẠT PHÁP làm cho những kẻ mượn đạo tạo tiền MẬP PHÁT. Trong cái” Phật Giáo Ngày Nay” xuất hiện rần rộ” đội ngũ dâm tăng”, lừng danh như Thích Phước Huệ, Thích Như Huệ, cư sĩ Lê Tấn Kiết, thiền sư Nhất Vẹm…. đóng góp cho thế gian thêm những chuyện” dâm tặc” đắc quả TAM RỜ:” núp bóng từ bi RỜ ĐÌ, núp bóng thiền môn RỜ l…, Núp bóng thầy tu, RỜ MU..”.

Thời kỳ loạn ly, dù đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, nhưng thực dân còn tôn trọng tự do tín ngưỡng, nên các chùa được tự do hành đạo. Thời kỳ đảng Cộng Sản vô thần thống trị miền Bắc sau 1954, nhiều tu sĩ bị giết, tù đày, chùa bị tịch thu, đập phá, làm cho nhiều di tích lịch sử biến mất, nên Phật Giáo lâm vào pháp nạn, không biết miền Bắc có những cuộc đứng dậy nào để đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng?

Nhưng tại miền Nam tự do, thời đệ nhất Cộng Hòa, dù tổng thống Ngô Đình Diệm có thiên vị Thiên Chúa Giáo, nhưng đâu có đàn áp tôn giáo. Bọn Việt Cộng, gián điệp nằm vùng núp bóng tôn giáo, lợi dụng sinh hoạt dân chủ để gây bất ổn chính quyền miền Nam. Bên Công Giáo cũng có linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, Trần Bá Cương ( tức là Trương Bá Cần)….

Phật Giáo có khối Ấn Quang, với những sư thân hay Cộng Sản, do thượng tọa Thích Trí Quang cầm đầu, gây nên nhiều bạo loạn, mà cao điểm là vụ tự thiêu của Thích Quảng Đức, nên 5 tháng sau, trung tướng Dương Văn Minh, cầm đầu đảo chánh, giết chết tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu. Thời tranh quyền, trung tướng Nguyễn Khánh chỉnh lý, làm quốc trưởng, nhưng vì sợ Phật giáo nên dưới áp lực của Thích Trí Quang, tướng Khánh giết đứa em út của tổng thống là Ngô Đình Cẩn để làm vừa lòng sư. Thời chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương Nguyễn Cao Kỳ, là một Phật tử thuần thành, đâu có đàn áp Phật Giáo, thế mà sư Thích Trí Quang cùng Thích Thiện Minh, cùng với tập đoàn tăng lữ miền Trung làm cuộc bạo loạn năm 1966, họ gọi là” mùa Pháp nạn”, xuýt làm mất miền Trung về tay giặc Cộng; thời đó vùng 1 chiến thuật do trung tướng Nguyễn Chánh Thi làm tư lịnh, ông là một Phật Tử, nghe sư hơn nghe những chiến hữu trong ngành an ninh, tình báo….và nhất là tư lịnh sư đoàn 1 bộ binh là chuẩn tướng Nguyễn Xuân Nhuận, là người tùng phục Thích Trí Quang, nếu không nhờ đại tá Nguyễn Ngọc Loan ra tay dẹp loạn, thì cái họa loạn đầu trọc tác hại khôn lường và nhân mạng của những người quốc gia, đảng phái chính trị, khác tôn giáo khó bảo toàn khi miền trung nằm trong tay các sư và Việt Cộng bên trong.

Cuộc bạo loạn miền Trung năm 1966, với chiến dịch” đem bàn thờ Phật xuống đường” làn cản trở lưu thông và các cuộc chuyển quân của quân lực VNCH ở vùng hỏa tuyến, tượng Phật đặt nhiều nơi, có nơi tượng đặt trên đống rác và phía sau là Việt Cộng hay đám Phật tử bị giựt dây núp, bắn vào lính quốc gia trong lúc thi hành nhiệm vụ giản hồi trật tự, nên từ đó mới có câu tục ngữ:” núp bóng từ bi đâm sau lưng chiến sĩ?”.

Trong thời gian nầy, có 2 tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến ở vùng 1 chiến thuật bị thiệt hại nặng: tiểu đoàn 5, danh hiệu Hắc Long, thiếu tá tiểu đoàn trưởng là Dương Hạnh phước tử trận ở Quảng Ngải và tiểu đoàn 2, danh hiệu Trâu Điên, với trung tá Lê Hằng Minh đề nợ nước ở Huế. Cái chết của những chiến sĩ Mũ Xanh hảy còn là nghi vấn, có thể là do nội tuyến từ cấp trên và cũng có thể do đám sư nội tuyến gây ra?. Tuy nhiên, vụ trung tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lịnh quân khu 1, đã bị cụm tình báo chiến lược A-54 nằm trong dinh đến 7 năm, mới phát giác, thì biết bao nhiêu tin tức tối mật, tình báo, hành quân đã lọt vào tay Việt Cộng?.

Số là sau khi đảo chánh bất thành ngày 1 tháng 11 năm 1960, đại tá Nguyễn Chánh Thi lấy máy bay, cùng với một số thuộc cấp bay sang Miên tỵ nạn và được Sihanouk chứa chấp, trong thời gian lưu vong, đại tá Thi thường đi tiêu khiển bằng môn chơi nhảy đầm, nên đã lọt vào mỹ nhân kế, với cô Trăm là nhân tình và cô giới thiệu nhân vật tên Sáu Già, được cho là anh cô ta. Nhưng không ngờ đây là cán bộ tình báo Việt Cộng; sau ngày 1 tháng 11 năm 1963, đại tá Nguyễn Chánh Thi trở về nước như một người hùng, lên tướng, sau đó cô Trăm và Sáu Già liên lạc, nên tướng Thi nhờ đại tá Phạm Văn Liễu lo thủ tục nhập cư và từ đó ở trong” cơ ngơ” tướng Nguyễn Chánh Thi. Đó là một trong số những nghi vấn về hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị tổn thất nặng, trùng hợp với biến động Phật Giáo miền Trung 1966.

Được biết, khi nghe tin tên đại quốc tặc Hồ Chí Minh qua đời, các tăng ni khối Ấn Quang có làm lễ” cầu siêu” tại chùa, trên bàn thờ có tràng hoa màu đỏ, giữa là hoa vàng, là biểu tượng mà Hồ Chí Minh lấy làm màu đảng kỳ, trong số các khách thân hữu có luật sư Trần Ngọc Liểng.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong khi toàn dân Việt Nam kinh hoàng trước đám giặc Cộng tràn vào cướp phá, thì khối Phật Giáo Ấn Quang tỏ ra” hồ hởi phấn khởi” huy động hơn 500 tăng ni ra đón” đoàn quân giải phóng” là thứ” giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu đồng bào” và ngay trong năm ấy, sinh nhật 19 tháng 5 của tên Hồ Chí Minh được cử hành tại chùa Ấn Quang, lớn hơn vía của Phật hay Bồ Tát; một cao tăng đứng lên đọc” tham luận” kể lễ công đức của Phật Giáo Việt Nam đóng góp cho” cách mạng” thành công.

Tuy nhiên, cũng giống như tất cả những ai từng hợp tác, làm tay sai cho giặc Cộng, sau khi thành công thì vắt chanh bỏ vỏ, đầu tiên là các công cụ Mặt Trận Giải Phóng của Nguyễn Hữu Thọ tan hàng ngay trong ngày kỷ niệm” đại thắng mùa xuân 1976″ tại Saigon, nên có nhiều tên bỏ chạy nước ngoài như Trương Như Tảng…và từ khắp miền Nam, nhan nhản những cán bộ miền Nam bị phục viên, hạ bị cho làm hạ tầng công tác, trở thành những hồn ma bóng uế, chửi đảng mệt nghỉ, chửi đến chết mà đảng không hề sụp đổ. Cho nên Phật Giáo khối Ấn Quang cũng không tránh khỏi bị gạt ra ngoài, từ năm 1976 đã có những đàn áp, thanh toán, bức hại một số tăng chúng, từng góp công với” cách mạng”, như trường hợp của Thích Thiện Minh (Đổ Xuân Hàn).

Do đó, trong hàng tăng sĩ, có nhiều người không tùng phục nhà nước và trở thành giáo hội không được đảng công nhận, coi là ngoài vòng pháp luật. Từ đầu thập niên 1980, một số tăng sĩ theo đảng mà vẫn mang bảng hiệu Phật Giáo, thành lập giáo hội Phật Giáo Việt Nam do huề thượng Thích Trí Tịnh cầm đầu, luôn có những hành vi làm lợi cho đảng và muốn gom hết tăng sĩ vào một mối, để đưa Phật giáo Việt Nam cùng nhau” thống nhất” và” nhất trí” đi theo tấm bản chỉ đường của đảng, phát huy tối đa luật luân hồi, nhân quả để hù dọa và làm cho tín đồ không thèm đấu tranh chống quỷ ma, cứ sống cho hết kiếp người để” trả quả” là đạt mục đích giữ cho đảng bền, cán giàu mãi mãi.

Trong thời kỳ đó, một số nơi, Phật tử đứng lên đòi tự do tín ngưỡng và bị đàn áp dã man, một số cuộc tự thiêu như ở Cần Thơ, trở thành tiếng kêu lạc lõng trong cái pháp nạn và đất nước đắm chìm trong cõi” U Minh”. Lý do là Việt Nam chưa mở cửa, nên người nước ngoài không nhiều; nếu vào thời buổi nầy, tức là lúc cao điểm các công ty nước ngoài, báo chí, truyền thông, doanh gia Tây Phương, khoa học kỷ thuật cao, máy móc tối tân….thì những hình ảnh tự thiêu ấy có tác động trên toàn thế giới, có hy vọng làm cho chế độ Việt Cộng hoảng sợ. Tuy nhiên, ngày nay, không thấy những cuộc xuống đường, đem bàn thờ xuống đường, tự thiêu…như thời quốc gia và thời kỳ Việt Cộng chưa mở bức màng sắt. Đó là điều cần lưu ý, vì cuộc đấu tranh không hợp tình thế, thời đại, thì không mang lại kết quả, như cây mọc trái mùa, khác vùng đất, thì làm sao cho ra quả ngon.

Trong số những vị tăng sĩ kiên trì, không đầu hàng quỷ đỏ và bọn ma quái giả dạng tu hành, có Huề Thượng Thích Quảng Độ, Ngài là một trong số vị cao tăng hiếm hoi còn sót lại sau cuộc thăng trầm lịch sử và giáo hội, đặc biệt là hầu hết các tăng sĩ đều” đầu râu nhẳn nhụi, áo vàng cà sa” thì Ngài huề thượng Thích Quảng Độ lại thể hiện cái mà câu sấm loan truyền trong dân chúng trước 1975:

“Chừng nào thằng ngốc làm vua.

Thế gian cạo trọc, thầy chùa để râu”.

Ngài cùng với những tăng sĩ, phật tử trong nước, kết hợp bên ngoài với Phòng Thông Tin phật Giáo do cư sĩ Võ Văn Ái, là người trước đây từng cộng tác với thiền sư Nhất Hạnh đánh phá chính quyền miền Nam, đã giác ngộ, và sau nầy có lập trường bất nhất, khó tin: nay thì tố cáo kẻ tiếm danh, mai thì đứng chung kẻ tiếm danh trong tuyên cáo, lòng người thật khó lường; bất cứ ai như thế cũng khó tin mà cộng tác, ngay cả chơi hụi cũng hỗng dám mời, huống chi là việc đại sự, có ngày bị phản phé, lật lọng.

Tuy nhiên sự kiên trì của huề thượng Quảng Độ làm hưng chấn niềm tin của nhiều người và Phật tử hải ngoại, nhưng kể từ ngày 29 tháng 3 năm 2009, một gáo nước lạnh tạt vào mặt một số người tin tưởng Ngài sau khi ngài có phương cách đấu tranh mới, rất phù hợp với lập trường băng đảng Việt Tân:” đấu tranh bất bạo động để tháo gở độc tài”, nên ngài có lối đấu tranh:” biểu tình tại gia” và” bất tuân dân sự” được các cơ sở truyền thông Việt Tân, râu ria phổ biến, vì đây là sách lược phù hợp với một tổ chức có lập trường:” Coi đảng Cộng Sản là thành phần dân tộc và tên quốc tặc Hồ Chí Minh là người có công với đất nước”…. Nghe qua thoang thoảng mùi Cà Ri của thánh Ghandi, một thời thành công là nhờ đế quốc Anh có tính cỡi mở, nếu thánh Ghandi ở Việt nam thì chắc chắn được thực dân Pháp mời ra Côn Đảo để” đấu tranh bất bạo động” đến hơi thở cuối cùng mà không bao giờ thấy được đất nước được trao trả độc lập.

Do đó, dùng bất bạo động như một trong những phương thức của Phật Giáo, coi cõi đời là cõi tạm nên không cần phải đấu tranh cho kiếp nầy, hảy tu hành” thanh tâm trường an lạc” để giải thoát, là thứ mà Việt Cộng rất tâm đắc và giờ nầy coi như là” đấu tranh lạc lối, lộn địa chỉ”, đấu tranh” lộn lèo”. Tuy nhiên trước đây, miền Nam có tự do, thì khối Phật Giáo Ấn Quang lại đấu tranh” lộn địa chỉ” khôn nhà dại chợ, làm cho miền Nam suy yếu, là dùng bạo động, biểu tình, tự thiêu, mang bàn thờ Phật xuống đường, kích động các đơn vị quân đội VNCH có nhiều Phật tử ly khai chống lại các chiến hữu của mình dưới chiêu bài” pháp nạn” hay” bảo vệ đạo pháp”, núp sau tượng Phật bắn vào lính quốc gia đang làm công việc giản hồi trật tự cho dân chúng trong khu vực làm loạn…..tất cả những” bạo động” ấy tạo bất ổn chính trị, chưa kể đến thành phần Cộng Sản lòn vào khuynh đảo đạo Phật và chính phủ; nếu các tăng sĩ Ấn Quang” giác ngộ” lối” biểu tình tại gia” và khai triển:” mang bàn thờ Phật xuống đường …tại gia” thì miền Nam đỡ khổ biết mấy và không chừng tình hình thay đổi, chớ không phải như ngày nay, đất nước lọt vào tay quỷ đỏ từ năm 1975.

Tuy nhiên, kể từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, chưa nghe những vị tăng ni nào có tham gia vào cuộc biến động bạo loạn miền Trung, phá rối chính quyền miền Nam, tiếp tay cho giặc Cộng, có lễ cầu siêu cho nạn nhân và sám hối tội lỗi, dù là hình thức tôn giáo; trái lại có một số vị tỏ ra” thanh tâm trường yên lặng” để tiếp tục gây thêm nghiệp báo, tệ nhất là đi theo làn sóng tỵ nạn, lập chùa làm giàu, dâm tặc và bảo lãnh bọn công an cạo đầu sang, tiếp tục tạo thanh thế cho quỷ đỏ Cộng Sản tại hải ngoại.

” Biểu tình tại gia” là cách nói hết sức tế nhị, cũng giống như khối 8406 trước đây ban phát lịnh” cùng nhau mặc áo trắng để biểu tình” và công an khỏi mất công đi tìm, thấy ai mặc áo trắng lảng vãng nơi tập trung là vớt ngay, thì cuộc xuống đường coi như” thất bại là mẹ thành công, là ông có nội bankrupt”. Lời kiêu gọi” biểu tình tại gia” là coi như:” không có gì quí hơn không biểu tình tại nơi công cộng” có khả năng làm nên cuộc” bảo nổi lên rồi” và” xuống đường, đập tan mọi xích xiềng, quyết đấu tranh giành lại chính quyền”….và cái sách lược” bất tuân dân sự” lại càng trớt quớt, hạ sách và không có viễn kiến, không ngờ vị cao tăng có nhiều năm đấu tranh, mưu lược lại có cái sách lược lỗi thời, không hợp lòng dân và cũng không thể đạt tới mục đích sau cùng là: giải trừ quốc nạn và pháp nạn.

Có thực mới vực được đạo, nên thời giặc Minh xâm lăng nước ta, Nguyễn Trải có” Bình Ngô Đại Cáo” rất hay, với:

“Đem đại nghĩa thắng hung tàn.

Lấy trí nhân thay cường bạo”.

Nếu hai câu nầy áp dụng” chống giặc Minh tại gia” thì không bao giờ đuổi giặc được, nhưng hai câu nầy được đạo nghĩa binh hùng hậu, một lòng đánh giặc Tàu song hành, nên mới làm” cho bọn Vương Thông đành mọp giáo qui hàng”.

” Bất tuân dân sự” 5 tháng, là thời gian dài, là sách lược” bất hợp tác” với chính quyền, mà thánh Ghandi thành công là nhờ lòng yêu nước của dân Ấn, muốn đất nước được độc lập. Trong khi đó tại Việt Nam ngày nay, tình hình dân chúng khác, họ bị đàn áp lâu năm mà chùng bước, lại bị ảnh hưởng thuyết luân hồi, nên nhiều người chỉ biết sống tạm kiếp nầy để trả quả, đợi kiếp sau sướng hơn, đó là lý do mà Việt Cộng rất chú ý đến việc phát triển Phật giáo bằng xây chùa dể dàng, cán bộ phục viên muốn đi tu cũng được đảng khuyến khích, ngoài ra còn có nhiều công an giả dạng làm tăng ni…..trong khi tình hình kinh tế suy thoái toàn cầu, các hãng xưởng tư nhân, quốc doanh gặp khó khăn về số lượng hàng hóa đặt từ nước ngoài giảm” quota”, nên hãng có huynh hướng giảm bớt người, tình trạng thất nghiệp càng gia tăng và đa số nông dân, công nhân….có lối sống” tay làm hàm nhai” nên cái cảnh:” chạy cơm từng bửa toát mồ hôi”. Thế mà huề thượng lại kêu gọi toàn dân trong nước:” bất tuân dân sự” tới 5 tháng, thì dân ở nhà không thèm ra đồng, đến hãng…..lấy gì mà sống? Huề Thượng có tiền, cấp cho mỗi người” bất tuân dân sự” một Mỹ Kim một ngày, thì họa may có nhiều người hưởng ứng cái sách lược” bất hợp tác”; còn không ai tài trợ, công nhân mà” bất tuân dân sự” ở nhà, thì các chủ hãng tư nhân, quốc doanh rất mừng, khỏi cần phải đuổi bớt, họ cũng tự động nghỉ việc, trong danh chánh ngôn thuận. Có phải là huề thượng xúi dân đi vào chỗ chết không?.

Tuy nhiên ở nước ngoài thì việc” bất tuân DU LỊCH” rất có lý, khi mà toàn thể người Việt hải ngoại cùng nhau hưởng ứng với hai không:” không về thăm quê hương ( kẻ cả dạng TAM DU: du lịch, du hý, du dâm), không gởi tiền”, thì Việt Cộng khốn đốn, nhất là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và Việt Cộng gặp cái” tình huống” khốn đốn ngoại tệ, dể đưa đến sụp đổ; một tác động trước mắt là biết chừng những nơi chuyển tiền lậu bị ế, nên hạ giá cước phí, cho những người gởi tiền về cho gia đình trong giới hạn và trong hoàn cảnh đặc biệt như tang chế, bịnh tật…

Do đó, sách lược: biểu tình tại gia và bất tuân dân sự, được huề thượng kêu gọi cho người dân trong nước là bất khả thi, trớt quớt, không phù hợp hoàn cảnh, điều kiện trong nước, lại làm lợi cho Việt Cộng nhiều hơn là làm cho đảng sụp đổ, khi dân chúng chỉ “ở nhà biểu tình” và” hổng thèm đi làm” là hợp với tình hình” trật tự, an ninh chính trị và kinh tế suy thoái”, thật là “tương kế tựu kế”, nên người Việt Nam cảm thấy thất vọng với” Phật giáo ngày nay”.

Từ đây chắc chắn là sự ủng của người người Việt hải ngoại giảm dần đối với huề thượng Thích Quảng Độ, người mà trước đây được coi là cái phao cứu nguy pháp nạn trong nước, nay thì” đốn củi ba năm, rụi một giờ” và không chừng chuyện tranh giải Nobel sắp tới cũng không được người Việt hưởng ứng, ủng hộ. Nhưng đừng lo, đàng sau huề thượng luôn có băng đảng Việt Tân đang hết lòng ủng hộ trong việc “đấu tranh bất bạo động… để tháo gở độc tài”, lá bài giữ đảng, làm cản đấu tranh, xanh vỏ đỏ lòng, lòng vòng không lối thoát./..

TRƯƠNG MINH HÒA

29.5.2009

http://www.hon-viet.co.uk/TruongMinhHoa_BatTuanDanSuDanKhoBatTuanDuLicchDangKhon.htm

Cuộc Bạo Loạn Bàn Phật Xuống Đường Tại Miền Trung : Mùa Hè 1966

Cuộc Bạo Loạn Bàn Phật Xuống Đường Tại Miền Trung : Mùa Hè 1966

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

ThichThienHao

« Hòa Thượng » Thích Thiện Hào: Hội chủ Hội Phật Giáo Việt Nam.

Như đứng trước Thượng Đế trong giờ phán xét sau cùng, tôi xin ghi lại tất cả những thảm cảnh tang tóc, đau thương mà cộng sản Hà Nội cùng các lực lượng « Phật Giáo Tranh Đấu » và « Hòa hợp Hòa giải » Ấn Quang đã từng gieo rắc trên mảnh đất thân yêu là thành phố Đà Nẵng đầy lưu dấu của tôi.

Hôm nay, noi theo lời dạy của nhà học giả Nguyễn Trường Tộ : « Biết mà không nói là bất lương ». Nên, bằng tất cả tâm thành từ bài này trở đi, tôi sẽ tuần tự viết với đầy đủ những chi tiết trong mọi biến cố mà tôi đã từng mắt thấy, tai nghe, vì tôi muốn viết khi các nạn nhân và cả chứng nhân tất cả các vị ấy hiện còn đang sống đa số tại hải ngoại, để minh chứng cho tiếng nói trung thực của tôi, mục đích là để cho lớp trẻ sau này biết đường mà lánh xa lũ sát nhân tàn bạo ấy.

Trong những bài trước tôi có nói đến « công lao » của « Lực lượng Hòa hợp Hòa giải » của Phật Giáo Ấn Quang mà không nêu cụ thể chứng minh. Vậy để biết rõ hơn, xin mời quý độc giả hãy cùng đọc lại báo Quê mẹ số 108 tháng 3 năm 1990, trang 21, đã đăng ( nguyên văn ) một trong « Năm yêu sách của Phật giáo do Thượng Tọa Thích Thanh Từ, Đại biểu giáo quyền Phật giáo đương kim Tổng thư ký Hội đồng Trị sự Trung ương Phật giáo Việt Nam Thống Nhất vào tháng 02 năm 1990 đã đưa ra Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản tại Hà Nội :

« Yêu sách thứ năm : Phải nhớ ơn các nhà tu hành, các tín đồ Phật giáo đã góp công lao vào công cuộc tranh đấu thống nhất đất nước trước đây. »

Không những thế, mà « Thượng tọa » còn lo lắng :

« … làm cho niềm tin của quần chúng đối với đảng và nhà nước bị xói mòn… và để lấy lại niềm tin của quần chúng. »

Nghĩa là « Thượng tọa » sợ cộng sản sụp đổ. Theo tôi, « TT »Thích Thanh Từ đừng nên quá lo xa, bởi dân tộc Việt Nam từ thuở vua Hùng lập quốc đã có truyền thống kính sợ Trời tức Thượng Đế, vì thế những người Việt Nam đứng về phía dân tộc họ đều có thừa lòng nhân ái, không ai có những hành động như các lực lượng « tranh đấu » của Ấn Quang đã đối với các nạn nhân tại Đà Nẵng đâu. Bởi họ có nhân tính, họ tin có Ông Trời, họ sợ Ông Trời « sẽ đổ cơn thịnh nộ xuống ». Chỉ có lũ vô thần, phi nhân, tàn bạo chúng mới không tin có Trời nên đã đặt Trời xuống ngang bằng với quỷ vật nên chẳng ai biết sợ ai cả.

Hiện nay bạo quyền Hà Nội đã thỏa mãn « Năm yêu sách của Phật giáo » nên « Thượng tọa » Thích Thanh Từ đương nắm giữ giáo quyền và cả thế quyền nữa.

Nguyên do và mục đích của Ấn Quang trong cuộc bạo loạn tại Miền Trung :

Mục đích chính của Phật giáo Ấn Quang là chiếm giữ miền Trung, để thành lập Chính phủ Miền Trung, liên minh với Việt cộng để đánh Việt Nam Cộng Hòa. Ấn Quang đã chuẩn bị từ lâu, chỉ chờ cơ hội để nỗi loạn. Vì vậy, nhân việc tướng Nguyễn Chánh Thi bị cách chức vào ngày 10-3-1966. Phật giáo đã lấy cớ đó biểu tình đòi chính phủ phải trả tướng Thi trở lại vùng 1. Khi chính phủ trả tướng Thi trở lại vùng 1 nhưng không có chức vụ gì cả. Thì Ấn Quang lại đòi chính phủ phải phục hồi cho tướng Thi với các chức: Tư lệnh Quân Đoàn 1, Vùng 1, kiêm đại biểu chính phủ tại Vùng 1 Chiến Thuật. Việc làm này của Phật giáo Ấn Quang đã khiến một tín đồ thuần thành của Phật giáo là ông Bùi Quang Sạn, chỉ huy trưởng Đơn vị Tình báo tác chiến tại Quảng Nam (sau đó ông là dân biểu ) đã nói :

« Chuyện ông Thi bị cách chức là chuyện của quân đội mắc mớ gì đến Phật giáo. Chỉ có muốn nổi loạn cướp chính quyền để hợp tác với Việt cộng mà thôi. »

Sau đó, trong cuộc nổi loạn mùa hè 1966, ông Bùi Quang Sạn đã bị bắt giam cùng với hàng trăm vị là các viên chức chính quyền và các chính Đảng. Các vị này đã bị Phật Giáo giam bốn mươi ngày tại « chùa » Phổ Đà tức Phật Học Viện Trung Phần ở số 340, đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Trong suốt thời gian này Phật Học Viện Trung Phần đã trở thành « Tổng Hành Dinh Quân Đoàn Vạn Hạnh. » Khi bị bắt, Phật giáo đã bắn bể bàn chân trái của ông Bùi Quang Sạn, nhưng « Quân Đoàn Vạn Hạnh » đã không cho ai băng bó cả. Chẳng những thế, mà QĐVH còn trói thúc ké hai tay ông ra sau lưng và buộc ông phải đi bộ cùng với nhiều người bị bắt. Vì thế, trong số tù nhân Phật giáo này có hai ông Ngô Hải Quảng và ông Nguyễn Kim Thành phải dìu ông Bùi Quang Sạn đi trên đường phố đến chùa Phổ Đà. Trước mắt đồng bào, nhiều người đã thấy ông Bùi Quang Sạn đi chân đất với bàn chân trái bê bết máu, mặt mày trông rất đau đớn. Nên biết, khác hơn cả tù thời Pháp và Việt cộng. Tất cả tù nhân Phật giáo đều bị Quân Đoàn Vạn Hạnh buộc phải cởi bỏ áo quần ngoài chỉ được mặc quần áo lót, phải cởi bỏ luôn giày, dép, vớ, phải đi chân đất trên các đường phố, khi vào nhà tù Phổ Đà các vị tù này cũng không được mặc áo quần dài chỉ được mặc đồ lót và phải đi chân đất. Và họ đã ở trong nhà tù Phổ Đà, bị đánh đập bốn mươi ngày mới được giải cứu.

Cũng nên biết, trong suốt bốn mươi ngày chùa Phổ Đà cũng đã trở thành một lò mổ heo, bò để nuôi ăn cho Quân Đoàn Vạn Hạnh hàng ngày.

Vì thế, Giáo sư Trịnh Thể, Hiệu trưởng trường Trung học Nguyễn Công Trứ khi thấy nhà chùa trở thành lò mổ ông đã vào tận « chùa » để nói với « Thượng tọa » Thích Minh Chiếu, Tuyên Úy Vùng 1, Quân khu 1 là Tư Lệnh Quân Đoàn Vạn Hạnh rằng :

« Thưa Thượng Tọa về những việc khác tôi không biết phải nói được một điều gì; nhưng riêng về chuyện mổ bò, mổ heo trong chùa tôi xin Thượng tọa suy nghĩ lại, vì không nên biến chùa trở thành lò sát sinh ».

Nhưng Giáo sư Trịnh Thể đã không ngờ dược Thích Minh Chiếu đã trả lời :

« Mình đang làm chuyện đại sự thì sá gì những chuyện tiểu tiết ấy »

Nghe những lời của Thích Minh Chiếu đã nói như thế, Giáo sư Trịnh Thể và ông Phan Thuyết, Chủ sự phòng hành chánh Bệnh viện Toàn khoa ĐN, bởi quá thương các vị tù không tội này vì biết không làm điều gì khác hơn, nên ông đã đến chùa xin được thăm nuôi, các « thầy » đồng ý, nhưng không được gặp mặt, chỉ được gửi vào chùa những chiếc chiếu ( nhưng không được gửi chăn, màn…) và quần áo lót qua người cai tù là Trung sĩ quân cảnh Nguyễn Văn Sự, ngoài ra tù nhân không được nhận một vật dụng hay bất cứ thực phẩm nào cả . Vì số tù quá đông nên các nhân sĩ và đồng bào đã giúp đỡ mua những chiếc chiếu và đồ lót, nhưng chỉ có hai vị không thể mang vào chùa được, nên hai vị đã nghĩ ra một cách là dắt tôi đến chùa « xin các thầy cho con nhỏ này nó phụ anh em tôi mang chiếu và đồ lót vào chùa, các thầy hãy an tâm vì nó hiền như cục đất à. »

Tôi không biết mấy ông trong chùa thấy tôi hiền, hay chỉ là con gái vô hại, hay ý Trời cho tôi được chứng kiến những điều ấy, nên khiến cho họ bằng lòng cho tôi được cùng giáo sư Trịnh Thể và ông Phan Thuyết đi thăm tù nhân tại « chùa » Phổ Đà.

Sau đó, hai vị bảo tôi cùng đi tìm người, tìm xe để chở số chiếu và đồ lót đó đem đến trước cổng chùa giao cho Nguyễn Văn Sự, rồi những người đi thăm nuôi và tài xế tất cả đều phải đi ngay. Một điều ít khó khăn hơn những thân nhân của QCCVNCH trong các trại tù « cải tạo » của Việt Cộng, là khi vào thăm nuôi mỗi người có người thân khác nhau, phải qua kiểm sóat thăm nuôi, phải chờ đợi, còn các vị tù nhân Phật giáo này không được phép nhận bất cứ cái gì của ai kể cả cha, mẹ, vợ, con. Vì vậy, sau khi giao số chiếu và đồ lót cho cai tù Nguyễn Văn Sự, y cứ cho đem vào chùa rồi hàng trăm vị tù tự chia xẻ với nhau để dùng. Sau 30-04-1975, khi gặp tôi trong trại cải tạo T.154, giáo sư Trịnh Thể bảo : « Hồi xưa mấy ổng mà biết rõ em hiền như vậy thì đừng hòng mà đến gần được cái cổng chùa, chứ đừng có nói đến chuyện thăm nuôi.

Những diễn tiến của cuộc bạo loạn :

Như tôi đã nói về nguyên do và mục đích của cuộc bạo loạn. Bây giờ tôi xin trở lại từ những ngày đầu :

Sau khi tướng Nguyễn Chánh Thi trở về Đà Nẵng, nhưng chính phủ cương quyết không phục chức theo yêu sách của Phật giáo Ấn Quang. Thấy vậy, Phật giáo lại đòi phải thành lập chính phủ dân sự. Mặc dù biết những đòi hỏi của Phật giáo là quá đáng, nhưng Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, đã triệu tập Quốc dân đại hội và tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến trong vòng sáu tháng. Song, vì chưa đạt được mục đích nên Phật giáo lại tiếp tục biểu tình. Lần này với những biểu ngữ và dùng loa phóng thanh hô to những khẩu hiệu :

« Đả đảo Thiệu-Kỳ, Thiệu-Kỳ phải từ chức. »

Khi nhắc lại điều này, tôi muốn hỏi Phật giáo là tại sao từ sau ngày 30-4-1975, cho đến nay, Ấn Quang vẫn luôn kêu gào nào là từng bị Việt cộng bỏ tù, áp bức, pháp nạn… Như vậy, tại sao Phật giáo không tổ chức biểu tình đả đảo cộng sản, không đem bàn phật xuống đường như mùa hè 1966, không đòi bạo quyền Hà Nội phải từ chức, trong khi vẫn ca rằng Việt Nam có tới 90% là Phật tử ?

Trở lại cuộc nổi loạn, khi chính phủ không từ chức, vì từ chức rồi giao chính quyền cho ai ? Chẳng lẽ giao cho Thầy chùa ? Vì vậy, Phật giáo bắt đầu cuộc bạo loạn bằng việc công khai tuyên bố đã thành lập « Quân đoàn Cách mạng Vạn Hạnh », Thích Minh Chiếu là Tư lệnh Quân đoàn. Tổng hành dinh được đặt tại chùa Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh Đà Nẵng như tôi đã viết ở trên.

Lúc này, Thích Đôn Hậu đã kéo một đám đệ tử từ Huế vào Đà Nẵng. Trong số này, có những tên cũng đã từng chỉ huy «Đoàn Thanh niên Phật tử Cứu quốc » trong cuộc tấn công hai phường Thanh Bồ và Đức Lợi vào ngày 24-8-1964, như các tên sau đây :

Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Tuyên …và hơn hai ngàn thanh niên, hợp lại cùng với đám đệ tử tại Đà Nẵng cũng đã từng sát cánh với nhau trong cuộc thảm sát Thanh Bồ như: Phan Xuân Huy, Phan Chánh Dinh, Vĩnh Kha, Hồ Công Lộ, Hà Xuân Kỳ …

Sau khi vào Đà Nẵng, Thích Đôn Hậu và đám đệ tử tập hợp tại chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng, là cơ quan chỉ đạo chính trị ở số 500 đường Ông Ích Khiêm. Chính tại chùa Pháp Lâm, Thích Đôn Hậu đã nhân danh Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Miền Vạn Hạnh ( tức miền Trung ) dùng truyền đơn và loa phóng thanh phát lời kêu gọi :

« …Các quân nhân Phật tử hãy mau mau quay về gia nhập Quân Đoàn Cách Mạng Vạn Hạnh, các Phật tử trong mọi nghành cảnh sát, công tư chức, sinh viên học sinh, thanh niên và đồng bào Phật tử hãy gia nhập lực lượng đấu tranh để lật đổ chính phủ Thiệu-Kỳ. »

Và kể từ ngày ấy, cho đến hôm nay, đã bao nhiêu năm qua rồi. Nhưng khi nhắc lại lời kêu gọi này của Thích Đôn Hậu, chắc những ai đã từng chứng kiến cuộc nổi loạn này cũng thấy rằng : Quả thật, lời kêu gọi ấy có hiệu quả, bởi lúc ấy đã có không ít một số sĩ quan, binh lính, công tư chức rời bỏ hàng ngũ và nhiệm sở đế gia nhập « Quân Đoàn Vạn Hạnh » Riêng sinh viên, học sinh, thanh niên Phật tử đã được «Thượng tọa » Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo vùng 1 chiến thuật trang bị súng đạn đủ loại, một số em học sinh nhỏ tuổi thì được trang bị bằng gậy gộc, gạch, đá để gia nhập « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » Thích Minh Chiếu hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ như tôi đã viết ở bài trước.

Lực lượng biểu tình từ đâu ra ?

Trong suốt thời gian nổi loạn, tại thành phố Đà Nẵng ai cũng thấy con số người đi biểu tình rất đông đảo, nhưng chỉ có người dân Đà Nẵng mới biết rõ trong đoàn người đó có phải họ đều tự nguyện đi biểu tình hay không ?

Và đây là sự thật : Quý vị đã đọc qua bài 30-4-1975 : Máu và nước mắt, quý vị đã biết về số người đi « diễn hành » vào ngày 19-5-1975, để « mừng » sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm, thì quý vị ắt đã biết có một số đông đồng bào đi biểu tình trong cuộc bạo loạn này đã không phải là tự nguyện.

Để biết rõ hơn, tôi xin ghi lại những sự gì mà chính tôi đã chứng kiến. Tôi vẫn nhớ như in, vào thời gian đầu của cuộc nổi loạn chỉ có một số ít phật tử đi theo tiếng gọi của…thầy chùa. Vì vậy, « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » tay cầm gậy gộc đến từng khu chợ, tay vung gậy, mồm la hét, đe dọa, bắt buộc đồng bào phải bãi thị để đi biểu tình, ai phản đối thì bị đánh đập, và Đoàn Thanh niên Phật Tử Quyết Tử đã đạp đổ những sạp hàng, những gánh bún… Cuối cùng, đồng bào phải nuốt nước mắt để đi biểu tình. Điều này, nhà văn Nguyễn Mộng Giác chắc có biết, nên đã viết qua trong « Mùa Biển Động » nhưng có thể vì để bán sách nên ông không viết đầy đủ.

Bàn Phật xuống đường.

Trước khi nói đến chuyện bàn Phật xuống đường. Tôi phải nói rõ xuất xứ từ hơn ba ngàn cái bàn Phật đã nằm la liệt trên khắp đường phố Đà Nẵng. Nên biết, trong hơn ba ngàn cái bàn Phật đó, có rất nhiều cái bàn Phật dã chiến. Vì không có đủ bàn Phật, nên chỉ ở các cổng chùa mới có những bàn Phật trang nghiêm, còn ở các nơi khác thì các « thầy » ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » ( từ đây xin tôi xin viết tắt là ĐTNPTQT) tay cầm búa, gậy ngang nhiên vào nhà Phật tử khiêng bàn Phật của họ ra đường, cũng nên biết trong nhà của đồng bào Đà Nẵng chỉ có một cái bàn thờ, họ thường để tượng, ảnh Phật ở trên và thờ chung với Tổ tiên, ông bà, có gia đình nghèo họ để bàn thờ trên mặt tủ. Khi ĐTNPTQT, đến khiêng bàn thờ họ nhất định không cho, vì biết đem bàn thờ, đem tủ ra đường phơi nắng, dầm mưa thì chắc chắn sẽ bị hư, bị gãy. Nhưng rồi họ cũng không ngăn cản được, bởi trên tay ĐTNPTQT, toàn là búa, gậy, gạch, đá. Nhưng thấy cũng chưa đủ, ĐTNPTQT đã đi vào các chợ khiêng những chiếc bàn vốn là của bà bán hàng xén, ông bán thịt, cô bán bún, chị bán tôm, tép, cá khô …đã bị bắt buộc phải bãi thị. Vì thế, khi đem ra đường trên mặt bàn còn dính đủ loại mặt hàng như : Đường, bột, tiêu, ớt, dầu, muối, mắm, thịt, vãy cá nhầy nhụa. Nhưng đã được ĐTNPTQT phủ lên một tấm nylon có in hình hoa lá đủ mầu sắc ( loại dùng để trải bàn) Rồi đem tượng Phật, có cái chỉ là một tấm ảnh Phật được lồng vào khung gỗ. Tiếp theo, ĐTNPTQT dùng những chiếc lon sữa bò hoặc những cái hộp đựng thịt, nhặt ở những nơi mà các xe thầu rác của sở Mỹ đổ ra, đem rửa sạch, đổ gạo và cắm nhang (hương) vào. Bên cạnh cũng là những chiếc lon như đã nói, nhưng khác hơn là nó được úp xuống, gắn đèn sáp đỏ lên. Tất cả được thượng lên bàn dưới chân tượng, ảnh Phật. Sau cùng là đốt nhang đèn.

Như thế, từ cái bàn bán hàng, bán thịt, bán bún …ngoài chợ, tất cả chúng đều nghiễm nhiên trở thành những cái bàn Phật, nhang, đèn, khói hương nghi ngút.

Có người nói, quân chính phủ đã đạp, đổ bàn Phật, nhang, đèn. Nên tôi cũng xin nói rõ là điều đó không hề có; mà các chiến sĩ dẹp loạn chỉ khiêng các bàn Phật để lên trên lề đường cho xe cộ lưu thông mà thôi.

Nhưng vì hơn bốn tháng các chợ tại Đà nẵng đã bị QĐVH của Phật Giáo Ấn Quang dùng bạo lực để bắt buộc phải bãi thị, không ai bán gạo hay thức ãn, nên những người hành khất và các em thiếu thi hè phố cũng phải chịu đói theo đồng bào. Bởi thế, nên cứ chờ khi các chiến sĩ dẹp loạn quay lưng, thì các vị khất sĩ này liền tới ngay các bàn Phật, tay này rút nhang vứt xuống đất, tay kia bưng những lon gạo trút vào các túi cái bang. Cùng lúc các chủ nhân của những chiếc bàn cũng nhanh chân đi thu hồi lại những chiếc bàn, để còn đem ra chợ buôn bán sau một thời gian dài chịu đói khát. Và tất nhiên, những người này họ phải đem nhang đèn để xuống đất, vì họ chỉ lấy lại những chiếc bàn của họ mà thôi.

Trở lại chuyện bàn Phật xuống đường.

Trong suốt thời gian Bàn Phật Xuống Đường, người dân Đà Nẵng đã chứng kiến và gánh chịu những khốn khổ vì hơn bốn tháng trời bàn Phật nằm đầy đường, Đà Nẵng trở thành thành phố chết, xe cộ không thể lưu thông, người phải đi bộ, các chợ vắng hoe, dân chúng không làm ăn buôn bán gì được, quân nhân, công chức, lao công không có lương, nhiều gia đình bị đói vì họ là những người dân từ các quận xa xôi như : Trà Mi, Tiên Phước, Hậu Đức, Khâm Đức, Quế Sơn …chạy về Đà Nẵng để lánh nạn cộng sản.

Hành quân Đinh Bộ Lĩnh :

Giữa lúc Phật giáo đã cướp chính quyền toàn thành phố Đà Nẵng, trong đó có Đài phát thanh. Chỉ trừ phi trường, mặc dù có dự tính nhưng không dám tấn công vì sợ Hoa Kỳ. Người dân Đà Nẵng đang khốn khổ và giữa lúc sinh mạng của các vị QCCVNCH là những tù nhân Phật giáo trong chùa Phổ Đà đang như sợi chỉ mành treo chuông. Như ông Lê Nguyên Long Trưởng ty Thông tin Quảng Nam đã kể :

« Tui không biết con số chính xác là tại chùa có bao nhiêu người, nhưng tui biết chúng tui mỗi phòng có bảy mươi người, mà các phòng của nhà tăng tại chùa Phổ Đà thì nhiều, vì chùa này là Phật Học Viện Trung Phần mà, nên nó lớn lắm mà đều kín chỗ hết, chúng tui nằm sát nhau rất chật chội, vì mùa hè nên nóng lắm, ai cũng đều phải trải chiếu nằm trên nền xi măng, lại bị muỗi đốt kinh khủng vì không có mùng, không được mặc áo quần dài, không có dép, không có khăn tắm, khăn mặt, không có xà phòng, không có kem và bàn chải đánh răng, không có cái gì cả ngoài bộ đồ lót trên người và chiếc chiếu, nghĩa là chúng tui đã sống như người ở thời tiền sử. Còn cách hỏi cung của mấy ổng thì ghê gớm lắm, vì mỗi lần hỏi cung là mỗi lần chúng tui đều bị tụi nó oánh, mà tụi nó có hỏi cung chi mô, nó kêu từng người ra các phòng khác để nó oánh cho đã thôi, khi về phòng người nào cũng giống như cái mền rách. Trời ôi ! tụi nó tàn ác lắm, nó oánh, nó oánh tụi tui, nó oánh ( nó đánh) từ trái sang phải, chúng tui tưởng đã bỏ xác trong chùa Phổ Đà rồi chớ. Nhưng chưa hết mô còn thêm một nỗi kinh hoàng hơn nữa là trước các cửa sổ các phòng đều có treo lựu đạn với lời tuyên bố của Quân Đoàn Vạn Hạnh : Đ.M, nếu Thiệu-Kỳ mà đưa quân vào đây là chúng tao bung lựu đạn cho chúng mầy chết tan xác hết. »

Tưởng cũng nên nhắc lại ông Lê Nguyên Long bị bắt trong lúc đang lái chiếc Vespa chở giáo sư Nguyễn Hữu Chi, Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam, trên đường từ Quảng Nam về Đà Nẵng, vừa đi đến ngã ba Duy Tân ĐN, thì bị Phật giáo chặn bắt cả hai vị. Sau đó Giáo sư Nguyễn Hữu Chi và ông Lê Nguyên Long bị đưa vào nhà tù Phổ Đà là nơi giam giữ nhiều tù nhân nhất, ngoài ra cũng có nhiều chùa cũng đã trở thành nhà tù như « chùa » Tam Bảo Tự ở số 323 đường Phan Châu Trinh ĐN.

Ngày 16-4-1966, « Phật giáo » đã vây bắt Thiếu tá Mai Xuân Hậu, quận trưởng quận Hòa Vang, và đồng loạt tấn công các trụ sở đảng phái, bắt hàng trăm viên chức chính quyền và các cán bộ của VNQDĐ do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo (ông Lê Nguyên Long cũng là VNQDĐ) đồng thời Phật giáo cũng tấn công Trụ sở Liên hiệp Nghiệp đoàn Lao công ở số 15 B đường Thống Nhất bắt ông Trần Hòa Tổng thư ký Liên hiệp Nghiệp đoàn và các nhân viên đem giam vào chùa Phổ Đà và còn quá nhiều người mà tôi không làm sao kể hết.

Cũng trong thời gian ấy, Phật giáo đã tấn công quân nhân và đốt các xe của quân đội Hoa Kỳ. Một trường hợp đã có rất nhiều biết đó là tại đầu đường Bạch Đằng, trước Cổ viện Chàm nhìn sang Trường Trung Học Sao Mai, khi đó một chiếc xe Jeep nhà binh trên xe có hai Sĩ quan, một Hoa Kỳ và một Đại Hàn vừa chạy trờ đến, thì « Đòan Thanh niên Phật tử Quyết tử » xông ra chặn đường và lôi hai Sĩ quan này xuống đất, hai Sĩ quan này hốt hoảng kêu cứu thì liền bị đám này túm cổ áo và đánh hội đồng, cùng lúc tưới xăng vào xe và châm lửa đốt. Khi ngọn lửa bốc cháy thì có nhiều người là nhân viên và khách trọ từ khách sạn Moderne do Phu nhân Trung tá Trần Nguyên An làm chủ đã chạy ra giải vây, lợi dụng lúc đó Phu nhân Trung tá Trần Nguyên An đã kéo cả hai Sĩ quan này chạy vào khách sạn che giấu. Sau đó bà đã tìm cách đưa họ trở về đơn vị.

Trong hoàn cảnh đó, ở dưới đất thì diễn ra cảnh đốt phá, vây bắt, đánh người thì trên không máy bay của quân đội đồng minh lượn quanh không phận Đà Nẵng không ngớt phát lời kêu gọi :

« Chúng tôi quân đội đồng minh, chỉ giúp đỡ và bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi không có đụng chạm đến Phật giáo cũng như chính phủ. Vậy chúng tôi thiết tha kêu gọi quý vị hãy chấm dứt việc hành hung và đốt xe của các quân sĩ đang thi hành công vụ. »

Nhưng « Lực lượng Tranh đấu Phật giáo » chẳng ai thèm nghe cả. Chính vì thế, tại Quảng Nam Việt cộng đã lợi dụng cảnh hỗn loạn ở thành phố để tấn công, nên các đoàn xe của quân đội Việt –Mỹ phải lên đường tiếp viện. Nhưng khi đoàn xe chạy qua khỏi ngã ba Huế thì từ trong chùa Phổ Quang do « Thượng tọa »Thích Từ Mẫn trụ trì đã ra lệnh cho « Phật tử » đông đảo sẵn có ra nằm la liệt trên mặt đường, ngăn cản đoàn quân viện không cho tiến vào Quảng Nam để cùng các đơn vị bạn chiến đấu với cộng quân.( Thích Từ Mẫn là chủ nhà sách Văn Nghệ tại Cali, Hoa Kỳ).

Mặt khác, các thầy đã ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » đến nhà ông Nguyễn Bá Sáu, ông Sáu là người Bắc di cư ở số 19 đường Lý Thái Tổ, là nơi cung cấp củi cho toàn thành phố và nói với ông Nguyễn Bá Sáu là cho mượn hết số củi đó chở về các chùa để các thầy tự thiêu. Ông Nguyễn Bá Sáu không cho mượn, ông nói :

« Tự thiêu củi cháy hết rồi lấy cái gì trả cho tôi. »

Nhưng ĐTNPTQT cứ xông vào khiêng hết số củi của ông bỏ lên xe đem về chất trước các sân chùa, chùa nào cũng có một đống củi, rồi các « thầy » tuyên bố :

« Nếu Thiệu-Kỳ đem quân vào chùa sẽ có người tự thiêu. »

Song quân chính phủ không hề động đến một cái chùa nào cả, chẳng phải quân đội sợ các « thầy » tự thiêu, vì ai cũng biết các « thầy » sợ chết lắm, mà vì sinh mạng của hàng trăm con tin là Quân-Cán-Chính-Việt Nam Cộng Hòa đang ở trong chùa.

Đến lúc quân chính phủ đã kiểm soát gần hết thành phố ; ông Nguyễn Bá Sáu vội đem xe đến các chùa đòi củi lại, ông nói :

« Các thầy nói mượn củi của tôi để tự thiêu, nhưng đến giờ này cũng không thấy ai tự thiêu cả, thì trả củi lại cho tôi, để tôi bán lấy tiền nuôi vợ con tôi. Còn nếu thầy nào muốn tự thiêu thì cho tôi biết, tôi sẽ cúng dường bằng xăng và nếu cần thuốc mê, thuốc tê, thuôc ngủ thì tôi cũng xin cúng dường luôn (ông Nguyễn Bá Sáu còn có tiệm thuốc Tây nữa) vì tự thiêu bằng xăng sạch sẽ hơn. »

Song đó là màn cuối cùng của các « thầy », bởi thấy quân của chính phủ không nhượng bộ thì « Quân Đoàn Vạn Hạnh » một số đã « đào ngũ » khi biết rõ các thầy là cộng sản, một số không trốn được nhưng cũng xuống tinh thần, nên các thầy còn cần đến những đống củi chất trước chùa để hù dọa chính phủ. Vì thế, các thầy không cho ông Sáu chở củi về . Nhưng ông Sáu thì cương quyết thu hồi số củi của ông, ông liền cho người khiêng hết củi bỏ lên xe chở về chất trước nhà. Lúc này, « Quân đoàn Vạn Hạnh » đang rầu thúi ruột vì quân chính phủ đã kiểm soát gần hết thành phố nên chẳng có ai ngăn cản.

Nhưng sau khi ông Sáu chở hết củi về rồi, các « thầy » mới thấy lo, vì không có củi lấy cái gì để hù tự thiêu với quân chính phủ. Vì thế, các thầy lại ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » tay cầm gậy gộc đến nhà ông Nguyễn Bá Sáu đánh ông một trận cho đỡ tức.

Phần ông Sáu, khi thấy đám côn đồ này xông vào nhà ông sợ quá liền chui vào đống củi, đám này bảo ông phải ra cho chúng đánh, ông không dám chui ra. Chúng biết ông trốn trong đống củi, nhưng củi nhiều quá chúng không biết ông trốn ở chổ nào. Tức quá, chúng liền tưới xăng vào đống củi và châm lửa đốt. Khi ngọn lửa bốc cháy, vợ con ông kêu cứu, đồng bào trong xóm nhiều người la lớn kêu cứu. Trong đó có ông Trương Quang Bông, lúc đó đang ở trên lầu bốn của Khách sạn Tao Nhã do vợ ông làm chủ ở số 172, đường Lý Thái Tổ. Vì ở gần nhà ông Nguyễn Bá Sáu, nên khi thấy ngọn lữa bốc cháy và nghe những tiếng kêu cứu của đồng bào, nên ông Trương Quang Bông đã gọi điên thoại cho sở cứu hỏa. Vì thế, lính cứu hỏa đã kịp thời dập tắt ngọn lửa, cứu ông Sáu ra khỏi đống củi và đưa ông đến bệnh viện. Ông chỉ bị bỏng nhẹ nên thoát chết, nhưng chưa thoát được bàn tay của các «thầy », nên sau ngày 30-4-1975, ông Sáu lại bị các « thầy » đem ra « Tòa án nhân dân » đấu tố đủ thứ « tội » cuối cùng tôi lại gặp ông tại Trại cải tạo T.154, và ông cũng ở gần mười năm mới được trở về.

Qua những hành động như đã kể. Chúng ta ai chũng thấy rằng các « thầy » quả thật quá ngang ngược, đã lấy củi của ông Nguyễn Bá Sáu trong lúc ông không đồng ý, đến khi muốn thu hồi củi ông Sáu phải tự thuê xe chở về, rồi cũng không yên thân, các thầy lại cho lũ côn đồ tới nhà đánh ông, lại còn chuẩn bị cả xăng mang theo để đốt sống ông Sáu nữa. Nhưng, nếu sở cứu hỏa không cấp cứu kịp thời thì chẳng phải một mình ông Sáu và gia đình ông chịu chết, mà nhà cửa và sinh mạng của đồng bào ở lân cận nhà ông Sáu tại đường Lý Thái Tổ cũng phải cùng chung số phận !!!.

Quân chính phủ có gây thương vong cho nhân mạng hay không ?

Vừa qua, trên mạng lưới toàn cầu tôi thấy cả hai ông tướng Tôn Thất Đính và Nguyễn Chánh Thi đã phát biểu hoàn toàn bịa đặt, như nói là « …trong cuộc tranh đấu của Phật giáo quân chính phủ đã làm thiệt mạng cho 240 người tại Đà Nẵng »

Nên biết, suốt thời gian ấy ông Thi đã trốn ngoài Huế nên không biết hay thấy những gì đã xãy ra tại Đà Nẵng. Bây giờ ông Thi đã chết, nhưng cách đây mười năm, sau khi đọc cuốn hồi ký của ông tôi có một bài viết trên Văn Nghệ Tiền Phong số 556, trong đó có một đoạn, nay tôi xin viết lại đoạn đó như sau : Tôi đã đọc cuốn hồi ký ấy, ngay từ trang đầu tiên ông đã viết :

« Vì lòng yêu nước tôi đã gia nhâp quân đội 1940… ».

Tôi muốn hỏi tướng Thi : Vào thời điểm đó Trung tướng nói yêu nước là yêu nước nào ? Gia nhập quân đội nào ? Cầm súng của ai và để bắn giết ai ?

Và những câu hỏi trên cho đến chết tướng Thi vẫn không trả lời được.

Riêng tướng Tôn Thất Đính. Trong cuộc bạo loạn của Phật giáo tại Đà Nẵng. Sau bốn mươi ngày « Phật giáo bắt giam nhiều vị QCCVNCH, chính phủ đưa ông ra Miền Trung để điều đình với phe nỗi loạn để giải cứu số tù nhân Phật giáo

Ngày 26-5-1966, khi tướng Đính đến chùa Phổ Đà gặp các tù nhân Phật giáo, chính ông đã nói với các vị tù nhân câu này tôi xin nhắc lại nguyên văn :

« Tôi đến để trả tự do cho các anh, để các anh trở về chiến đấu với cộng sản. »

Với câu nói này tướng Đính đã bị hai ông Lê Nguyên Long và ông Ngô Hải Quảng phản đối đến rất nặng lời. Riêng ông Lê Nguyên Long vì ức quá ông đã vung cả hai tay chỉ ngay sát vào ngực áo cà sa của từng ông Sư la lớn tôi xin ghi lại nguyên văn như sau đây :

« Trung tướng bảo chúng tôi đi đánh cộng sản hả ? Đánh cộng sản đâu cần phải đi xa. Cộng sản là thầy chùa đây nì, thầy chùa là cộng sản đây nì. »( đây nì: đây này).

Tôi không muốn nhắc lại dài dòng, tôi chỉ nói thêm là khi đó có nhiều người không chịu ra khỏi chùa, họ đòi phải đưa Thích Đôn Hậu, Thích Minh Chiếu và các thầy chùa cùng nội vụ ra tòa, đòi thầy chùa phải trả lời tại sao bắt họ ? Họ có tội gì ? Thầy chùa lấy tư cách gì để bắt giam, đánh đập họ bốn mươi ngày ? Nhưng họ đã không đòi được công đạo, vì chính quyền lúc ấy khiếp nhược, cầu an.

Cho đến bây giờ, tôi cũng không hiểu tại sao tướng Đính lại nói : « Tôi đến để trả tự do cho các anh … » Phải chăng chính tướng Đính đã ra lệnh cho « Quân đoàn Vạn Hạnh » bắt giam các vị ấy ? Vì chỉ có người ra lệnh và người bắt giam mới có tư cách « để trả tự do ». Và cả hai ông tướng đều nói đến hàng trăm người đã thiệt mạng, nhưng tại sao không đưa ra được một bằng chứng cụ thể ? Còn tôi, tôi có đủ bằng chứng và nhân chứng sống cũng như tên, họ, chánh, trú quán của những nạn nhân còn sống cũng như thân nhân của người đã chết.

Còn một điều khác nữa là không ai biết được những diễn biến bên trong giữa Phật giáo và tướng Đính, vì sau đó Tôn Thất Đính chẳng những không giúp chính phủ mà còn đứng về phe nổi loạn. Vì vậy, chính phủ phải gấp rút đưa quân ra Trung để dẹp loạn, khi thấy sự quyết liệt của chính phủ thì những người cầm đầu của loạn quân trong cái gọi là « Quân đoàn Vạn Hạnh » đã rút vào sào huyệt cuối cùng là « chùa » Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng.

Khi quân chính phủ đã kiểm soát toàn thành phố ĐN trừ chùa Pháp Lâm. Vì để hoàn tất kế hoạch hành quân mà không gây đổ máu, quân đội đã bao vây chùa Pháp Lâm, dùng loa phóng thanh kêu gọi tất cả hãy ra đầu hàng. Lúc này mọi người đều thấy những người này tuần tự bước ra khỏi chùa, hai tay đều giơ cao khỏi đầu và xin đầu hàng quân chính phủ, trong những người ra đầu hàng này người ta đã thấy những tên quen thuộc như sau đây :

1- Trung tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh quân đoàn 1, Vùng 1 chiến thuât, kiêm Đại biểu chính phủ tại vùng 1.

2- Đại tá Nguyễn Văn Mô, Tham mưu trưởng Quân đoàn 1

3- Đại tá Đàm Quang Yêu, Tư lệnh Biệt khu Quảng-Đà

4- Bác sĩ Nguyễn Vãn Mẫn, Thị trưởng Đà Nẵng

5- Lưu Văn Ngộ, Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia ĐN

6- Âu Quang Minh, Trưởng ty cảnh sát Quốc gia Quảng Nam.

Tiếp theo sau là những thuộc hạ của những người này, trong « Quân đoàn Vạn Hạnh »

Sau đó, Quân chính phủ đã ra lệnh buộc sáu ông Đính-Mô-Yêu-Mẫn-Ngộ- Minh và thuộc hạ phải leo lên xe bít bùng và chở lên phi trường đưa về Sài Gòn tống giam.

Nhưng tiếc rằng, chính phủ lúc ấy đã không làm hết việc. Tại sao chỉ bắt tướng Đính và năm người cầm đầu cùng loạn quân còn lại trong « chùa » mà không bắt thầy chùa. Nên nhớ, là chính phủ có quyền bắt tất cả những kẻ đã gây ra cuộc bạo loạn để đưa ra Tòa án Quân sự Mặt trận và bỏ tù, cũng như buộc hoàn tục, vì họ có tu thật đâu, họ chỉ núp dưới chiếc áo cà sa để làm giặc. Vì các « thầy » đều có mang lon sĩ quan Tuyên úy, như Thích Minh Chiếu, Thiếu tá trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1 Chiến thuật, Thích Như Huệ mang lon Đại úy Biệt động quân đi dụ dỗ trẻ em vị thành niên đến có bầu, bị gia đình các bé gái ở Hội An kiện ra tòa, và còn rất nhiều nữa.

Chính vì việc làm nửa vời này của chính phủ nên mới di họa cho đến 30-4-1975, và không biết sẽ còn đến bao lâu nữa ???!!!

Để trả lời tướng Tôn Thất Đính và trên hết là tôi muốn trân trọng gửi đến quý độc giả những sự kiện đã xãy ra thật chính xác như sau đây :

Trước hết, tướng Tôn Thất Đinh vì đã trốn trong các chùa. Sau cùng là Chùa Pháp Lâm nên không bao giờ thấy hay biết những gì xảy ra ở bên ngoài. Vì vậy, tôi khẳng định lại một lần nữa là những gì tướng Đính nói là hoàn toàn bịa đặt.

Thảm cảnh của đồng bào tại Thành Phố Đà Nẵng :

Sau hơn bốn tháng, người dân thành phố Đà Nẵng đang đối mặt với tử thần, thì Chiến dịch Hành quân Đinh Bộ Lĩnh được ban hành. Khi bộ chỉ huy lực lượng hành quân ĐBL đã chiếm được Đài phát thanh Đà Nẵng thì đã phát lời kêu gọi của Đại tá Nguyễn Thanh Yên, Chỉ huy trưởng Thủy quân Lục chiến kiêm Quân Trấn Trưởng Đà Nẵng như sau :

« … Nghiêm cấm quân sĩ không được xâm phạm chốn tôn nghiêm, tuyệt đối không được nổ súng bắn trả lại quân phản loạn cho dù có bị thương vong. Đồng thời kêu gọi đồng bào hãy tiếp tay quân đội chính phủ, khiêng các bàn thờ Phật tổ để tạm yên trên lề đường cho xe cộ lưu thông, vãn hồi an ninh trên lãnh thổ Quãng Nam-Đà Nẵng. Nhưng nhớ phải cẩn thận không được làm ngã đổ tắt nhang đèn. »

Vì bị đói khổ nhiều ngày tháng, nên đồng bào ĐN rất vui mừng hưởng ứng lời kêu gọi và đã hăng hái tiếp tay với các chiến sĩ dẹp loạn, trong đó có em Lê Quang San 16 tuổi, học sinh lớp Đệ tứ trường Trung học An Hải quận 3, con của ông bà Lê Quang Khâm, chánh quán thôn Bát Nhị, xã Kỳ Ngọc, quận Điện Bàn, Quảng Nam, lánh nạn cộng sản tại An Cư1, phường An Hải Đông, quân 3 ĐN.

Lúc đó, những kẻ cầm đầu của cuộc bạo loạn miền Trung đã rút vào sào huyệt cuối cùng là chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng, tại số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để phòng thủ.

Nhưng họ vẫn không chịu ngưng tiếng súng, mà từ trong chùa « Quân đoàn Vạn Hạnh » cứ bắn xả từng loạt đạn ra đường, những người khiêng dọn bỏ chạy, riêng em Lê Quang San vì sợ quá không chạy được nên đã chui xuống bàn Phật để tránh đạn thì bị lính của Quân đoànVạn Hạnh lôi vào cổng chùa Pháp Lâm, rồi giáng cho em những trận đòn thừa sống thiếu chết, sau đó nổ súng bắn em San chết gục tại phía trong cổng chùa Pháp Lâm; mặc dù đã chết, thân thể quắt queo bởi những cú đấm, đá của Quân Đoàn Vạn Hạnh; nhưng đôi mắt em Lê Quang San vẫn mỡ to nhìn vào nơi Phật Tự!!!

Sau đó, nghe điện báo của quân sĩ trấn thủ vùng này, Đại tá Nguyễn Thanh Yên đích thân đến tận nơi chứng kiến xác chết của em San. Rồi Đại tá Nguyễn Thanh Yên ra lệnh đưa thi thể em lên Quân Y Viện Duy Tân, chờ tìm thân nhân nhận xác.

Sau đó, qua tường trình của các viên chức an ninh, biết được gia đình em nghèo, cha làm nghề đạp xích lô, mẹ làm công việc nội trợ, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia, đã gửi đến gia đình em 20.000 đồng để giúp đỡ việc an táng cho em San.

Mặc dù chính phủ đưa quân ra Trung vào ngày 27-6-1966, nhưng cho đến hết tháng bảy các binh sĩ và đồng bào mới thu dọn sạch sẽ trên đường phố, đầu tháng tám các chợ mới đông, thành phố Đà Nẵng mới hồi sinh.

Về con số thương vong, ai cũng biết có người chết và rất nhiều người bị thương do đạn của « Quân đoàn Vạn Hạnh » từ trong các chùa bắn ra để giết chết đồng bào và quân chính phủ làm công việc dọn dẹp trên đường phố. Một số người bị thương vì bị « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » đánh đập và dùng gậy gộc, gạch, đá tấn công, bởi họ không chịu bãi thị, không chịu đi biểu tình, không cho khiêng bàn thờ Phật của họ ra đường. Còn quân chính phủ không dám nỗ súng vì trong các chùa còn có hàng trăm con tin là QCCVNCH. Nên biết, nếu đúng như lời của hai ông Thi-Đính thì còn loạn hơn như thế nữa. Bởi, chỉ cần có một người của loạn quân mà chết, dù là trúng gió chết hay bị chó cắn mà chết , thì chắc chắn quân bạo loạn sẽ khiêng cái xác ấy đi biểu tình và nói là quân chính phủ giết họ. Nhưng may mắn là trong suốt thời gian bạo loạn gió cũng hiền, chó cũng biết sợ nên « lực lượng tranh đấu » chẳng có ai trầy sướt gì cả.

Khi tình hình Đà Nẵng đã ổn định ông bà Lê Quang Khâm đã đến Đặc Khu Quân Trấn gặp Đại tá Nguyễn Thanh Yên, yêu cầu đưa ra pháp lý để làm sáng tỏ cái chết của em Lê Quang San thì được Đại tá trả lời :

« Tôi cũng là người Đà Nẵng, xin thành thật chia xẻ nỗi đau thương của ông bà, nếu cần gì tôi sẽ đề nghị ông Thị trưởng giúp đỡ. Còn điều ông bà yêu cầu, tôi xin lỗi không làm được, vì như mọi người đều biết các trụ sở đảng phái, nghiệp đoàn cũng bị tấn công, hàng trăm QCCVNCH đã bị bắt giam trong chùa Phổ Đà. Vì thế, trước mắt mọi người Phật giáo đã không còn tính chất của tôn giáo nữa. Song, không có cách nào khác hơn vì vũ khí của quân đội thì mang bên ngoài bộ quân phục, nhưng vũ khí của các thầy lại nằm bên trong chiếc áo cà sa ! Không phải một mình cháu San mà còn rất nhiều nạn nhân, trong đó có rất nhiều binh sĩ đã mất mạng ! Nếu tôi có làm điều gì hơn nữa thì chỉ tạo nhân tố cho họ dùng biển người trấn áp, mà không biết chừng lại nỗi loạn lên nữa, bởi dù là cọp trên rừng mà đã lạc xuống đồng thì cũng đành chịu vậy !

Vì hưởng ứng lời kêu gọi của quân đội mà ra nông nỗi, vậy tôi thành thật xin lỗi ông bà cũng như tất cả các gia đình của những nạn nhân xin hãy thấy được nỗi khó khãn của tôi mà dành cho tôi một sự cảm thông. »

Trước những lời chí tình của Đại tá Nguyễn Thanh Yên, ông Lê Quang Khâm đã nói :« Chúng tôi xin cám ơn Đại tá, nhưng ngoài việc muốn làm sáng tỏ về cái chết oan uổng của con tôi, chúng tôi không cần gì khác hơn nữa cả. »

Tôi cũng muốn nói thêm rằng, ngoài số người đã bị bắt còn có một số cán bộ đảng phái đã chạy thoát, bị Phật giáo truy đuổi, một số chạy lên được phi trường, một số chạy xuống khu Nội Hà, phường Thanh Bình thì được đồng bào miền Bắc di cư nuôi giấu trong nhà. Đặc biệt một số đông cùng đường đã chạy vào nhà thờ nhờ Cha Bề trên Nguyễn Văn Phương che chở, nhưng Cha Nguyễn Văn Phương nói :

« Nhà Chúa luôn luôn rộng mỡ, nhưng tiếc rằng không thể để quý vị trong nhà thờ được, vì như thế nhà thờ sẽ bị tấn công. »

Khi nghe vị Linh Mục nói như thế, các vị định quay lưng, và các vị đã có ý định mỡ đường máu để thoát thân. Nhưng, thật bất ngờ khi nghe Cha Phương nói:

« Thôi các vị hãy vào đây, nếu có chết thì cùng chết với nhau. Bởi các vị mà chết hết thì tôi sống làm sao yên, mà cũng không đáng sống ».

Nói xong Cha Nguyễn Văn Phương đã đưa tất cả các vị vào trong nhà thờ. Nhưng để bảo toàn cho sinh mạng của các vị này, đồng thời cũng để cho nhà thờ khỏi bị tấn công, nên Cha Phương đã cho người gọi ông Trần Văn Tuyên đến đón các vị ấy về nhà nuôi giấu, và vợ con ông bà Trần Văn Tuyên đã cơm bưng, nước rót hầu các vị ấy hơn hai tháng.

Ai cũng biết hơn bốn tháng trời Đà Nẵng là thành phố chết, có tiền không mua gạo được, mà số người ẩn trốn lại quá đông. Vì thế, Cha Phương đã kêu gọi đồng bào miền Bắc di cư đóng góp để nuôi họ. Riêng ông Trần Văn Tuyên vì nhà ông nuôi giấu người đông nhất, nên các vị ấy đã chứng kiến hàng ngày cảnh ông Tuyên đã mang bị đi xin từng lon gạo, từng tí mắm « của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn trùng » để đem về nuôi họ.

Và cũng nên biết, khi chạy đến nhà thờ của Cha Nguyễn Văn Phương, rồi đến trốn ở nhà ông bà Trần Văn Tuyên; tất cả các vị chỉ có một bộ áo quần trên người, ngoài ra không có một vật dụng nào khác. Ví thế, Linh Mục Nguyễn Văn Phương đã kêu gọi tất cả giáo dân đóng góp từng bộ áo quần, từng chiếc khăn, đôi dép cho đến những vật dụng cá nhân như kem, bàn chải răng …

Nhưng, đến khi sóng lặng, gió êm các vị này ai cũng có chức cả, nào là Chủ tịch, bí thư, nghị sĩ, dân biểu, nghị viên …Lúc này « vị » nào cũng đi đứng hiên ngang nên đa số không còn nhớ đến cái lúc cùng đường xông đại vào nhà người ta cầu cứu, cũng như lúc từ nhà thờ Thanh Bình đến nhà ông bà Trần Văn Tuyên « quý vị » đã vừa lết vừa bò vì sợ « Phật giáo » phát giác. Hơn ai hết, là đồng bào miền Bắc di cư họ thừa hiểu nếu « Phật giáo » biết được họ đã nuôi giấu « quý vị » trong nhà thì cả phường Thanh Bình cũng cùng số phận như Thanh Bồ trước đó; song họ đã bất chấp mọi thứ bởi thấy nguy là phải cứu, thế nhưng, làm người cái lịch sự tối thiểu là phải biết nói lời cám ơn khi được người khác cứu giúp. Nhưng « quý vị » ấy kể từ lúc rời khỏi Thanh Bình, trước 1975, « quý vị » ai cũng có quyền, có chức vậy mà đa số không hề có một lần ghé lại nhà ông bà Trần Văn Tuyên nói lời cám ơn. Ngày ông Trần Văn Tuyên mất cũng không có nữa lời chia buồn cùng gia đình.

Hiện nay, bà Trần Văn Tuyên và các con vẫn còn ở nguyên căn nhà cũ ở đường Cao Thắng, nơi mà ngày xưa « quý vị » từng ăn trốn ngủ lén hơn hai tháng ở đó.

Trước ngày vượt biển, tôi có đến nhà bà Trần Văn Tuyên nhiều lần, bà nói cười rất vui vẻ khi nhắc lại những ngày nuôi giấu các vị ấy trong nhà. Lúc ấy, các con của ông bà cũng như tất cả thiếu nhi phường Thanh Bình, theo sự hướng dẫn của bố mẹ, chúng đã trở thành đội canh phòng quanh phường để giữ an ninh cho các vị. Tôi nhớ tên từng « vị » đấy.

Khi nhắc lại điều này, tôi không sánh « quý vị » với Hàn Tín xưa. Tôi chỉ nhớ trong truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du có đoạn nàng Kiều của lầu xanh, khi thoát cơn bĩ cục đã mượn oai của Từ Hải để ân đền, oán trả. Trong truyện Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu, có nói đến tên tiểu đồng hàng ngày đi xin cơm về cúng mộ Lục Vân Tiên :

« … Sáng đi khuyên giáo tối về cúng đơm,

Dốc lòng trả nợ áo cơm,

Sống mà trọn nghĩa, thác thơm danh hiền. »

Lúc thi ân, ông bà Trần Văn Tuyên không hề mong « quý vị » đền đáp, nhưng là những kẻ đã thọ ân mà suốt bao nhiêu năm qua « quý vị » đã thực sự quên đi những ngày tháng ấy thì rõ ràng là « quý vị » đã không xứng danh là quân tử.

Trên đây, là những lời tôi muốn nhắc lại cái tình người với các « vị chính khách ». Còn nói đến cuôc bạo loạn bàn Phật xuống đường vào mùa hè 1966, thì còn quá nhiều nhưng bài viết đã dài. Tôi xin tạm dừng lại ở nơi đây. Xin tái ngộ quý độc giả với những tài liệu về Thích Thiện Hào, Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Minh và rất nhiều « ông » Thích nữa của Phật Giáo Ấn Quang cũng trên trang báo này; và về Cuộc Thảm Sát Thanh Bồ-Đức Lợi, Đà Nẵng 24-8-1964.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_CuocBaoLoanBanThoPhatXuongDuongTaiMienTrung_Muahe1966.htm

Tiananmen Massacre 1989 in China

http://www.esnips.com/web/ccdd

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" (5)

CON ĐƯỜNG ĐẠO

(5)

Hay Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!”

Bách Linh

oo0oo

Con rắn Đỏ vô cùng hung hiểm

Lạy lục Nga Tầu không nề điếm nhục

Con rắn Hồng dù lột xác cũng không

Thoát khỏi lưới trời lồng lộng mênh mông.

Lẽ cùng thông huyền bí vô cùng……

Có những con người giả đui, điếc thầm câm

Song rất thính và nhìn xa rất tốt.

Tập thơ Vô Đề & Khuyết Danh

Nực cười cho lũ bàng quan

Cờ tan lại muốn hai hàng sang xe,

Lại còn áo mũ xum xoe

Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.

Thôi thôi mặc lũ thằng hề!

Gió mây ta lại đi về gió mây

Cơ Bút của Linh Mẫu Chúa Liễu

o0o

12. Anh hùng quốc doanh Thích Quảng Độ “không sợ” công an! Những thủ đoạn dùng cò mồi của Cộng sản.

Vào năm 1999, song song với chiều hướng chính trị có vẻ thuận lợi cho Cộng sản Hà Nội Ờ ký hiệp ước thương mại với Hoa Kỳ Ờ bọn cò mồi nhân quyền, các tổ chức và nhân sự chính trị, kháng chiến ma mãnh, các tổ chức “liên tôn ma giáo”, tăng ni quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang đều nín khe, không dám lên tiếng chống đối cuộc ký kết hiệp ước thương mại được ấn định vào đầu tháng 9/1999. Bọn này công khai ra mặt “không” chống Cô.ng.

Tin ngày 31/8/1999. Công an khủng bố HT Quảng Độ, nửa đêm đập cửa chùa hăm do.a.

Paris. Công an Sài Gòn đang tung ra đợt khủng bố mới nhằm vào Hòa thượng Thích Quảng Độ, theo lời Hòa thượng kể cho một biên tập viên tạp chí Thông Luận tại Paris hôm Chủ Nhật 29/8.

Trong cuộc nói chuyện qua điện thoại, Hòa thượng cho biết là vừa phải vào bệnh viện rửa ruột, trong khi bệnh tiểu đường vẫn hành hạ và gây nhiều biến chứng trong đường tiêu hóa. Hòa thượng cho biết bây giờ đi lại rất khó khăn vì chân yếu đi.

Đặc biệt, Hòa thượng kể rằng vào đêm 13/8, lúc 12:30 đêm, một toán công an tới gõ cửa chùa, đòi gặp “ông Quảng Độ”. Các nhà sư nói, chùa không tiếp khách ban đêm, có gì các ông trở lại sáng mai. Băng công an này làm dữ, dọa phá cửa chùa vào. Các thầy vẫn không chịu mở, viên chỉ huy ra lệnh phá cửa, nhưng khi sắp phá thì lại thôi.

Hòa thượng Quảng Độ cho rằng “người ta bắt tôi trong đêm để không ai biết. Không biết rồi họ sẽ làm gì đây? Tôi chờ đơ.i.” Trong cuộc nói chuyện này, Hòa thượng tỏ ra vui vẻ, nói đùa rất nhiều trong cuộc nói chuyê.n.

Ta thấy ngay cái trò hề bịp bợm của Thích Quảng Độ. Công an Cộng sản nào dám bắt sư quốc doanh nhà nước? Để đến khi nhân dân Việt Nam tiêu diệt Cộng sản rồi xem Quảng Độ và tập thể tăng ni Ấn Quang, Vạn Hạnh sẽ bị bắt và tiêu diệt ra sao?

Đảng Cộng sản thường xử dụng cán bộ cò mồi ra vẻ chống đảng và phê bình đảng Cộng sản, để lôi cuốn những đảng viên khác nói theo và chống theo. Những đảng viên mắc mưu cò mồi lên tiếng hùa theo chửi đảng hay phê đảng đều bị bắt giết, thủ tiêu vì tội phản đảng. Cộng sản gọi đó là thanh lọc đội ngũ cán bộ đảng viên.

Thanh trừng nội bộ là truyền thống đặc biệt của Cộng sản. Khi Cộng sản ngả theo Liên Xô thì cán bộ loại thân Trung Cộng bị gạt sang một bên, hoặc giết hoặc cho về hưu. Khi đảng Cộng sản manh nha theo Mỹ thì chính đảng Cộng sản tung cò mồi để bắt giết những cán bộ đảng viên tỏ vẻ thân Mỹ và nhìn đâu cũng thấy CIA, nên sự thanh trừng đảng viên manh nha khen Mỹ hay thích Mỹ đã trở thành sự cần thiết phải có.

Biết đảng viên miền Nam bất mãn với đảng và quen lối làm giàu, thích Mỹ, nên đảng Cộng sản đã ra lệnh cho Nguyễn Hộ và Trần văn Trà lập ra “Câu Lạc Bộ những người Kháng Chiến Cũ” ở miền Nam vào những năm 1985, 1986. Kết quả có khoảng 15,000 đảng viên miền Nam loại nòng cốt, công lao nhiều, nhưng dám lên tiếng chống đối Cộng sản Bắc Kỳ, đều đã bị giết hoặc thủ tiêu.

Sau đó năm 1988, Bùi Minh Quốc, Đỗ Trung Hiếu, Tiêu Dao Bảo Cự, Nguyễn Hữu Loan đã làm một chuyến đi dài từ Nam ra Bắc để làm cò mồi chống đảng. Kết quả, con đường máu của bọn cò mồi này đã đầy xác chết của khoảng 10,000 đảng viên! Từ 1977 đến 1984, tại miền Nam đã có nhiều cuộc đảo chánh “cò mồi” và đã có nhiều đảng viên loại cao cấp bị mang ra Bắc để hỏi tội, kể tội rồi thủ tiêu luôn.

Khi một người bị Cộng sản bắt tình nghi tội chống đảng hay phản đảng, thì không phải chỉ có một người bị giết. Nhà cửa họ bị tịch thu và vợ con bị đuổi ra ngoài đường. Họ sẽ bị tra tấn đến mức phải khai những người khác, người thân, bạn bè, họ hàng. Và những người này cũng bị bắt, gia đình họ phải tan nát. Và cứ tiếp tục như thế. Thành thử khi một người bị bắt thì có thể xảy ra bị bắt dây chuyền với hàng ngàn người bị bắt theo và hàng ngàn gia đình, con cái, trẻ nhỏ đều bị giam tù hay giết chết trong sự âm thầm, vô danh. Không bao giờ có tin tức nào lọt ra ngoài.

Nếu hiểu thế nào là Cộng sản công an trị với hàng ngàn trại tù và hàng triệu tù nhân, không bao giờ được xử án, hay thời hạn bị giam tù, thì ta hiểu ngay những tên sư quốc doanh và cán bộ được nhà nước Cộng sản tung ra hải ngoại, với tiếng tăm bị xử án, bị tù mà không ở tù, bị xử tử hình mà không chết, gia đình vợ con được Nhà Nước Cộng sản cho đi Mỹ để tiếp tục viết lách, hoạt động, tuyên truyền khéo cho chế độ Cộng sản… đều chỉ là những nhân vật trong một màn kịch nhân quyền bịp bợm do chính Cộng sản dựng lên.

Cộng sản tung cò mồi ra hải ngoại với mục đích xóa sự căm thù Cộng sản, dò tìm và vô hiệu hóa các âm mưu kế hoạch hoặc cá nhân chống Cộng được người Mỹ ủng hộ, lái hướng chống Cộng và ý chí tiêu diệt Cộng sản sang hướng hòa giải hòa hợp bất bạo động, hô hào “xin” Cộng sản ban cho nhân quyền, dân chủ… Chúng bắt tay với bọn chó săn hải ngoại do kháng chiến mafia làm hậu thuẫn với sự công khai hóa bắt tay với Cộng sản dưới chiêu bài liên kết, nối kết “trong ngoài”. Gần đây nhất, bọn cò mồi luôn luôn hô hào rằng “Cộng sản phải giải thể” và “tranh đấu nhân quyền, dân chủ cho Việt Nam”.

Bọn cò mồi đã lộ mặt bịp bợm một cách ngu dốt, nhà quê khi mọi người Việt hải ngoại đều nhìn thấy rõ ràng rằng không ai có thể bắt đảng Cộng sản phải giải thể. Và nếu có nhân quyền dân chủ thì cũng chỉ là nhân quyền dân chủ theo kiểu Cộng sản công an trị. Mọi người đều hiểu rằng nếu Cộng sản “cho” nhân quyền, dân chủ thật sự thì Cộng sản đã tự hủy diê.t.

Từ năm 1992 cho đến 1998…, ta thấy những tên tù nhân lương tâm và nhân quyền Cộng sản được báo đảng, đài đảng, báo chùa, báo chợ hải ngoại đánh bóng, đề cao… Hầu hết các báo chùa, báo chợ, báo đảng, đài đảng, kể cả đài Á Châu Tự Do với các nhân vật “không quốc gia” như Nguyễn Ngọc Bích, Ngô Vương Toại, Nguyễn Khanh, Đinh Quang Anh Thái…, đều không có một tiếng nói chống Cô.ng. Tất cả chỉ xoay quanh vấn đề phỏng vấn và đăng bài những tên có mồi nhân quyền dân chủ, và đồng thời mặc nhiên công nhận sự hiện hữu của chế độ và đảng Cộng sản. Ta cũng thấy rằng năm 1998, cán bộ Cộng sản hải ngoại được chỉ thị cố gắng công khai với người hải ngoa.i. Vũ Bình Nghi ở San José đã công khai phỏng vấn tổng lãnh sự Cộng sản Nguyễn Xuân Phong, cũng nằm trong mục đích làm cho nổi bật sự hiện diện của chính quyền Cộng sản. Hoàng Cơ Định, lãnh tụ Mặt Trận kháng chiến (nhưng chỉ bán phở) Hoàng Cơ Minh cũng lên tiếng bênh vực Vũ Bình Nghi.

Người Việt hải ngoại đã lạnh lùng thờ ơ vì tự nhiên trong thâm tâm họ, chẳng ai có cảm tình và tin được một lũ cán bộ Cộng sản và những tên đón gió trở cờ rất ngu ngốc, nhà quê, mà lại cứ lên mặt ta đây trí thức, khoe bằng cấp và muốn làm lãnh tụ! Những tên Cộng sản ra hải ngoại đóng kịch đòi nhân quyền dân chủ vào giờ thứ 25 thì làm sao cứu được chế độ Cộng sản?

Người Mỹ tỏ vẻ ủng hộ, hỗ trợ cho bọn cò mồi Cộng sản này. Chắc chắn người Mỹ phải biết chúng là Cộng sản và hoạt động cho Cộng sản. Nhưng tại sao người Mỹ lại để yên cho chúng hoạt đô.ng? Tại sao người Mỹ tỏ vẻ lơ là với công cuộc chống Cô.ng? Tại sao lại chỉ có những tố chức chống Cộng “ma”, kháng chiến “ma”, chính phủ “ma” để cho Cộng sản yên tâm rằng hải ngoại không có bất cứ hoạt động chống Cộng sản hữu hiệu nào? Nếu tìm hiểu sâu xa, ta thấy rằng một vài cá nhân hay tổ chức, thân cộng hay chống Cộng, dù có vỗ ngực xưng danh cũng chẳng làm nên trò trống gì. Chống Cộng và tiêu diệt Cộng sản là một vấn đề chiến lược quốc gia và siêu quốc gia, quân sự và siêu quân sự. Hầu hết các chiến lược gia trên thế giới đều không nghĩ ra hay đoán ra cái thế chiến lược bí hiểm này!

* * *

13. Sửa soạn thành lập chế độ “Phật Giáo Công An Trị” để thay thế đảng Cộng sản.

Một phương án khác là sửa soạn cho GHPGVNTN thay thế đảng Cộng sản và dùng lý thuyết Phật giáo thay thế lý thuyết Cộng sản. Kế hoạch này sẽ cứu sống nhân sự Cộng sản. Nếu tồn tại, những nhân sự Cộng sản này sẽ hoạt động đánh phá các chính quyền quốc gia cho đến khi cướp lại được chính quyền. Trong trường hợp người Mỹ ủng hộ GHPGVNTN làm đối lập chính trị với Cộng sản theo kiểu dân chủ đa nguyên trong diễn biến hòa bình, thì GHPGVNTN và nhân sự lãnh đạo Cộng sản vẫn nắm chính quyền, chỉ thay thế cái tên Cộng sản.

GHPGVNTN vẫn gắn bó với Cộng sản như một tổ chức ngoại vi hàng đầu từ mấy chục năm qua, thì làm sao mà người Mỹ hay người ngoài có thể tin? Lại còn cái tên “quốc doanh” do nhân dân Việt đặt tên từ năm 1975, thì làm sao xóa bỏ?

Từ năm 1992, Tăng Thống quốc doanh Thích Huyền Quang và tổng bí thư GHPGVNTN Thích Quảng Độ ký tên và Cục Phản Gián gửi nhiều bản điện thư tranh đấu ra hải ngoa.i. Tiền gởi hàng chục ngàn trang giấy điện thư đi khắp báo chí, đài phát thanh trên thế giới từ năm 1990, có thể đã tốn hàng triệu đôla. Ta có thể hiểu ngay là chỉ có Tổng Cục Phản Gián mới có thể đài thọ chiến dịch “điện thư” tranh đấu cuội này.

Trong khi đó thì Huyền Quang vẫn nói rằng bị “quản chế” tại chùa, với công an vây bọc 3 vòng trong ngoài! Hỏi ra thì “ngài” Tăng thống quốc doanh Thích Huyền Quang của GHPGVNTN làm Ủy viên Chủ tịch, Chủ tịch đoàn Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc kiêm đại biểu Quốc Hội Cộng sản, kiêm Ủy viên Trung Ương Đảng… vẫn ở trong chùa Hội Phước lộng lẫy nguy nga nhất tỉnh Quảng Ngãi. “Ngài” Tăng Thống quốc doanh Thích Huyền Quang được cả một đại đội công an bảo vệ rất kỹ càng, vòng trong vòng ngoài, đi đâu có xe ô tô đưa đón, chứ không có bao vây gì ráo!

Sau loạt bài Hoa Sen Đỏ lột trần mặt nạ sư quốc doanh, Thích Huyền Quang từ bỏ Tăng Thống mà dùng chữ xử lý thường vụ Viện Tăng Thống (ma). Danh từ Tăng thống cũng khó dịch sang tiếng Anh trong các bản văn phát ra hải ngoa.i. Nếu dịch là Monk President thì nghe nó kệch cỡm, đầy vẻ cao ngạo, ngu xuẩn. Làm sư thì làm sư, chứ sao lại là “Tổng Thống Sư”? Người nghe có thể mỉa mai là “Monkey President”! Huyền Quang cũng đóng kịch bị quản chế ở chùa khác. Thật ra thì mỗi khi có khách nước ngoài đến thăm, như trường hợp Phó Tham Vụ tòa đại sứ Mỹ David Young đến phỏng vấn đầu tháng 12/1999, thì Huyền Quang tạm ra ngoài ở một cái chùa nhỏ hơn với công an bảo vệ, để tiện tiếp khách.

Trong bản kiến nghị 9 điểm đề ngày 25/6/1992, Thích Huyền Quang đã vong bản phản bội tổ tiên Hồng Lạc tới mức khoe rằng 80% dân chúng cả nước hay là 56 triệu người (1992) kể cả đàn bà và trẻ con mới đẻ đều là phật tử, con Phật, ngụ ý gần hết cả nước Việt Nam là “con dân” của GHPGVNTN. Thích Huyền Quang cũng vong bản khi khoe rằng GHPGVNTN của y có công “mở nước, dựng nước” trong hai ngàn năm qua! Năm 1997, Thích Giác Lượng còn khoe rằng 90% dân chúng Việt Nam (72 triệu người) là Phật tử!

Phải chăng Thích Huyền Quang và tập thể tăng ni GHPGVNTN đã vong bản tới mức quên rằng dân tộc Việt Nam là con Hồng, cháu Lạc và tổ tiên người Việt từ đời Hồng Bàng đã mở nước, dựng nước từ 5 ngàn năm trước? GHPGVNTN mới thành lập tại chùa Xá Lợi ngày 1/1/1964, mà bọn tăng ni Cộng sản dám vong bản hỗn láo với tổ tiên rằng chúng đã mở nước dựng nước từ hai ngàn năm trước! Chúng nhập nhằng nói rằng chúng “là” Phật giáo trong khi chúng chỉ là một giáo hội “giả” Phật giáo với cán bộ Cộng sản giả làm tăng ni!

Huyền Quang và Quảng Độ cùng rêu rao là Nhà Nước đã giải tán GHPGVNTN và bắt buộc phải cải tạo thành Giáo hội Nhà nước tức là giáo hội quốc doanh. Thật ra thì GHPGVNTN vẫn nguyên vẹn là một công cụ ngoại vi của Cộng sản, với quy chế họp đại hội 5 năm 1 lần ngang bằng với đảng Cộng sản và Mặt Trận Tố Quốc, không bao giờ thay đổi.

Năm 1995, khi Hoa Kỳ công bố thiết lập bang giao với Hà Nội, bọn sư quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang và hải ngoại thấy Cộng sản có vẻ tồn tại vĩnh viễn, chắc chắn hơn thời điểm năm 1991 và 1992. GHPGVNTN hải ngoại tại Hoa Kỳ thấy không cần phải chia đôi, cách ly với nửa bên trong nước và chúng gọi là “giáo hội quốc doanh”. Chúng liền tính làm một màn “thống nhất” hai giáo hội trong và ngoài nước làm một như cũ. GHPGVNTN hải ngoại tại Hoa Kỳ đã họp trong 2 ngày 16 và 17/9/1995 tại chùa Việt Nam do Thích Mãn Giác làm chủ chùa, Los Angeles, California để thống nhất 5 giáo hội Phật giáo để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoa.i.

Trong Tuyên Ngôn Chung có câu: 3. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tuyệt đối không kỳ thị đối với tăng ni, phật tử nào. Giáo hội luôn luôn thân ái, đoàn kết với tất cả tăng ni, phật tử như nước với sữa, như ánh sáng với không gian, cùng nhau chung góp tài lực xây dựng và phát triển Phật giáo khắp nơi tại hải ngoại cũng như tại quê nhà.

Và thư gởi Chư Tôn Đức lãnh đạo Phật giáo Việt Nam quê nhà.

Chúng tôi “nguyên” là các thành viên trong Hội Đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Việt Nam, đã cùng nhau họp mặt thân mật vào các ngày 16 và 17 tháng 9, 1995, tại Los Angeles, California, Hoa Kỳ, xin kính lời về chấn an chư tôn đức.

Kính thưa Chư Tôn Đức,

Chúng tôi họp mặt nơi đây để cùng nhau nghiêm túc trao đổi các tin tức và suy nghĩ về hiện tình con đường đi tới của Phật Giáo Việt Nam…

Kính thưa Chư Tôn Đức,

Để có được một nền Phật Giáo Việt Nam vững mạnh thì con đường đi tới chỉ có thể là con đường hợp nhất cùng nhau xây dựng một Giáo hội thực sự của Phật giáo…

Nay kính

Hòa Thượng Thích Tâm Châu, Hòa Thượng Thích Huyền Vi, Hòa Thượng Thích Mãn Giác, Hòa Thượng Thích Thuyền Ấn, Hòa Thượng Thích Hộ Giác…

Thế là sau 3 năm phân biệt rằng giáo hội PGVNTN trong nước là quốc doanh, còn GHPGVNTN hải ngoại không phải là quốc doanh, đã được chấm dứt bằng sự hợp nhất, liên kết trong ngoài trở lại như cũ. Các Hòa thượng cũng tự xác nhận rằng mình “nguyên” cựu thành viên trong hội đồng Viện Hóa Đạo trước 1975, hay là trước khi sang Mỹ để trà trộn với người tị nạn Cộng sản và tiếp tục hoạt động quốc doanh.

Trong tất cả mọi tuyên ngôn, tuyên cáo, thông bạch, kiến nghị, tâm thư của tăng ni GHPGVNTN từ năm 1992 đến 1999…, “không bao giờ” có lập trường chống Cộng hoặc kể lể tội ác Cộng sản.

* * *

14. Thành lập Phong Trào, Mặt Trận, Mạng Lưới cò mồi.

Một phương án khác nữa là thành lập rất nhiều loại Mặt Trận, Liên Minh, Phong Trào, Mạng lưới Nhân Quyền, Kháng Chiến Phục Quốc ma, chính phủ (Việt Nam Tự Do) ma, Liên Quân Kháng Chiến Đông Dương ma, hoàn toàn hữu danh vô thực, không có lực lượng cụ thể. Nhưng loại tổ chức ma này có dụng ý “cò mồi” để gom những người có thực tâm kháng chiến, chống Cộng, những người có tâm huyết vì nước vì dân, kể cả những người ham danh lợi, vào trong vòng kiềm tỏa, kiểm soát và chi phối của chúng.

Về phương diện này, Cộng sản đã thành công một phần nào trong thời gian đầu. Sau này, những danh từ “kháng chiến chống Cộng”, “phục quốc”, “chính phủ ma quốc gia lưu vong” đã trở thành đồng nghĩa với kháng chiến phở bò, phở tái, Mafia, giết người, ăn cướp, bịp bợm, lừa gạt, buôn lậu, buôn bán súng lậu, buôn bán ma túy và băng đảng, ám sát, khủng bố… Những tên cầm đầu, giật dây các tổ chức chính trị, kháng chiến, quốc doanh này đều là cán bộ quốc doanh hoạt động cò mồi cho Cộng sản!

Với chiêu bài kháng chiến và lợi dụng tinh thần hăng say chống Cộng của đồng bào hải ngoại vào những năm đầu thập niên 1980s, bọn kháng chiến ma đã thu được mấy chục triệu đôla của đồng bào hải ngoa.i. Với số “vốn” này, bọn kháng chiến ma đã mau chóng trở thành tổ chức Mafia khổng lồ như đã nêu trên.Những phương án khác do Cục Phản Gián thi hành là tung ra hải ngoại bằng điện thư những bản văn gọi là phê đảng sai lầm, đòi Đảng phải thay đổi, phải cởi mở, phải đổi mới, dân chủ… và ký tên các cán bộ Cộng sản cấp cao, trung kiên và hưu trí như Nguyễn Hộ, Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Bảy Liếm, Lữ Phương, Hoàng Tiến, Hoàng Hữu Nhân, Nguyễn Thanh Giang, Phan Đình Diệu… Lý lịch bọn cán bộ này và ban lãnh đạo GHPGVNTN Ấn Quang đều là cấp cao trong ngành công an, phản gián.Một điều rõ rệt là các bản văn dài đặc đã được gởi bằng điện thư (fax) ra hải ngoại rất tốn tiền, có thể đã đến hàng triệu đôla trong thời gian từ 1990 đến 1998. Người tù hay đảng viên Cộng sản nào mà được phép và có tiền gởi bằng điện thư nhiều như vậy? Cũng phải ghi nhận là báo Người Việt ở quận Cam, California, do Đỗ ngọc Yến làm chủ, đã luôn luôn đăng tải đầu tiên những bản văn cò mồi bịp bợm của Cộng sản từ trong nước gởi ra bằng điện thư, không thiếu một chữ hay một dấu chấm, phẩy. Các báo Thế Kỷ 21 và Văn Hóa cũng cùng một luận điệu với báo Người Viê.t.Việt Báo Kinh Tế của Trần Dạ Từ và Nhã Ca thì đặc biệt đăng tải những bản văn của tăng ni quốc doanh Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ và những bài viết bịa đặt do Phòng Thông Tin Phật Giáo của Võ văn Ái ở Paris tung ra.Đài phát thanh VNCR do Lê Đình Điểu làm chủ ở quận Cam và đài Á Châu Tự Do do Nguyễn Ngọc Bích làm giám đốc phần Việt ngữ với những phóng viên “quen thuộc” như Ngô Vương Toại, Nguyễn Khanh, Đinh Quang Anh Thái, phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc tế của Võ văn Ái tại Ba Lê đã tích cực đến mức trung thành là luôn luôn phỏng vấn và phát thanh những bài viết, bài nói do các cán bộ Cộng sản và tăng ni quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang từ trong nước đưa ra. (Lê Đình Điểu đã chết vì ung thư năm 1999.)

http://www.chinhnghia.com/conduongdao5.htm