Biến động miền Trung” trở thành “Công an bịt miệng cha Lý”

Biến động miền Trung” trở thành “Công an bịt miệng cha Lý”.

Joseph Nguyễn

Như đồng bào Houston và vùng phụ cận được thông báo nhiều ngày trước, một buổi ra mắt sách và thảo luận về tác phẩm “Biến động miền Trung”, tác giả Liên Thành, sẽ được tổ chức lúc 1 giờ ngày 7 tháng 9 năm 2008 tại nhà hàng Phoenix lớn vào bậc nhất Houston.

Đây là một tác phẩm đã được đưa lên Net nhiều kỳ, và phổ biến trên Đặc san Biệt Động Quân. Với nhiều chi tiết chưa bao giờ được phổ biến về những biến động miền Trung từ năm 1964 kéo dài đến năm 1972. Tác phẩm của ông Liên Thành đã được đón nhận nồng nhiệt trên nhiều tiểu bang Hoa Kỳ. Nhưng khi tổ chức ra mắt và thảo luận tại Houston, TX, xém chút nữa biến thành một vụ “biến động miền Trung” thứ hai ở hải ngoại.. May mắn thay, biến cố đó không xảy ra, nhưng buổi thảo luận biến thành bức hình đã được khắp thế giới biết đến: Bức hình hai ông Công an Việt cộng bịt miệng cha Lý trưóc tòa án nhân dân”.

Chúng tôi đã tham dự nhiều buổi ra mắt sách và hội thảo chính trị tại thành phố Houston, đứng hàng thứ 4 nước Mỹ và có người Việt tỵ nạn đông hạng thứ hai sau Nam California. Thế nhưng chỉ có hai buổi ra mắt sách đông người tham dự nhất là buổi ra mắt tác phẩm “Khi Đồng Minh tháo chạy” của tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng; lần thứ hai là tác phẩm “Biến động miền Trung” của tác giả Liên Thành. Cả hai buổi, người tham dự lên tới gần ngàn người. Ngoài ra, những buổi hội thảo khác, kể cả những đảng phái chính trị rình rang ồn ào nhất thế giới, cũng lèo tèo một hai trăm là nhiều. Người Việt hải ngoại cũng đã rành về chuyện lập hội lập đảng tại hải ngoại. thành lập những tổ chức như thế, ở Mỹ không phải đóng thuế nên ai lập cũng được, xưng danh gì cũng không ai cấm. Chủ trương càng “vá trời lấp biển” càng tốt dù chẳng làm được gì ngoài cãi cọ chỉ trích nhau. Thế nhưng khi khai báo đảng có bao nhiêu đảng viên thì không ai dám khai báo. Khai báo bao nhiêu đầu người, đóng thuế lợi tức bấy nhiêu đầu người. Vì lý do đó nên các đảng “rất đông” đảng viên phải đành im lặng, không thể khai báo cho đồng bào biết bao nhiêu, nhất là sợ qúa đông, Việt cộng sẽ theo dõi càng qúa gắt, nguy hiểm, khó về hoạt động tại Việt Nam.

Trở lại buổi ra mắt và hội thảo tác phẩm “Biến động miền Trung” (BĐMT), ban tổ chức rất lo lắng, vì nguồn tin cho biết sẽ có những tổ chức, đảng phái chống đối, biểu tình, xuống đường tẩy chay và có thể đưa đến một BĐMT thứ hai trên đất Mỹ. Nhưng vì những nguồn tin đó, những người và đảng chống đối vô tình “làm việc không công” cho ban tổ chức. Chính nhờ những nguồn tin nói trên, buổi hội thảo thu hút đến gần 700 người tham dự. Kế cận ngày ra mắt sách ngày ra mắt, một bản thông báo của 7 băng đảng lớn nhỏ, có danh mà không có tên đảng trưởng ký, được tung ra để chống lại buổi hội thảo nầy. Xin đọc nguyên bản thông báo:

BẢN LÊN TIẾNG

của UỶ BAN PHỐI HỢP CÁC CHÁNH ĐẢNG TẠI HOUSTON

v/v: Cuộc Hội Thảo về cuốn sách “Biến Động Miền Trung” của tác giả Liên Thành

Theo thông tin phổ biến trên các cơ quan truyền thông Việt ngữ, một buổi hội thảo về cuốn sách mang tựa đề “Biến Động Miền Trung” của tác giả Liên Thành sẽ được tổ chức vào lúc 1g30 trưa ngày 07/09/2008 tại Nhà hàng Phoenix ở thành phố Houston, tiểu bang Texas.

Ban Tổ Chức của cuộc hội thảo gồm có: Ông Peter Trần Dũng, ông Đinh Quang Tiến và bà Nha sĩ Chu thị Mỹ Dung.

Căn cứ vào nội dung buổi hội luận trên đài Tiếng Nước Tôi Houston do ông Hoàng Bách tổ chức với nhiều lời bình giải mang tính cách chia rẽ tôn giáo và dân tộc, Uỷ Ban Phối Hợp Các Chánh Đảng tại Houston (UBPHCCĐ/Houston) nhận thấy cần phải chính thức bày tỏ quan điểm và thái độ về buổi hội thảo này như sau:

1. UBPHCCĐ/Houston tôn trọng quan điểm và quyền tự do ngôn luận của tác giả cuốn “Biến Động Miền Trung”. Tuy nhiên, đáng tiếc là cuộc hội luận với nhiều lời mang tính cách miệt thị Phật giáo trên đài TNT đã gây nhiều tranh cãi nguy hiểm trong cộng đồng. Cho nên, trong hoàn cảnh nhiều tôn giáo vẫn còn đang bị đàn áp một cách khốc liệt ở trong nước, việc tổ chức một cuộc hội thảo với khuynh hướng bài bác Phật giáo là một điều không nên làm.

2. Những lời bình phẩm mang tính phỉ báng đối với hàng giáo phẩm Phật giáo là một sự phủ nhận trực tiếp về những đóng góp to lớn trong công cuộc đấu tranh cho dân chủ, tự do của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ trước đến nay. Mặt khác, mọi lời bình giải thiếu ý thức về giai đoạn lịch sử trước 1963 sẽ tạo cơ hội dễ dàng cho Cộng sản khai thác.

3. Nếu những lời bình phẩm mang tính công kích Phật giáo và các vị lãnh đạo Phật giáo tiếp tục xảy ra, chắn chắn sẽ gây ra sự hiểu lầm, thù nghịch giữa hai khối tín đồ; có thể dẫn đến tình trạng sự phân hóa trầm trọng trong cộng đồng, làm đầu mối của sự chia rẽ giữa Phật giáo với Giáo hội Thiên Chúa giáo. Trong bối cảnh hiện nay, sự kiện đó sẽ gây ra bất lợi cho các hoạt động tôn giáo ở trong nước, đặc biệt là của GHPGVNTN và cuộc tranh đấu đầy cam go của hàng ngàn đồng bào tín đồ Thiên Chúa giáo ở Thái Hà hiện nay.

Từ các nhận định trên, UBPHCCĐ/Houston quyết liệt phản đối và lên án hành động lợi dụng cuộc hội thảo về cuốn sách “Biến Động Miền Trung” để sách động cộng đồng, gây thù nghịch giữa tín đồ Phật giáo với tín đồ Thiên Chúa giáo, làm phân hóa dân tộc.

UBPHCCĐ/HOUSTON nay minh định lập trường về buổi hội luận đang gây hoang mang trong cộng đồng trên đài TNT, và nhất là buổi hội luận được thực hiện bởi hầu hết là những người Thiên Chúa Giáo. Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi sự lên tiếng hưởng ứng về sự kiện này của quý đoàn thể và đồng bào ở khắp nơi.

Đồng thời, UBPHCCĐ/HOUSTON yêu cầu Ban Đại Diện Cộng đồng Người Việt Quốc Gia tại Houston và các Vùng Phụ Cận phải có thái độ chính thức về vấn đề nghiêm trọng này.

Kính chào đoàn kết và quyết thắng!

Làm tại Houston ngày 05 tháng 09 năm 2008

Đại diện các Tổ chức Thành viên đồng ký tên:

Liên Minh Dân Chủ Việt Nam

Liên Minh Quang Phục Việt Nam

Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Động

Đảng Thăng Tiến Việt Nam

Đảng Vì Dân

Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng

Việt Nam Quốc Dân Đảng

Trước khi đi vào điểm chính buổi hội thảo và thông cáo nói trên, chúng tôi xin được viết qua về tác giả Liên Thành. Ông là một sĩ quan trong Quân lực VNCH. Được thuyên chuyển qua ngành cảnh sát. Năm 1966-1968 là trưởng ty Cảnh sát đặc biệt, Thừa Thiên Huế. Năm 1968-1969, Phó trưởng ty Cảnh sát Đặc biệt kiêm quận trưởng quận 3, Thừa Thiên Huế. Năm 1969-1975, Chỉ huy trưởng Cảnh sát Quốc gia Thừa Thiên Huế. Về liên hệ cá nhân và gia đình, ông là một Phật tử thuần thành, cháu của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và ngài Ngoại Hầu Cường Để. Trong gia đình nội ngoại của ông có nhiều vị chân tu lên tới Đại đức, Thượng tọa..v…v..

Đọc qua cách hành văn trong bản thông cáo, nếu ai đã từng sống tại Đà Nẵng hay Huế vào những năm 1964-1966-1968, đều có cái nhìn giống nhau: lối viết đầy kích động (xin đọc lại những hàng chữ chúng tôi tô đậm trên bản thông cáo). Chủ đích của băng đảng (từ đây xin dùng hai chữ tắt B.Đ. cho dễ nhớ) ý nói là sợ cuộc hội thảo được tổ chức bởi người Công giáo, sẽ gây chia rẽ tôn giáo, Phật giáo đánh nhau với Công giáo, cơ hội cho ban tổ chức là người Công giáo nhục mạ các vị tăng lữ Phật giáo..v.v. Rồi khi buổi thảo luận chấm dứt trong tốt đẹp, BĐ lại quay sang đổ tội vì những lời của ông Thiện Ý và bà Chu Mỹ Dung gọi vào trong đài Tiếng Nước Tôi. Những lời phát biểu của hai vị nầy rất bình thường mà gần 45 năm nay báo chí, cá nhân, hội đoàn, đảng phái, người Việt, người ngoại quốc, sách báo Việt lẫn thế giới đã nói cả trăm lần, có ai phản đối hay gây ra “thánh chiếu” đâu? Nhưng chính ngay lời lẽ trong cái bản thông cáo đó đã nặng mùi khích động không thua gì những truyền đơn được rải ra tại Huế và Đã Nẵng của những năm bọn nằm vùng “tranh đấu, cứu quốc” khích động người dân nổi lên chống lại chính quyền miền Nam. Chỉ có khác là những truyền đơn của đám “cứu quốc” dám để tên người chịu trách nhiệm, nhưng thông báo của BĐ thì có đảng mà không có tên ai là đảng trưởng hay người thay mặt cho đảng. Viết khơi khơi như vậy, để vào hàng ngàn đảng chẳng được? Các ông lại diễn một tấn tuồng cải lương “Những kẻ dấu mặt” khó ăn khách, không ai tin. Hai ông Đinh Quang Tiến là người trong đảng Đại Việt, một đảng chống Cộng có uy tín, bề thế, lâu đời, cũng là một tín đồ Phật giáo, ông nằm trong BTC, tên đảng Đại Việt không có trong danh sách đảng chống đối. Ông Trương Văn Cao, Tổng hội trưởng tổng hội Quân Cảnh Hải ngoại cũng là một Phật tử. Thế thì tại sao la lên BTC toàn là Công giáo?

Họ tự viết ra những lời lẽ đầy khích động như trong những bức thư của đám cứu quốc năm xưa, rồi kết luận cuốn sách BĐMT cũng như BTC buổi hội luận cố tình tạo ra sự chia rẽ tôn giáo, làm lợi cho VC. Nếu những người trong BĐ hiểu biết, như ông Peter Trần Dũng, trưởng ban tổ chức trong buổi hội luận đã nói: BĐ biết nguy hiểm như vậy, là những người đang cùng chung lưng góp sức đấu tranh cho tự do dân chủ, chống lại chế độ CSVN, BĐ nên gặp BTC để chia sẻ cái lợi hay hại, chỗ nào cần tránh, chỗ nào không có thể xảy ra trong buổi hội thảo. Rồi từ đó tìm ra một giải pháp tốt đẹp. Vì cái đinh của buổi hội thảo không phải như BĐ muốn “độc quyền tuyên truyền” là để gây chia rẽ tôn giáo, nhục mạ các nhà lãnh đạo Phật giáo… mà phải nói lên một sự thật. Sự thật đang bị CSVN càng ngày càng muốn bưng bít, càng muốn bóp méo, càng muốn quên nó đi, càng muốn đừng gieo những hình ảnh man rợ đó cho những thế hệ nối tiếp biết. Thế thì tại sao BĐ bất thần dùng cái cớ “gây chia rẽ tôn giáo” tung ra cái thông cáo kêu gọi tẩy chay buổi hội thảo để bịt miệng thuyết trình đoàn như hai anh công an bịt miệng cha Lý?

Ở trong nước, những Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Độ và cả 80 triệu người dân đang bị bịt miệng. Họ mong chờ người ra đi có phương tiện, sống trong đất nước tự do, hãy dùng cái miệng của mình để nói lên sự thật. Nhưng sự thực đã bị một nhóm người “nhân danh chống Cộng” bịt miệng. Bịt hết những tội ác của Việt cộng đã làm trong biến cố miền Trung rồi qua đến cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế. Người trong nước bị bịt miệng, người đã chết không còn nói được, người ra đi bị đe dọa cấm nói, như vậy thì những thành phần chống đối cuộc hội thảo cuốn sách ông Liên Thành đang chống ai đây? Chống Mỹ? Chống Tàu? Chống Cộng, chống Quốc gia hay chống những con người can đảm, bất khuất dám mang một thông điệp, thông điệp của sự thật để phơi bày cho thế giới biết.

Sau màn tung ra thông báo, những người chống đối trong BĐ lên đài phát thanh “độc quyền, độc thoại, độc đoán” để trình diễn lối suy luận một chiều của mình. Họ nhân danh một vài đảng phái để chống đối cuộc hội thảo, nhưng họ cũng không cho ai gọi vào để góp ý việc làm của họ đúng hay sai? Họ nhân danh dân chủ, tự do, chống Cộng nhưng lại độc tài muốn hướng dẫn quần chúng đi theo thâm ý của mình. Chúng tôi tin rằng nếu buổi nói chuyện trên đài phát thanh của BĐ cho đồng bào gọi vào, họ sẽ thấy không chỉ có một buổi hội thảo như vậy tại Houston, mà cần phải có hàng trăm, hàng ngàn lần hội thảo như thế, trên khắp nước Mỹ, trên khắp thế giới, trên khắp nước Việt Nam.. để làm gì? Không phải để chia rẽ tôn giáo đâu, không phải để phỉ báng các vị lãnh đạo Phật giáo đâu, nhưng để cho bọn đang muốn làm “con nuôi” Cộng sản mở mắt ra, sáng mắt ra, cho bọn chống Cộng ấm a ấm ớ thấy để chỉnh đốn lại cách chống cộng gà mờ của mình.

Buổi hội thảo được xảy ra đúng như BTC chức mong muốn. Nhưng trước khi các thuyết trình viên bắt đầu, có hai vị chức sắc được mời lên phát biểu ý kiến. Tiếc thay, họ không phát biểu ý nghĩa cuộc hội thảo mà tung lời răn đe, khuyến cáo, cảnh giác. Hai vị cấm lui cấm tới, nhắc đi nhắc lại ý muốn là không được đã động đến các sư tăng Phật giáo, không được gây chia rẽ tôn giáo v.v..Hàng trăm thính giả há hốc mồm lắc đầu ngao ngán. Họ tưởng như là tấm hình hai anh công an VC bịt miệng cha Lý đang được phóng lớn rồi dựng lên trên chỗ ngồi của thuyết trình đoàn. Nhưng điều cần nói ở đây, một trong hai vị lên phát biểu có ông Nguyễn Văn Nam nhấn mạnh, đánh phủ đầu ngay vào thuyết trình đoàn và những người tham dự, ông nói như đinh đóng cột: Ông Thích Trí Quang không phải là cộng sản. Được mời lên phát biểu, chắc chắn ông Nam đã đọc cuốn “Biến động miền Trung” trước. Ông biết tác giả Liên Thành đã viết gì về ông Thích Trí Quang, cho nên ông Nam đã cảnh cáo và răn đe ngay bằng câu nói “Ông Thích Trí Quang không phải là Cộng sản” theo tài liệu CIA ông đang cầm trên tay (?).

Ông Nguyễn Văn Nam là cựu đại tá trong QLVNCH, người khởi xướng chương trình Dạ Lan hàng đêm trước năm 1975 (theo ông nói trên show Paris By Night 88),Vụ nầy cũng gây ồn ào trên Net khi ông Nam nói là chương trình do ông làm ra. Hiện tại ông là thiếu tướng Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3, một Lữ đoàn người dân gọi là “lữ đoàn chung sự” tại Houston. Chúng tôi được một số thân hữu cho biết đây là một lữ đoàn không phải qua Iraq đánh giặc, nhưng chỉ ở hậu phương để lo “clean up” những tàn phá sau các thiên tại như bão tố, sóng gió… Lữ đoàn 3 có quân mà không có súng, có túi mang mà không có đạn.. Một Lữ đoàn do một ông tướng Việt Nam chỉ huy mà người Việt Nam cũng chẳng biết cái lữ đoàn nầy làm công việc gì. Cho nên người dân Việt tại Houston rất ngỡ ngàng bỗng dưng thấy ông waiter trong nhà hàng hôm trước, hôm sau mang long thiếu tá, cô thợ móng tay bỗng nhiên đeo cấp bực đại úy, anh chàng bảo hiểm trở thành ông trung tá. Riêng thiếu tướng Nam đi xe có gắn một sao (hay hai sao gì đó) không rõ. Một ông thiếu tá đeo long chưa được bao ngày, gây lộn với thiếu tướng, rồi “đào ngủ” hợp pháp, chẳng ai dám truy tố ra tòa án quân sự. Ngoài ra còn quan trọng bề thế hơn, ông Nguyễn Văn Nam là Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa, nhất quyết không cho hai đảo lớn nầy rơi vào tay Trung cộng. Không biết cái ủy ban nầy còn sống hay chết. Cuối cùng, ông Nam là Tổng thư ký của một đảng lớn: “Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng”. Đây là đảng chống Cộng không khoan nhượng, chống Cộng tới cùng, đến giọt máu cuối đời. Mừng cho ông Nam mang 3 chức vụ to lớn dù tuổi đã già, làm thế hệ trẻ thất nghiệp.

Khi ông Nam khẳng định “Ông Thích Trí Quang không phải là cộng sản”, chúng tôi thấy hầu hết người tham dự cúi đầu rồi… mỉm cười. Có một vài vị vỗ tay tán thành nhận xét của ông Nam. Chúng tôi cũng ủng hộ hết mình, “đưa hai cẳng” lên trời đồng ý với ông Nam. Một chuyện khủng khiếp hơn, là ông Tổng Thư Ký Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng dám “chôn sống” ông Thích Trí Quang trong buổi hội thảo, trước 700 thính giả, trong lúc ông Trí Quang chưa chết, đang sống tại Việt Nam.

Qủa thực như ông Nam nói “Ông Thích Trí Quang không phải là Cộng sản”. Lý do: Ông Trí Quang chống lại chế độ Đệ nhất Cộng hòa do TT Ngô Đình Diệm lãnh đạo vì theo ông Trí Quang chế độ nầy chống Phật giáo, đàn áp các tăng lữ, giết hại Phật tử, muốn tiêu diệt Phật giáo trên đất nước Việt Nam. Sau khi chế độ Đệ nhất Cộng hòa sụp đỗ, ông Trí Quang chống luôn Đệ nhị Cộng hòa do TT Nguyễn Văn Thiệu lãnh đạo. Lý do cũng đầy tội lỗi như Đệ nhất Cộng hòa, giết Phật tử, đàn áp Phật giáo, muốn tiêu diệt Phật giáo… Nhưng ông Thiệu không như ông Diệm “sợ” các thầy, lại nữa Mỹ không còn biết ông Thích Trí Quang là ai, ông Thiệu đem quân ra dẹp “loạn miền Trung” (tức là câu chuyện ông Liên Thành viết trong “Biến động miền Trung”). Rồi đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Cộng sản tràn vào chiếm luôn miền Nam, ông Trí Quang chuẩn bị đoàn quân “cứu quốc, cứu đạo” năm xưa để chống lại CSVN. Nhưng ông Trí Quang không thấy CSVN đàn áp Phật giáo, tiêu diệt Phật giáo như hai chế độ trước. Họ đối xử với Phật giáo rất tốt, Phật giáo cũng đối xử với họ rất vui vẽ, mang cờ chào đón họ ngày vào miền Nam. Hơn nữa, ông Trí Quang thấy đoàn quân “cứu quốc cứu đạo” năm xưa từ rừng rú trở về. Họ là những người dưới sự lãnh đạo của ông trước đây, chống lại đám chính quyền muốn tiêu diệt Phật giáo, chống lại bọn đế quốc Mỹ đã cho ông “đi chỗ khác chơi”. Cho nên ông Trí Quang nghĩ ngơi, không chống CSVN làm chi nữa.

Lý do thứ hai là khi CSVN tiến vào Nam, ông Trí Quang đã 53 tuổi (ông sinh năm 1922), sức khoẻ đã yếu, thân thể đã già vì lo tranh đấu tiêu diệt hai chế độ đàn áp Phật giáo vừa qua. Trí óc cũng hết minh mẫm, mưu lược không còn, người Mỹ cũng quên ông nên ông hết chống cộng nổi, về chùa chống gậy tu thân. Ông Trí Quang là một người khác với thiên ha. Đức Khổng Tử dạy rằng “Tu thân, tề gia, trị quốc rồi bình thiên hạ”. Ông Trí Quang làm ngược lại. Ông nhảy ra bình thiên hạ và muốn trị quốc trước. Cho nên sau khi làm xong hai việc lớn, đất nước đã thanh bình, đồng bào có tự do, đạo pháp không còn bị đàn áp, người người cùng chung dưới một bóng cờ đỏ sao vàng… ông mới trở lại chùa để tu thân, tu tâm. Như vậy rõ ràng như ông Nguyễn Văn Nam, Tổng thư ký Dân Xã Đảng khẳng định trước đồng bào rằng “Ông Thích Trí Quang không phải là cộng sản”. Cũng đúng đấy chứ, ông Trí Quang có phải Cộng sản đâu? Rồi đây, lời phát biểu của ông Nam, một giới chức quan trọng đứng hàng ba trong “Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng” sẽ phải xét lại toàn bộ cương lĩnh và mục đích của đảng. Đồng bào sẽ đánh giá sự hiểu biết về chính trị, lịch sữ của những giới chức cao cấp trong VNDCXHĐ ở mức độ nào? Tuyệt hảo? Trung bình? hay hạng bét, chẳng biết gì cả?

Có thể BĐ cũng có cách nhìn giống ông Nam không như trong cuốn “Biến động miền Trung”. May thay tác giả là một Phật tử, cháu của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, cháu nội của Ngoại Hầu Cường Để đã viết về ông Trí Quang:

“Theo hồ sơ của sở Liêm Phóng, tức mật thám Pháp còn lưu tại ban Văn khố Bộ chỉ huy Cảnh sát Quốc gia Thừa thiên-Huế và sau nầy tin tức thẩm vấn cán bộ Việt cộng được cập nhật thêm, thì Thích Trí Quang là đảng viên Cộng sản. Thích Trí Quang gia nhập đảng CSVN vào năm 1949, tại mật khu Lương Miêu, Dương Hòa. Lương Miêu và Dương Hòa là một làng nhỏ nằm về phía Tây lăng vua Gia Long, cách làng Đình Môn khoảng 30 cây số đường bộ. Người kết nạp và chủ tọa buổi lễ gia nhận đảng cho Thích Trí Quang là Tố Hữu, đảng viên cao cấp của đảng CSVN.

Mùa thu năm 2000 tại Hà Nội, nhân nói đến các nhân vật chính trị miền Nam trước 1975, chính Tố Hữu xác nhận y là người kết nạp Phạm Văn Bồng tức Thích Trí Quang và đảng Cộng sản”. (hết trích)

Theo tác giả, tham vọng của ông Trí Quang không phải dừng lại nơi chức vụ Đại hòa thượng lãnh đạo tối cao Phật giáo Việt Nam từ Bắc tới Nam, nhưng ông ta muốn làm Hoàng đế của nước Việt Nam. Mộng của ông cũng phát xuất từ tấm hình ông được Mỹ cho lên trang bìa báo TIME, NEWSWEEK. Ông tin tưởng nơi người Mỹ giúp ông chuyện đó như đã giúp ông triệt hạ được Đệ nhất Cộng hòa, tru di tam tộc luôn dòng họ Ngô Đình. Ông tin tưởng vào giới Phật tử đã nhắm mắt nghe ông suốt năm thập niên. Nhưng ông đã bị Mỹ xài xong rồi bỏ rơi thê thảm như ổ bánh mì ném vào nước. Ông đã bị Phật tử nhìn ra mưu đồ của ông không phải làm cho Phật giáo mà muốn lên làm Đức Thích Ca của nước Việt Nam. VC còn thương ông chút ít nhờ công lao giết chết hai nền Cộng Hòa và tạo được một “Biến động miền Trung”, để thanh toán hơn 5327 đồng bào vô tội Huế và mang tới sự sụp đổ toàn diện miền Nam. Nếu không, số mạng ông Trí Quang cũng sẽ như Thượng tọa Thích Thiện Minh. Chúng tôi mong rằng những vị có chức vụ lớn trong đảng như đảng trưởng, đảng phó, bí thư, tổng thư ký… cần “bồi dưỡng” trình độ hiểu biết của mình về lịch sử, ý thức chính trị bằng cách đọc và nghiên cứu thêm nhiều tài liệu, sử liệu từ nhiều nguồn tin khác nhau. Biết phối kiểm để phân tích mức độ chính xác. Nhưng tuyên bố bạt mạng, nói cho sướng miệng để được đàn em vỗ tay, thì xin “I can you”. Những lời phát biểu như vậy chỉ làm vỡ mặt đảng, thêm mang tiếng “chính trị da trâu”.

.Cho nên BĐ đã quyết chống lại buổi hội thảo. Người ta còn tung ra tin ông Liên Thành là người Công giáo. Nghĩa là những ai đụng tới các vi tăng lữ Phật giáo là… Công giáo, phơi bày tội ác bọn nằm vùng, núp bóng tôn giáo là …Công giáo, nhắc tới biến cố 1963, 1964, 1966, 1968 là …Công giáo, bọn Giao Điểm đang đánh phá đủ tôn giáo là …Công giáo. Hiểu như vậy thì thống kê cho biết Công giáo có khoảng 8% dân số Việt Nam (dân số Việt Nam khoảng 80 triệu), nay tăng lên 98% (khoảng 79,500,000), ngoại trừ hơn 500,000 đảng viên CS là không phải Công giáo (sic). Rồi đây, những người chống Cộng sẽ bị bó tay, bịt miệng như cha Lý vì họ bị các đảng phái được gọi là quốc gia cấm trình bày tội ác của Cộng sản Việt Nam trước công luận. Nếu không chịu nghe, họ sẽ làm áp lực bắt buộc phải nghe. Mỹ làm áp lực với Việt cộng thì đúng vì họ có tiền, có thế, có bản lãnh, thế giới còn khiếp sợ; còn các đảng phái ở hải ngoại lấy cái gì làm áp lực? Tiền không có, đảng viên không có, súng không có, đạn không có, lấy gì áp lực với những người can đảm nói lên sự thực? Họ thuê người ám sát chăng? Đảng trưởng, đảng phó vô tù ngồi, ai lo cho vợ con, bỏ nhà bạc triệu cho ai ở, bỏ xe hàng chục ngàn cho ai chạy? Nhưng họ chỉ còn vũ khí là: thông báo, thông cáo, tuyên cáo, chụp mũ, cuối cùng viết thư rơi, phổ biến trên internet, van lạy bọn nhà báo lá cải để nhục mạ, bịa đặt bôi xấu đời tư những con người muốn chống lại cái kiểu bao che tội ác của họ.

Buổi hội thảo đã mất hết cái hay, cái đẹp, cái trung thực mà người tham dự đang mong muốn nghe. Chính ngay ông Nguyễn Chí Thiệp, một trong ba thuyết trình viên hôm đó, là Phó tỉnh trưởng Quảng Nam trong thời gian biến động. Ông đã chứng kiến bao cảnh tang thương vì các ông sư Phật giáo cùng đám lưu la làm mưa làm gió khắp miền Trung, nhất là tại Đànẵng, ông cũng phải than lên rằng: Tôi rất buồn vì buổi hội thảo hôm nay tôi chẳng nói được gì cả, kẻ nầy cấm, người kia cản.

Đúng vậy, vì những người trong BĐ đã chiếm ngay ba bàn đầu tiên đối diện với các thuyết trình viên. Họ theo dõi, họ canh chừng, họ sẵn sàng phóng lên chỗ thuyết trình viên để ra tay nếu nói không đúng ý họ. Thật chẳng khác chi buổi xử án của “tòa án nhân dân” trong thảm nạn Mậu Thân với các sát thủ như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tôn Thất Dương Kỵ, Tôn Thất Dương Tiềm… đang ngồi xử án trước mặt. Cho nên thuyết trình đoàn bị bịt miệng rất khoa học. Nếu nói cho hợp lý, các đảng phái chính trị chống Cộng phải là người phát hành và thảo luận về cuốn sách của ông Liên Thành, chứ không phải Hội đoàn Biệt Động Quân. Một điều cũng làm chúng tôi rất ngạc nhiên, những vị chống Cộng nổi danh, nổi tiếng, nổi đình nổi đám… chống đối, lên án chuyện công an VC bịt miệng cha Lý đã không có mặt trong buổi hội thảo “Biến động miền Trung”. Theo chúng tôi nghĩ, nếu BTC nói đề tài là “Biến động miền Trung” mà thôi, họ sẽ tham dự. Nhưng khi thấy đề tài “Ai là thủ phạm biến động miền Trung?”, các vị vừa sợ, vừa nhát nên không dám đến. Tại sao lại sợ? Thủ phạm biến động miền Trung không phải bây giờ ông Liên Thành mới nói, nhưng báo chí, tài liệu, sử liệu, giải mã của người Việt lẫn người Mỹ, cả nước ai cũng biết, cả thế giới ai cũng rõ, vậy thì còn sợ cái gì? Hay là sợ mất lòng cộng, buồn lòng bác, phật lòng đảng, phiền lòng thầy? Đó là lý do tại sao chúng ta chống Cộng suốt 33 năm, Cộng vẫn còn nằm chình ình như con cá voi trên biển lớn. Cộng đã biết con tẩy của BĐ, cứ tiếp tục chống Cộng thêm 33 năm tiếp.

Cộng sản núp bóng các ông tu sĩ để chống lại người quốc gia; người quốc gia muốn lấy lòng các ông tu sĩ cũng núp bóng ông tu sĩ nhưng không phải chống Cộng sản mà chống người quốc gia. Cả hai ông quốc gia đều nằm sau lưng ông tu sĩ VC để chống… nhau. Nếu những ai còn muốn chống Cộng thực lòng thì xin vui lòng bước ra trước ánh sáng như ông Liên Thành. Xin đừng lợi dụng hai chữ tôn giáo, núp bóng thầy chùa, cha, cố để chống Cộng kiểu lấy tiếng được thiên hạ vỗ tay hoan hô. Các tín đồ, các giáo dân hôm nay không còn như những đám qúa khích, cực đoan như năm xưa. Họ ý thức được giữa đạo và đời, họ phân biệt được ai là bậc chân tu, ai là phường khoác áo nhà tu để tính chuyện ma nớp. Vạch trần và phơ bày những bộ mặt ác quỷ nầy không phải để gây ra chia rẽ tôn giáo như BĐ nghĩ. Cách đây hơn một tháng, Hồng y Phạm Minh Mẫn mới tuyên bố lạng quạng đã bị người giáo dân, tín đồ lên án ngay. Họ công khai nói lên sự sai trái của Hồng y Mẫn, nhưng có người Công giáo nào la toang lên chia rẽ tôn giáo, nhục mạ Hồng y? Có BĐ to mồm nào làm thông cáo, thông báo đừng tấn công Hồng y Mẫn vì sợ chia rẽ tôn giáo, Phật giáo Công giáo đánh đấm nhau? Đức Giám mục Ngô quang Kiệt vừa mới tới Mỹ, chưa nói được câu nào cũng bị kết án là thế nầy, là thế kia. Cái ông gìa “tiến sĩ cuốn chả giò” bên Thụy Sĩ cũng công kích luôn ĐGM Ngô Quang Kiệt. Những Giám mục, linh mục nào đưa cổ cho VC cắt, ông mới khen ngợi là tu sĩ chống Cộng, nếu không toàn là tu sĩ quốc doanh, làm tay sai cho VC. Chúng tôi hy vọng BĐ sẽ có cái nhìn về chính trị và lịch sử khá hơn. Như bây giờ thì qúa bết.

Ông Liên Thành đang làm công việc của cha Lý, nhưng các ông trong BĐ lại muốn đóng vai hai anh Công an Việt cộng bịt miệng ông Liên Thành. Các ông vẫn còn lùi bước và khiếp nhược trước sự thật mà VC đang van xin đừng nói nữa, hãy quên đi. Đồng bào vẫn chưa nhận diện được các ông là ai?/.

http://www.chinhnghia.com/biendongramat.htm

Advertisements

Việt Thường ngày 18-05-2009 – Thoi su KN-2000

Việt Thường P1 ngày 18-05-2009 – Thoi su KN-2000

Việt Thường P1 ngày 18-05-2009 – Thoi su KN-2000 from ditmehochiminh on Vimeo.


Việt Thường P2 ngày 18-05-2009 – Thoi su KN-2000

Việt Thường P2 ngày 18-05-2009 – Thoi su KN-2000 from ditmehochiminh on Vimeo.

Câu chuyện của một người tù cải tạo

Câu chuyện của một người tù cải tạo

Lời nói đầu:

Ngày 15 tháng 12 năm 2007 vừa qua, sau hơn 30 năm lưu lạc sống rãi rác khắp nơi, nhóm tù cải tạo 520 Xuyên Mộc mới có cơ hội qui tụ về thành phố Houston tham dự buổi họp mặt lần đầu tiên. Tôi không phải là thành viên trong nhóm, nhưng hân hạnh được tham dự buổi họp mặt cảm động và tràn đầy tình huynh đệ này. Tôi gặp lại một số bạn cũ cũng như được biết thêm nhiều anh em mới trong dịp này mà tên mỗi người đều kèm theo một biệt danh dí dỏm như: Hoàng “xà lim”, Hối “Hilton”, Dũng “Sún”, Hải “Vờ”, Toàn “chí chóe”… Đặc biệt hơn hết trong số người tôi được giới thiệu ngày hôm đó là anh Phạm Văn Thức. Sau đó được nghe chính anh và những bạn bè trong nhóm kể lại câu chuyện độc đáo có một không hai của anh. Thú thật tôi bị cuốn hút vào câu chuyện hấp dẫn này ngay từ đầu nên đã xin phép anh Phạm Văn Thức được viết lại nó. Mời quý vị theo dõi câu chuyện độc đáo sau đây của người tù cải tạo nhóm 520 Xuyên Mộc có tên Phạm Văn Thức mà các bạn tù đã thân thương đặt cho anh cái biệt danh là: Thức ” trốn trại”.

Kể từ sau ngày trình diện tập trung cải tạo, các sĩ quan chế độc cũ đã phải trãi qua nhiều trại tập trung khác nhau như Trảng Lớn, Đồng Pan, Cà Tum, Long Thành, Suối Máu …v…v… nhưng đến năm 1979, một đợt chuyển trại nữa lại xảy ra. Trong đợt này có 520 sĩ quan cấp úy QLVNCH bị chuyển về trại Xuyên Mộc thuộc Bà Rịa, Vũng Tàu. Trại Xuyên Mộc này từ trước chỉ nhốt tù hình sự, nên nhóm tù sĩ quan cải tạo bị chuyển về đây cũng phải chịu chung sự quản chế rất khắc khe, tàn ác giống như qui chế dành cho các tội phạm hình sự. Mọi qui chế ở trại Xuyên Mộc này đều khó khăn hơn nhiều so với các trại cải tạo mà họ đã ở qua trước đây. Bọn Công An quản giáo trại vì quen thói đánh đập tù hình sự, nên cũng đánh đập tù sĩ quan cải tạo rất dã man mỗi khi có ai phạm vào nội qui của trại, dù là những lỗi rất nhỏ. Những hình phạt khắc nghiệt như cùm giò, nhốt xà lim bỏ đói cả tháng trời… hoặc hình ảnh cả đám cán bộ quản giáo xúm lại đánh hội đồng một anh tù cải tạo vô phúc nào đó là hình ảnh xảy ra hàng ngày… Chính những điều này đã dấy lên sự bất mãn trong nhóm tù cải tạo 520 Xuyên Mộc và càng làm rõ nét thêm sự gian trá láo khoét của cái chính sách gọi là “Khoan Hồng, Nhân Đạo” mà chính quyền cộng sản lúc nào cũng rêu rao.

Một số tù bắt đầu tổ chức trốn trại. Khoảng giữa năm 1979, một vụ tổ chức cướp súng trốn trại nổi tiếng xảy ra ở trại Xuyên Mộc. Tham gia trong kế hoạch cướp súng trốn trại này gồm có 5 người là: Thiên, Tài, Thịnh, Đức và Khanh, trong đó người chỉ huy là Thiên, một sĩ quan Trinh Sát Dù. Sau nhiều lần bàn bạc cũng như theo dõi những thói quen của các vệ binh, cán bộ mỗi ngày khi ra lao động bên ngoài. Tổ chức này quyết định sẽ hành động vào lúc hết giờ lao động trong một ngày đã định sẵn, khi các tù cải tạo sắp xếp chuẩn bị trở về trại. Nhiệm vụ được phân công rõ ràng cho từng người, ai có nhiệm vụ nấy. Nhưng đúng là “Người tính không bằng Trời tính”. Câu nói đó xem ra không phải là một câu nói vô duyên cớ… Đến ngay lúc sắp ra tay hành động thì một trục trặc nhỏ xảy ra đã làm đảo lộn hết mọi việc. Như mọi người đã bàn tính từ trước, nếu gặp trục trặc xảy ra trái với dự trù thì kế hoạch phải hủy bỏ ngay lập tức, chờ cơ hội khác an toàn hơn. Sau khi mọi người trong tổ chức nhận được dấu hiệu huỷ bỏ kế hoạch, ai nấy yên chí xếp hàng đi về trại, thì Thiên người đứng đầu tổ chức, vào một phút chủ quan nào đó, hoặc có thể anh ta thấy tiếc cho một cơ hội khó có được lần thứ hai… đã quyết định tấn công và cướp súng của một vệ binh gần đó. Trong lúc hai bên còn đang dằng co thì Thiên bị các vệ binh khác xông lên bắn chết tại chỗ, ngay cả tên vệ binh bị Thiên cướp súng cũng trúng đạn bị thương. Tài ở gần đó bỏ chạy cũng bị bắn chết luôn sau đó. Ba người còn lại trong tổ chức là Thịnh, Đức và Khanh lúc bấy giờ đang ở phía sau hoàn toàn không chuẩn bị gì cho việc này cả, nên không ai trở tay kịp hoặc giúp gì được cho Thiên và Tài. Lúc đó anh nào cũng đang mang trong người một ruột tượng đựng cơm phơi khô, bất thình lình thấy Thiên ra tay hành động… rồi súng nổ… rồi Thiên và Tài bị bắn ngã… sự việc xảy ra nhanh quá! Nghĩ là mọi việc đã bị đổ bể, ở lại thế nào cũng sẽ bị xét bắt nên ba người cũng vội bung ra chạy… Quân vệ binh cộng sản truy lùng ngay sau đó… Kết quả Thịnh và Đức bị bắt lại và bị đánh thê thảm. Chỉ có Khanh may mắn chạy thoát được. Vụ trốn trại này không những làm xôn xao tất cả đám tù cải tạo còn lại, mà cả ban chỉ huy trại và quản giáo cũng xôn xao, rúng động không kém. Ngay sau đó, hệ thống quản lý tù càng siết chặt chẻ hơn… nội qui trại đưa ra càng khó khăn hơn và kỷ luật mới được ban hành để đối phó với bất cứ ai phạm nội qui lại càng tàn bạo hơn trước nhiều…. Tuy thế cũng không làm cho các tù nhân cải tạo sợ hải. Ít ra là đối với một người: Đó là anh Phạm Văn Thức.

Anh Phạm Văn Thức trước đây là Thiếu Úy Phân Chi Khu Trưởng đơn vị đóng tại tỉnh Long An. Anh là người miền Bắc di cư, hiền lành, ít nói và là một tín đồ Công Giáo rất ngoan đạo. Nhưng không ai ngờ rằng với bề ngoài hiền lành, ít nói của anh lại ẩn tàng một ý chí sắt đá với những quyết định táo bạo khó có ai bì được. Sau khi từ trại Suối Máu bị chuyển về Xuyên Mộc, dưới sự quản thúc tàn bạo của đám Công An đã đối xử với anh và các bạn tù cải tạo như thú vật… thì anh đã nảy ra ý định trốn trại. Tuy nhiên anh chưa kịp thực hiện kế hoạch của mình thì đã xảy ra vụ tổ chức 5 người kể trên cướp súng vượt trại thất bại trước rồi. Việc này xảy ra bắt buộc anh phải tạm thời đình hoãn kế hoạch của mình lại, chờ mọi việc yên ổn, lắng dịu xuống hết rồi mới tính được.

Qua năm 1980, chuyện 5 người âm mưu cướp súng trốn trại tương đối đã êm. Mọi sinh hoạt trại trở lại bình thường. Lúc bấy giờ vào mùa thu hoạch bắp nên tất cả công tác lao động của trại chủ yếu là làm việc trên những rẫy bắp nên các vệ binh đi theo canh gác tù chỉ tập trung ở những rẫy bắp. Lợi dụng cơ hội này, Phạm Văn Thức quyết định thực hiện ý định của mình. Anh nhận thấy nếu việc trốn trại có nhiều người tham dự sẽ không được an toàn cho lắm. Tuy rằng với có nhiều người thì sẽ có sự giúp đỡ lẩn nhau trong khi hành động cũng như trên bước đường trốn tránh trong rừng, nhưng đồng thời kế hoạch cũng dễ bị vỡ nếu mọi việc không hoàn toàn ăn khớp với nhau, như trường hợp của 5 người bạn tù trước đây. Do đó Phạm Văn Thức quyết định thực hiện việc đào thoát một mình và không bàn với ai về ý định của mình cả. Theo như sự tính toán của anh, trường hợp nếu bị bắt lại thì không còn gì để nói, phải chấp nhận mọi hậu quả thôi. Còn nếu trốn thoát được thì chỉ cần vài ba ngày lội trong rừng là có thể thoát ra được do thế việc chuẩn bị lương thực, nước uống không cần thiết lắm. Vấn đề mưu sinh thoát hiểm trong rừng 2, 3 ngày không phải là một điều khó khăn lắm đối với một sĩ quan, nhất là điều này anh đã được huấn luyện từ trước. Kinh nghiệm anh đã thấy qua từ vài âm mưu trốn trại bị lộ trước đây ở các trại khác cũng chỉ vì bị cán bộ quản giáo phát giác ra việc dự trử cơm phơi khô để dành… Nên anh quyết định không chuẩn bị gì cả cho phần lương thực. Mỗi buổi sáng đi ra lao động, chỉ cần chút ít thức ăn mang theo trong ngày, bình nước nhỏ và con dao được phát cho việc lao động là đủ. Với tư thế lúc nào cũng sẵn sàng như thế anh kiên nhẩn chờ đợi thời cơ, ngày này không được thì chờ qua ngày khác… Mọi sinh hoạt trong trại vẫn đều đều như bình thường, không ai mảy may nghi ngờ gì đến anh cả. Cuối cùng rồi thời cơ cũng đến. Ba ngày trước, lúc được giao công tác thu hoạch trên rẫy bắp. Mọi người ai nấy đều lui cui bận rộn với công việc, 2 tên vệ binh đi theo canh giữ thì đang ngồi tán gẫu với một tên vệ binh khác ở phía xa. Thừa lúc không ai chú ý tới, Phạm Văn Thức lợi dụng địa thế rậm rạp và thân cây bắp cao che khuất lủi nhanh vào sâu bên trong và biến mất ngay.

Sau khi băng qua mấy rẫy bắp và vào được trong rừng, Phạm Văn Thức cố gắng đi càng xa càng tốt khỏi vùng ảnh hưởng của trại Xuyên Mộc. Sau đó anh nhắm hướng đi theo kế hoạch đã tính từ trước. Anh không đi về hướng Bà Rịa, Vũng Tàu mặc dù từ trại Xuyên Mộc đi về Bà Rịa gần hơn; ngược lại anh đã quyết định chọn con đường về hướng Gia Kiệm, Đồng Nai xa hơn để đi. Có hai lý do khiến anh chọn con đường dài hơn, đồng nghĩa với khó khăn hơn vì: Thứ nhất anh có thể đánh lạc hướng truy đuổi của các cán bộ vệ binh Cộng Sản, ít ai ngờ anh sẽ chọn con đường xa hơn sau khi trốn trại. Thứ hai ở Bà Rịa,Vũng Tàu anh không có ai là thân nhân quen biết để có thể giúp đỡ. Còn nếu đến được Gia Kiệm, thì anh có ông anh đang ở đó, sẽ nhờ ông anh này giúp đỡ cho bước kế tiếp…

Đã quyết định như thế từ trước, nên anh cứ căn cứ vào điểm chuẩn của núi Chứa Chan từ xa lầm lủi đi. Ban ngày thì cứ nhắm hướng mà đi. Đêm đến thì anh tìm cách leo lên một nhánh cây lớn để tránh thú dữ, ngủ chút đỉnh lấy sức chờ trời vừa sáng lại leo xuống tiếp tục cuộc hành trình đào thoát… Một ít lương thực mang theo cho ngày lao động hôm trước và mấy trái bắp bẻ lúc còn trong rẫy cũng giúp anh thoát được cơn đói hành hạ. Tuy nhiên đầu óc lúc nào cũng căng thẳng, mệt đến lã người nhưng anh không dám nghỉ ngơi lâu vì chỉ sợ mệt quá ngủ quên luôn… Chỉ khi nào mệt lắm anh mới dám tìm bụi rậm ngồi nghỉ ngơi chút đỉnh lấy lại sức, còn lại thì anh cứ bươn bả đi miết. Vừa đi anh vừa cầu nguyện và tự nhắc nhở để cổ vũ tinh thần: “Phạm Văn Thức ơi! Mày phải cố gắng lên. Không được nghỉ… Mày đã trốn thì phải trốn cho thoát, thà là chết trong rừng, đừng để bị bắt lại, chúng nó sẽ hành hạ mày thê thảm còn hơn chết nữa…. Chúng nó đang đuổi theo phía sau đó. Không được nghỉ… Cố gắng lên… Cố gắng lên. Qua khỏi khu rừng này là an toàn rồi…” Cứ thế anh vừa len lỏi đi, vừa tự nhắc nhở, khuyến khích mình như thế. Gặp khu gai góc thì dùng dao phát quang xuyên qua hoặc tìm cách né tránh rồi cố gắng giữ theo hướng cũ để khỏi bị lệch quá xa. Một đôi khi gặp suối thì dò tìm chỗ cạn để vượt qua, rửa vội mặt mày cho tỉnh người lại rồi cứ thế vượt suối đi tiếp… cuối cùng sau 3 ngày 2 đêm thì anh đã sắp ra khỏi rừng, gặp đường quốc lộ rồi.

Núp vào một bụi cây rậm rạp, Phạm văn Thức hướng mắt về phía bìa rừng, cẩn thận quan sát kỷ động tịnh chung quanh. Từ nơi đây, thỉnh thoảng anh đã có thể nghe tiếng xe cộ chạy ngang qua nên đoán chắc phía trước là quốc lộ. Theo như vị trí hiện tại chỗ anh đang đứng so sánh với bóng dáng của núi Chứa Chan ở phía trước mặt, thì anh đoán mình còn cách Gia Kiệm, điểm anh muốn đến, không bao xa. Nghe tiếng xe cộ thỉnh thoảng vọng lại từ phía ngoài bìa rừng lòng anh mừng khấp khởi, tuy nhiên anh không dám mạo hiểm đi ra quốc lộ vào lúc này. Trời hãy còn sáng lắm. Nhìn lại quần áo trên người đầy bụi bậm, một vài nơi bị gai góc, cây cỏ móc rách nát te tua lòi cả da thịt bên trong, anh nhủ thầm: “Với bộ dạng thê thảm như vậy, rủi có ai bắt gặp cũng dễ bị nghi ngờ!”. Anh kiên nhẩn ngồi dựa người vào trong một góc khuất của bụi rậm nghỉ ngơi chờ mặt trời lặn. Ý nghĩ sắp gặp được người thân và thoát khỏi cảnh tù đày làm anh nôn nao trong dạ, chỉ thầm mong cho mặt trời lặn thật sớm để tiếp tục đi.

******

Khi Phạm Văn Thức lần mò tìm được tới nhà người anh ở Gia Kiệm thì trời đã khuya rồi. Trên đường đi, anh tránh né hết những bóng dáng người di động từ xa nên không ai phát giác ra anh cả. Khỏi phải diễn tả, chúng ta cũng có thể đoán được là ông anh của Phạm Văn Thức sửng sốt như thế nào khi biết được em mình trốn trại trở về. Sau khi trao đổi với nhau vài câu, Phạm Văn Thức cho biết là không thể ở lại đây vì không an toàn. Anh nhờ ông anh cấp tốc chở về Hố Nai nơi anh có một bà cô đang sống. Ở đó an toàn hơn vì ở Hố Nai không ai biết gì về anh trước đây hết. Thế là sau khi tắm rửa, thay quần áo, ăn uống qua loa lấy lại sức, hai anh em chở nhau trên một chiếc Honda lên đường đi ngay trong đêm khuya về Hố Nai.

Như chúng ta đã biết, Hố Nai là một xứ đạo được lập ra sau khi phong trào di cư từ miền Bắc vào Nam năm 1954. Cư dân ở đây hầu hết theo đạo Công Giáo, rất sùng đạo và đặc biệt có tinh thần đoàn kết rất cao. Ngay cả sau năm 1975, khi cộng sản nắm chính quyền cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc cai quản và áp đặt chính sách lên xứ đạo nổi tiếng này. Chính nhờ thế ở tại nhà bà cô, Phạm Văn Thức cảm thấy rất an toàn. Không một ai thắc mắc, để ý gì đến anh hết. Lúc bấy giờ vợ con của anh vẫn còn ở với gia đình bên vợ tại Long An. Anh dặn người anh và bà cô tạm thời không cho vợ con anh biết tin, vì chắc chắn sau khi phát giác anh trốn trại, họ sẽ báo về địa phương truy lùng anh. Cứ kiên nhẩn đợi mọi chuyện lắng dịu đâu đó rồi sẽ cho gia đình biết sau cũng không muộn. Phạm Văn Thức ở nhà bà cô được hơn 2 tháng, mọi việc vẫn yên ắng, thuận lợi. Lúc đó anh mới nhờ người báo tin cho vợ con ở Long An lên Hố Nai gặp mặt.

Vào thời điểm này phong trào vượt biên đã rầm rộ lắm rồi. Gia đình bàn với nhau là trường hợp của anh không thể ở lại VN được, bằng mọi cách phải cho anh vượt biên ra khỏi VN. Nhưng trong khi chờ đợi tìm được đường dây tổ chức vượt biên thì cũng phải kiếm việc gì làm để sống chứ đâu thể ở mãi nhà bà cô được. Cũng may lúc đó có một gia đình người quen đang làm rẫy ở khu kinh tế mới Cây Gáo, Trảng Bom. Gia đình này sẵn lòng giúp đỡ và khuyên anh nên về ở chung với họ làm rẫy trong khi tìm đường vượt biên. Vùng Cây Gáo lúc bấy giờ là một vùng mới khai phá, cư dân hầu như từ khắp nơi đổ về đây lập nghiệp, sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy. Không ai biết quá khứ của ai và cũng chẳng ai thắc mắc gì ai cả. Ngay chính quyền địa phương cũng rất dễ dãi với mọi người vì họ đang có chiến dịch khuyến khích người dân về vùng này khai phá, trồng trọt tăng gia sản xuất thêm… Nơi đây đúng là một nơi lý tưởng để Phạm Văn Thức ẩn thân trong khi chờ đợi vượt biên. Thế là anh bảo vợ con tạm thời ở lại Long An, còn một mình anh đi lên khu kinh tế mới Cây Gáo tá túc ở nhà người quen tốt bụng này, ngày ngày vác cuốc ra rẫy làm lụng che mắt thiên hạ. Trong khoảng thời gian này, anh dò tìm mua được một giấy “Chứng Minh Nhân Dân” giả với một tên họ khác. Nhớ thế chính quyền địa phương ở Cây Gáo, Trảng Bom cũng không thắc mắc gì về anh, mọi sự đi lại của anh nhờ thế cũng dễ dàng.

Kéo dài như thế cũng hơn năm trời, anh vừa tiếp tục làm rẫy vừa để ý tìm kiếm đường dây vượt biên. Cuối cùng có người giới thiệu anh với một chủ ghe và cũng là người tổ chức. Sau nhiều lần đi lại tìm hiểu kế hoạch… anh đóng tiền cho chủ ghe và chờ đợi ngày xuất phát. Tuy nhiên chuyến này anh đã bị gạt! Đến ngày xuất phát, chủ ghe âm thầm ra đi bỏ anh lại không thông báo tiếng nào cả. Trời bất dung gian, chuyến vượt biên đó cuối cùng bị đổ bể. Người chủ ghe bị Công An bắn chết còn tất cả những người tham gia đều bị bắt lại hết… cũng may, nếu anh tham dự trong chuyến này thì cũng bị bắt luôn rồi. Thật đúng là số Trời! Không ai có thể nói trước được. Sau lần bị gạt này, tiền bạc mất hết, Phạm Văn Thức không còn đủ khả năng tham gia vào một chuyến vượt biên nào nữa. Anh đành bàn với vợ con gom góp mọi thứ lên khu kinh tế mới Cây Gáo, Trảng Bom an phận làm ăn sinh sống. Gia đình anh tiếp tục làm rẫy thêm một thời gian nữa, sau đó tìm được một việc khác tương đối đỡ hơn: Đó là nghề đi bán và bỏ mối nước mắm lẻ. Tuy nghề này cũng vất vả, chủ yếu chỉ lấy công làm lời, nhưng nhờ tính cần cù nhẫn nại, chịu khó chìu khách hàng… nên mối quen càng ngày càng đông, gia đình anh nhờ thế cũng đỡ vất vả hơn trước.

Năm 1989, chính quyền địa phương Cây Gáo, Trảng Bom có chính sánh cứu xét cho những người địa phương ở “lậu” vào hộ khẩu thường trú. Nhưng muốn được cứu xét người đó phải chứng minh được là mình thuộc diện lao động sản xuất… Theo lời anh Phạm Văn Thức kể lại thì lúc đó gia đình anh không còn làm rẫy nữa mà chuyên hẳn về nghề bán nước mắm lẻ. Công việc này chính quyền địa phương coi như không hợp lệ trong việc cứu xét vào hộ khẩu? Nhưng có lẽ nhờ gia đình anh thường ngày đối xử với bà con xóm giềng rất tốt nên ai nấy đều thương mến. Biết được chuyện khó của anh, một người láng giềng tên Long trước đây là Thượng Sĩ QLVNCH thuộc sư đoàn 5 bộ binh đã giúp cho anh đứng tên đất rẫy của mình để anh có thể chứng minh được với chính quyền địa phương gia đình anh là một gia đình thuộc diện lao động sản xuất… Nhờ thế gia đình anh mới được cho vào hộ khẩu. Mãi tới bây giờ Pham Văn Thức vẫn nhớ tới cái ơn giúp đỡ của ông Thượng Sĩ Long tốt bụng này. (Như chúng đã biết, sau 1975, chính quyền cộng sản áp đặt ra chế độ hộ khẩu như một hình thức kiểm soát người dân về nhiều mặt. Những người không có hộ khẩu thường trú sẽ gặp rất nhiều khó khăn đối với chính quyền địa phương. Ở vào trường hợp những người như anh Phạm Văn Thức, việc vào được hộ khẩu thường trú, cũng đồng nghĩa với việc sống một cách an toàn, hợp pháp, khó có ai có thể truy lùng ra gốc tích trốn trại của anh ngày trước). Từ đó anh và gia đình cứ an phận ngày ngày tiếp tục chở nước mắm đi bỏ mối nuôi sống gia đình…

Nếu câu chuyện của anh Phạm Văn Thức chỉ có thế thì cũng chẳng có gì quá đặc biệt. Chúng ta xem như anh đã thành công trong việc trốn trại, sử dụng giấy tờ giả, tên giả và cuối cùng an phận sinh sống với gia đình ở một địa phương khác không ai hay biết gì hết… Nếu chỉ có thế thì chúng ta có thể chấm dứt ở đây. Tuy nhiên câu chuyện của anh còn nhiều điều ly kỳ và phần kế tiếp mới chính là phần độc đáo, có một không hai trong cuộc đời của người tù nhóm 520 Xuyên Mộc có tên Phạm Văn Thức này. Mời quý vị theo dõi tiếp…

******

Năm 1990 khi chương trình định cư nhân đạo HO của chính phủ Mỹ đưa ra, Phạm Văn Thức lúc đó đang ngày ngày chở nước mắm bỏ mối ở vùng kinh tế mới Cây Gáo, Trảng Bom nên hoàn toàn không hay biết gì cả. Đến khi một người bạn thân của anh thời còn học trung học là Nguyễn Anh Tuấn (hiện đang định cư tại Lafayette, Louisiana) nhắn tin lên báo cho anh biết về chương trình này… Nguyễn Anh Tuấn cũng cho biết là mình đã nộp đơn xong và đang chờ phái đoàn Mỹ phỏng vấn. Anh bạn này thúc dục Phạm Văn Thức nên lo thủ tục cần thiết và nộp đơn sớm để được phỏng vấn sớm…

Tuy nhiên sau khi xem kỹ điều kiện thì Phạm Văn Thức không khỏi thất vọng, vì điều kiện hợp lệ tiên quyết để được nhận đơn phỏng vấn cho những cựu quân nhân, cán chính thuộc QLVNCH là phải chứng minh được mình đã từng bị tù cải tạo trên 3 năm. Oái ăm thay trường hợp Phạm Văn Thức hiện nay lại không có giấy tờ gì chứng minh được điều này, mặc dù anh đã từng ở tù hơn 5 năm và qua mấy trại khác nhau trước khi trốn thoát khỏi trại Xuyên Mộc! Ngoài ra tên và giấy tờ của anh hiện này đang xài là tên giả! Anh không còn giấy tờ gì chứng minh được tên thật của mình.

Tuy thất vọng nhưng anh cũng cố điền đơn cầu may và khai thật hết tất cả mọi việc trong phần khai lý lịch….Kết quả đơn của anh đưa vào không được chấp nhận vì thiếu giấy tờ hợp lệ: Giấy ra trại chứng minh đã ở tù cải tạo trên 3 năm! Nhìn bạn bè và người quen lần lượt được nhận đơn và chờ gọi tên phỏng vấn làm anh càng nôn nóng và tuyệt vọng hơn. Đây là cơ hội cuối cùng ngoài ra không còn cơ hội nào khác có thể cứu vớt anh và gia đình thoát ra khỏi chế độ cộng sản hiện tại cả! Anh nản chí đến độ không còn thiết gì đến làm ăn nữa. Mọi việc nhà đều giao phó cho vợ con lo, còn anh thì cứ đi lên Saigon nghe ngóng tin tức, hy vọng có một cách nào khác để được phái đoàn Mỹ phỏng vấn. Người ta bảo anh về trại cũ xin giấy chứng nhận, nhưng đối với những người được thả về mà bị mất giấy ra trại thì còn làm cách này được. Còn trường hợp trốn trại như anh thì ai mà chứng nhận cho. Vả lại trở về trại cũ thì chẳng khác nào mang thân vào miệng cọp, nguy hiểm quá…

Sau nhiều tháng đi lại, tốn kém đủ thứ mà không được gì cả. Phạm Văn Thức buồn rầu lắm và càng đau lòng hơn khi nhìn thấy vợ con sống lam lũ ở khu kinh tế mới. Nhận thấy mình cũng đã từng ở tù cải tạo 5 năm, chịu biết bao nhiêu đắng cay cực khổ. Chỉ vì bất mãn chế độ đối xử hà khắc của bọn công an trại… và vì muốn sống Tự Do nên anh mới phải trốn trại. Để rồi hậu quả bây giờ không có gì chứng minh được là anh đã ở tù đủ thời hạn yêu cầu để được cứu xét thì đau quá!! Không lẽ vợ con anh phải suốt đời chịu sống lây lất ở khu kinh tế mới Cây Gáo này hoài sao? Rõ ràng anh đã liên lụy đến gia đình, nếu không thì vợ con anh chắc cũng được đi định cư ở Mỹ như những gia đình sĩ quan khác…Càng nghĩ Phạm Văn Thức càng đau lòng thêm. Sau nhiều đêm trằn trọc không ngủ được, anh quyết định trở lại trại cũ Xuyên Mộc trình diện và xin được ở tù lại. Hy vọng sau khi hết hạn sẽ được thả về với một giấy chứng nhận ra trại. Vì tương lai của gia đình vợ con, vì khát vọng được sống trong một xứ Tự Do, thoát khỏi chế độ kềm kẹp của chế độ cộng sản hiện tại… anh đành đi nước bài liều này, chấp nhận hết mọi hậu quả. Anh biết rằng đi nộp mạng như thế, có thể họ sẽ bắt giữ anh lại nhốt triền miên không có ngày ra, có thể bị gông cùm đánh đập và thậm chí có thể mất cả mạng nữa cũng không biết chừng… Tuy nhiên thà là liều như vậy còn hy vọng có được một tương lai sáng sủa cho gia đình, còn hơn là cứ sống lây lất mãi ở khu kinh tế mới Cây Gáo này suốt đời! Anh tự an ủi miễn còn sống thì họ nhốt mãi cũng phải có ngày ra. Lúc đó anh sẽ hợp lệ nộp đơn xin cứu xét đi định cư theo diện HO. Viễn ảnh của một ngày mai tươi sáng nơi xứ Tự Do làm anh quyết tâm hơn!

Tuy đã có quyết tâm như vậy nhưng Phạm Văn Thức không dám bàn với vợ con về ý định của mình vì sợ bị ngăn cản. Anh âm thầm tìm đến một người bạn tù trong nhóm 520 Xuyên Mộc trước đây là anh Nguyễn Văn Vượng (Hiện đang định cư tại California), nói ý định của mình cho Nguyễn Văn Vượng biết và nhờ anh bạn này chở dùm anh lên trại Xuyên Mộc, sau đó trở về báo cho gia đình vợ con anh biết sau.

Nguyễn Văn Vượng cũng kinh ngạc trước quyết định của bạn, lên tiếng khuyên cản anh nên suy nghĩ lại vì ý định này quả thật quá nguy hiểm. Nhưng ý Phạm Văn Thức đã cương quyết như vậy rồi nên người bạn này cũng đành chịu. Sau khi bàn bạc cặn kẻ và chuẩn bị tinh thần cho mọi tình huống xấu nhất có thể xảy ra, hai người bạn chở nhau trên một chiếc Honda đi thẳng lên Xuyên Mộc. Lúc đó là năm 1991, nếu tính từ khi trốn trại ra năm 1980 thì anh Phạm Văn Thức đã ở bên ngoài đúng 11 năm rồi.

Trại Xuyên Mộc lúc bấy giờ hầu như đã thay đổi hết. Nơi đây không còn nhốt tù cải tạo sĩ quan chế độ cũ nữa, mà chỉ còn là trại tù dành cho tội phạm hình sự mà thôi. Kể cả ban chỉ huy trại, công an quản giáo và các vệ binh cũ cũng không còn ở đó nữa. Mấy cán bộ công an mới không biết gì về vấn đề tù sĩ quan cải tạo trước đây. Khi Phạm Văn Thức cho biết mình đã trốn khỏi trại này 11 năm trước, bây giờ vào trình diện để xin được ở tù trở lại, thì tất cả cán bộ công an trại ngẩn người ra nhìn anh như nhìn một người điên. Họ ngạc nhiên cũng phải, vì trước đây đâu bao giờ có trường hợp nào xảy ra như thế này? Họ hỏi anh:

– “Lý do gì anh đã trốn thoát ra ở bên ngoài 11 năm rồi, bây giờ mới trở vào tự thú?”

Phạm Văn Thức trả lời:

– “Đời sống bên ngoài càng ngày càng khó khăn đối với một người sống không giấy tờ như anh. Vả lại anh còn có vợ con nên càng gặp khó khăn nhiều hơn. Cuối cùng chịu đựng hết nỗi nên anh quyết định chọn con đường tự thú để hy vọng sau khi ở tù xong, ít nhất sẽ được trại cấp một giấy chứng nhận và sau khi về cuộc sống sẽ dễ dàng hơn, không phải trốn chui trốn nhủi nữa…”

Họ còn hỏi anh nhiều điều nữa và bắt anh làm bản tự khai. Anh cứ một mực khai sau khi trốn trại về sống vất vưởng ở nhiều nơi khác nhau không giấy tờ gì cả, nên không ai chứng thật được lời khai của anh.

Theo lời anh Phạm Văn Thức kể lại thì ban chỉ huy trại Xuyên Mộc lúc bấy giờ không quyết định được trường hợp của anh nên giữ anh ở lại đó và điện về Bộ Nội Vụ xin chỉ thị. Một lúc lâu sau, bọn công an trại quay lại nói ngay với anh:

– “Anh mà có tinh thần tự giác trở lại thành thật khai báo cái gì? Nói thật đi. Mục đích của anh đến đây chỉ vì muốn xin giấy chứng nhận để được cứu xét đi Mỹ thôi. Có phải thế không??”

Cả bọn xúm lại hỏi anh câu này xong cứ chỉ trỏ cười hoài. Anh cũng cười giả lả trả lời cho qua chuyện với bọn chúng. Anh đoán sau khi điện về Bộ Nội Vụ xin chỉ thị, chắc có lẽ trên Bộ Nội Vụ có nói gì đó về chương trình HO, nên đám công an mới biết được mục đích của anh, chứ trước đó chúng còn ngơ ngác không biết gì cả.

Cuối cùng họ giam Phạm Văn Thức ở chung một buồng với đám tù hình sự. Ban ngày anh không phải làm việc gì hết, ban đêm công an giao cho anh nhiệm vụ “trưởng buồng”, điểm danh và trông chừng tù hình sự tìm cách trốn. Anh cười thầm trong bụng:

– “Mình là thằng trốn trại ngày trước, bây giờ lại làm nhiệm vụ canh chừng tù trốn trại. Đúng là khôi hài thật!”.

Làm “trưởng buồng” được mấy hôm cứ ở mãi một chỗ tù túng quá, anh xin được ra ngoài lao động. Họ cho anh ra trông coi mấy mẫu điều mới trồng, hàng ngày theo dõi xem có bị hư hại gì không?? Công việc cũng không có gì nặng nhọc và điều đáng nói là không ai cai quản anh cả. Anh muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm miễn ở trong phạm vi đó thôi. Trong khoảng thời gian ở tù lần này, gia đình vợ con anh được phép lên thăm viếng đều đặn thoải mái lắm. Nói chung họ đối với anh lần này rất dễ dãi, ngoài sự tưởng tượng của anh. Cứ như thế Phạm Văn Thức ở gần đúng một năm thì một hôm được gọi về buồng giam nhốt lại, không cho ra ngoài lao động nữa. Ở trong buồng giam khoảng 3 tuần thì anh được gọi lên thả về. Họ cấp cho anh một giấy ra trại chứng nhận từ ngày đầu tiên anh trình diện tập trung cải tạo 28 tháng 6 năm 1975 đến khi thả vào tháng 6 năm 1992 (không nhớ rõ ngày). Như vậy là họ đã chứng nhận anh ở tù liên tục 17 năm không gián đoạn, xem như anh chưa hề trốn trại ra ngoài bao giờ. Anh cũng ngạc nhiên về điều này tuy nhiên cũng chẳng thắc mắc gì cả vì đã đạt được kết quả mong muốn. Phạm Văn Thức cầm tờ giấy ra trại với tên thật của mình trên đó mà lòng vui mừng vô hạn. Lần này thì chắc chắn anh đủ điều kiện nộp đơn theo diện HO rồi. Tuy nhiên anh không ngờ rằng việc chứng nhận anh đã ở tù liên tục 17 năm vô tình lại đưa anh vào một rắc rối khác!

*****

Sau khi về nhà không bao lâu, Phạm Văn Thức xúc tiến ngay việc nộp đơn xin đi theo chương trình HO. Lần này đơn của anh được nhận ngay. Anh vui mừng trở về nhà yên tâm chờ đợi. Cuối năm 1994 anh nhận được giấy mời đi phỏng vấn. Khỏi nói cũng biết là anh và gia đình vui mừng biết chừng nào. Đúng ngày hẹn, hai vợ chồng anh lên Saigon gặp phái đoàn Mỹ. Sau đây là tóm tắt những điểm trong buổi phỏng vấn ngắn ngủi với phái đoàn Mỹ:

Theo đúng thủ tuc, Họ yêu cầu anh giơ tay tuyên thệ những lời khai trong cuộc phỏng vấn là hoàn toàn sự thật. Nếu gian dối thì sẽ chịu mọi trách nhiệm… và hồ sơ sẽ không được cứu xét nữa. Sau đó họ hỏi ngay anh:

– “Xin ông cho biết tên thật của ông là gì? Gia cảnh của ông hiện nay như thế nào?”

Anh trả lời:

– “Tôi tên Phạm Văn Thức. Tôi có vợ và 3 con.”

– “Ngoài tên này ra, ông còn sử dụng tên nào khác nữa không?”

– “Có! Sau khi trốn trại về, để tránh tai mắt địa phương và dễ dàng trong việc đi lại, tôi có xài tên giả. Tôi đã có khai chuyện này trong phần tờ khai lý lịch trong hồ sơ…”

– “Hiện ông có đang sống cùng với vợ con của ông không? và đang làm nghề gì?”

– “Vâng, tôi đang sống cùng với vợ và 3 con của tôi ở Cây Gáo, Trảng Bom. Chúng tôi hiện đang sống bằng nghề bán nước mắm”

– “Trước năm 1975, cấp bậc chức vụ của ông là gì? Đơn vị ở đâu?”

– “Trước 1975 cấp bậc của tôi là Thiếu úy. Chức vụ Phân Chi Khu Trưởng, đơn vị ở tại tỉnh Long An”

Người Mỹ trong phái đoàn phỏng vấn nhìn vào hồ sơ của anh một lúc rồi hỏi:

– “Cấp bậc của ông là Thiếu Úy, chức vụ Phân Chi Khu Trưởng, nhưng tại sao ông đi học tập cải tạo đến 17 năm? Ngay cả cấp Tướng trước đây đi học tập cải tạo cũng không lâu đến như vậy? Có gì đặc biệt trong việc ông đi cải tạo trước đây không?”

– “Tôi đã trình bày rất rõ trong phần khai lý lịch là sự thật thời gian ở tù cải tạo của tôi hai lần tổng cộng 6 năm, 3 ngày: Lần thứ nhất hơn 5 năm, sau đó tôi trốn trại ra ngoài ở hết 11 năm. Lần thứ hai họ bắt giữ tôi lại khoảng gần đúng 1 năm ”

– “Nhưng tại sao trong giấy ra trại ghi rõ thời gian tính từ ngày ông đi trình diện là 28 tháng 6 năm 1975 cho đến ngày ông được thả ra năm 1992. Như vậy không phải là tổng cộng thời gian đã ở trong trại là 17 năm hay sao?”

Mgười Mỹ đen phỏng vấn Phạm Văn Thức nói thẳng với anh:

– “Mong ông phải khai rõ hơn về chuyện này vì chúng tôi nhận thấy có điều gì đó không ổn trong tờ giấy ra trại này và lời khai của ông?? Có phải giấy ra trại này giả không?”

Đến đây thì Phạm Văn Thức cảm thấy bất an lắm:

– “Giấy ra trại đó dĩ nhiên là thật! Tôi cũng không biết tại sao họ lại chứng nhận trong giấy ra trại như vậy? Lời khai của tôi hoàn toàn là sự thật. Ông có thể liên lạc kiểm chứng với họ”

Người Mỹ đen đóng tập hồ sơ của Phạm Văn Thức lại một cách lạnh lùng:

– “Thời gian trốn trại ở bên ngoài 11 năm của ông nếu là sự thật thì tại sao họ lại không tính đến? Rất tiếc chúng tôi không có nhiệm vụ tìm hiểu tại sao cho vấn đề mâu thuẩn này của ông?”

Rồi không đợi Phạm Văn Thức có dịp trình bày thêm, người Mỹ này tiếp luôn:

– “Rất tiếc chúng tôi từ chối cứu xét hồ sơ này của ông vì những lời khai và giấy tờ của ông đã không chứng minh được rõ ràng và ăn khớp với nhau. Bây giờ xin mời ông bà về và chúc may mắn.”

Bước ra khỏi phòng phỏng vấn, phải nói là tinh thần Phạm Văn Thức xuống thê thảm. Mọi hy vọng tan biến hết! Rốt cuộc sau bao nhiêu cố gắng, chịu đựng, liều lĩnh đi trình diện xin ở tù lại lần thứ hai với hy vọng có được giấy ra trại để được phái đoàn Mỹ nhận đơn cứu xét… để rồi kết quả cũng chính tờ giấy ra trại này hại anh… Càng suy nghĩ Phạm Văn Thức càng thấy chán nãn! Đám đông đang đứng tụ tập ở phía trước cửa chờ đến phiên mình được gọi vào phỏng vấn, thấy vợ chồng Pham Văn Thức buồn rầu đi ra thì xúm lại hỏi thăm. Sau khi biết chuyện hồ sơ của anh bị phái đoàn Mỹ từ chối vì không chứng minh được rõ ràng thời gian trốn trại và thời gian anh đã ở tù trước đây…., một người trong đám đông góp ý khuyên anh nên tìm lại những bạn tù biết về chuyện trốn trại của anh và nhờ họ làm đơn xác nhận dùm rồi gởi qua toà đại sứ Hoa Kỳ ở Bankok xin tái cứu xét lại hồ sơ… chuyện này cũng chỉ là hy vọng thôi, tuy nhiên còn nước thì còn tát…

Phạm Văn Thức cũng muốn nghe theo lời khuyên đó lắm, nhưng bây giờ biết đi đâu mà tìm gặp bạn tù cũ nhờ giúp xác nhận dùm việc anh đã trốn trại…? Thời điểm lúc đó là cuối năm 1994 các bạn tù của anh đã đi định cư theo những diện HO trước đó hết rồi!! Số của anh đúng là xui tận mạng! Chẳng lẽ Thượng Đế cố tình thử thách sự chịu đựng của gia đình anh hay sao? Bao nhiêu sức lực ý chí của anh gần như kiệt quệ hết. Vợ chồng anh chỉ còn biết đêm ngày cầu nguyện xin Thượng Đế, Ơn Trên ban phép màu ra tay cứu giúp mà thôi!!

Có lẽ lời cầu nguyện đầy thành tâm của vợ chồng Phạm Văn Thức cuối cùng đã thấu đến tai Thượng Đế và khiến Ngài cảm động nên đã lóe lên cho anh một tia hy vọng mới: Trong khi dò tìm cầu may tin tức những người bạn tù cũ, thì anh nghe nói có một người tên là Đào Văn Long, trước đây cũng là là tù cải tạo ở trại Xuyên Mộc, lẽ ra đã đi định cư theo diện HO lâu rồi, nhưng vì anh này bị bệnh phổi nên phải ở lại uống thuốc chữa trị khi nào hết mới được đi. Tuy thế không ai biết rõ anh Đào Văn Long hiện nay đang ở đâu?

Nhận được tin này Phạm Văn Thức mừng quá. Tưởng ai chứ Đào Văn Long thì anh rất thân, từ lúc hai người còn ở trại Suối Máu. Anh còn nhớ lúc chuyển từ trại Suối Máu về Xuyên Mộc, anh và Đào Văn Long ngồi kế bên nhau trên cùng một chiếc xe. Khi đi ngang qua Bà Rịa Vũng Tàu, anh nhớ Đào Văn Long có kể cho anh nghe rằng nhà ba anh ta ở Bà Rịa, Vũng Tàu từ nhiều đời trước. Gần như những ai ở lâu vùng này đều biết đến ba anh Đào Văn Long cả. Cứ đến đó hỏi tên ông Ba Quạ là sẽ có người chỉ đến ngay. Lúc bấy giờ ngồi trên xe, Đào Văn Long kể cho anh nghe chuyện này cũng chỉ là vô tình khi xe đi ngang qua vùng này vậy thôi chứ không có ý gì khác. Tuy nhìên vì tên thường gọi của ba anh Đào Văn Long là “Ba Quạ” khá đặc biệt nên khiến Phạm Văn Thức còn nhớ tới bây giờ.

Thế là Phạm Văn Thức lên đường đi Bà Rịa, Vũng Tàu hỏi thăm nhà ông Ba Quạ ngay, hy vọng từ đó sẽ biết được tin tức người bạn Đào Văn Long. Sau khi đến nơi hỏi thăm nhiều người, cuối cùng anh được một anh lái xe Honda ôm cho biết ông Ba Quạ đã chết lâu rồi. Nghe tin này Phạm Văn Thức chới với, tuy nhiên anh cũng cố hỏi tiếp:

– “Thế anh có biết con cái của ông Ba Quạ còn những ai và ở đâu không?”

Anh tài xế xe ôm trả lời:

– “Ông ta có người con gái đang mở quán bán hủ tiếu gần đây thôi.”

Mừng quá, thế là sẵn xe Honda ôm, Phạm Văn Thức nhảy lên nhờ chở ngay tới chỗ cô con gái ông Ba Quạ. Té ra đây chính là cô em của Đào Văn Long, người bạn tù mà anh muốn tìm. Nhờ cô này chỉ dẫn, sau đó anh đã tìm gặp Đào Văn Long. Cũng may là anh này vẫn còn đang uống thuốc điều trị bệnh phổi nên Phạm Văn Thức mới có cơ hội gặp được, nếu không thì chắc anh ta cũng đã đi Mỹ lâu rồi. Sau khi biết rõ câu chuyện, Đào Văn Long đưa cho Phạm Văn Thức địa chỉ của một người bạn tù khác cũng rất thân với cả hai người từ lúc còn ở trại Suối Máu. Đó là anh Nguyễn Đức Dũng, biệt danh Dũng “Sún”, đã đi định cư diện HO và hiện đang sống ở Washington DC. Đào Văn Long khuyên anh nên gởi thơ liên lạc và nói rõ ý định của mình cho Dũng “Sún” biết. Chắc chắc Dũng “Sún” sẽ liên lạc thêm được nhiều anh em khác làm đơn xác nhận cho anh để bổ túc hồ sơ.

Lập tức Phạm Văn Thức gởi ngay một lá thơ qua Mỹ cho Nguyễn Đức Dũng kể rõ mọi chuyện và nhờ anh này giúp đở. Đến đây thì hình như những đại nạn, rủi ro của gia đình anh đã thực sự chấm dứt. Mọi chuyện sau đó xảy ra thật nhịp nhàng, ăn khớp với nhau một cách tuyệt diệu. Sau khi nhận được thơ của bạn, Nguyễn Đức Dũng đã liên lạc được 8 bạn tù cải tạo khác cũng ở cùng trại Xuyên Mộc với nhau trước đây, cùng làm ngay một tờ đơn xác nhận rằng có quen biết với Phạm Văn Thức từ lúc còn ở trại cũ Suối Máu và cùng chuyển sang trại Xuyên Mộc vào năm 1979… tất cả khai biết rõ chuyện trốn trại năm 1980 của anh như thế nào… sau đó mang đi thị thực chữ ký và gởi bản chính qua toà đại sứ Hoa Kỳ ở Bankok, Thailand và một bản sao về cho anh. Năm 1997, phái đoàn Mỹ mở lại hồ sơ Pham Văn Thức, gởi giấy mời vợ chồng anh trở lại tái phỏng vấn và tuyên bố chấp nhận gia đình anh được định cư ở Mỹ theo diện nhận đạo HO 40. Gia đình anh lên đường đi định cư không bao lâu sau đó, chấm dứt một quảng đời dài lận đận tưởng như không bao giờ thoát ra được. Hiện anh Phạm Văn Thức đang sống an lành cùng gia đình tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania, Hoa kỳ.

Câu chuyện của anh Phạm Văn Thức, một người tù cải tạo trong nhóm 520 Xuyên Mộc kể trên, là một điển hình đáng cho chúng ta suy gẩm về ý chí kiên cường, quyết không chấp nhận sống dưới sự kềm kẹp của chế độ cộng sản… cũng như tinh thần nhẫn nại, sự chịu đựng bền bỉ, sẵn sàng hy sinh và bất chấp mọi hậu quả của anh để đánh đổi lấy cuộc sống TỰ DO mà anh hằng khao khát.

Vĩnh Khanh

Phố Đá Tròn, những ngày cuối năm 2007

http://www.vietnhim.com/dongnhim/showthread.php?t=21381