PHỤ NỮ VIỆT NAM DƯỚI SỰ THỐNG TRỊ CỦA CỘNG SẢN

LTS. “Ăn thịt người và giết người là quốc sách của Tàu cộng và Việt Gian Cộng Sản (VGCS). Chúng coi nhân dân là tài sản của chúng, giống như trâu bò, heo gà. VGCS từ thời Hồ chí Minh còn sống, đã thành lập một Uỷ Ban, mang tên UB Bảo Vệ Bà Mẹ và Trẻ Em. Hồ đã trao cho Phạm văn Đồng, thủ tướng nguỵ quyền VGCS kiêm Chủ-nhiệm của Uỷ Ban này, trách nhiệm tìm các thai nhi để làm thuốc bổ cho Hồ và bè lũ chóp bu của VGCS. Điều này đã được nhà báo lão thành Việt Thường tố giác từ năm 1991, khi ông được tỵ nạn tại Anh quốc, trong các sách và trong bài báo có tên “Phụ nữ Việt Nam dưới sự thống trị của việt-gian cộng-sản/ dưới chế độ Hồ chí Minh”. Hồn Việt Online xin giới thiệu lại bài báo nói trên đến quý độc giả. Những tội ác tầy trời như thế thì không thấy mấy tên ”dân chủ cuội” như Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Chí Thiện, Trần Khuê, Nguyễn Thanh Giang… lên tiếng tố cáo trong và ngoài nước!”

PHỤ NỮ VIỆT NAM DƯỚI SỰ THỐNG TRỊ CỦA CỘNG SẢN

Việt Thường

Hàng năm, cứ đến ngày 8-3, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lại tổ chức “ngày hội” của phụ nữ. Người phụ nữ Việt Nam được đề cao trong thơ, văn, ca nhạc, điện ảnh… chính thống. Các giới chức cộng sản có thẩm quyền, từ Hồ chí Minh đến Phạm văn Đồng, Nguyễn văn Linh và nay là Đỗ Mười, đều có bài viết về vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội Việt Nam. Bởi vì lý luận kinh điển của chủ nghĩa cộng sản là chừng nào phụ nữ chưa được giải phóng (khỏi công việc gia đình) và chưa được quyền bình đẳng về chính trị với nam giới – tức quyền bầu cử và ứng cử, thì cách mạng vô sản dù có nắm được chính quyền cũng mới chỉ là thành công một phần mà thôi. Tiếc thay, cái lý thuyết nghe đầy “nhân ái” như vậy nên đã lừa được không chỉ những người nghèo khổ, những phụ nữ đã từng là trung tâm cấu trúc gia đình mà ngay những trí thức, học giả uyên bác cũng bị lóa mắt. Thực tiễn của Việt Nam hiện nay đã cho thấy rằng người cộng sản hoặc đứng trên lập trường của người cộng sản thì trong mọi lĩnh vực của xã hội đều được giải quyết giữa lý luận và thực hành hoàn toàn trái ngược nhau. Cứ xét năm mục tiêu mà Hồ chí Minh và đảng của hắn đề ra cho nhân dân và đất nước Việt Nam thì thấy:

1) Gọi là một nước Việt Nam dân chủ nhưng thực tế lịch sử đã chứng minh chưa bao giờ nhân dân Việt Nam lại bị thống trị một cách độc tài, khát máu như dưới chế độ Hồ chí Minh và những người thừa kế; ghê tởm hơn cả thời Minh thuộc và Pháp thuộc;

2) Gọi là Cộng hòa nhưng thực tế Hồ chí Minh và những kẻ thừa kế còn “vua hơn cả vua”;

3) Gọi là tự do nhưng thực tế người dân bị tước trọn vẹn mọi quyền tự do như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng… trong mọi sinh hoạt xã hội, thực chất là cái gì?

Tư bản được tăng gấp đôi

Chế độ xã hội chủ nghĩa (hay cộng sản) là một chế độ độc đảng trị, lấy đấu tranh giai cấp, xóa bỏ bất công xã hội làm bình phong; lấy đàn áp, khủng bố làm phương tiện để gò ép quần chúng dưới sự thống trị của một dúm nhân vật chóp bu của đảng cộng sản; dùng các hội đoàn để quản lý quần chúng nhân dân. Cho nên khái niệm “dân chủ” và “tự do” hoàn toàn xa lạ trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Bởi vì ngay nội bộ đảng cầm quyền – tức đảng cộng sản – cũng không hề có dân chủ và tự do. Từ việc bầu ra các cấp ủy cho đến việc định ra đường lối chính sách và chỉ đạo thực hiện các chính sách ấy hoàn toàn nằm trong tay của các ủy viên bộ chính trị có thực quyền – thường là kiêm thêm ủy viên ban bí thư. Tất cả nhân sự còn lại, kể cả ủy viên ban bí thư cho đến dự khuyết trung ương chỉ là những kẻ thừa hành có quyền hạn ở các mức độ khác nhau tùy theo quan hệ “thân tình” với các ủy viên bộ chính trị có thực quyền. Ngay cả một vài nhân vật tuy đã được vào bộ chính trị nhưng cũng chỉ là cái bóng, cái tay nối dài của các ủy viên bộ chính trị có thực quyền và vẫn có thể bị quăng sọt rác nếu trót quên thân phận (như trường hợp Trần xuân Bách…). Một thí dụ điển hình về hình ảnh “dân chủ” và “tự do” của nội bộ đảng cộng sản Việt Nam là kỳ đại hội đảng lần thứ 4 (có Gobachev của Nga-xô tham dự), các đại biểu được cho học tập để bầu ban chấp hành trung ương và phải bầu thử. Bầu thử đến lần thứ 2 vẫn chưa vừa ý “lãnh đạo” nên Lê đức Thọ (trưởng ban tổ chức trung ương) và Trần quốc Hoàn (bộ trưởng công an) phải đến từng tổ hăm dọa là “ghi âm” các đại biểu khi phát biểu và lưu các phiếu bầu chuyển cho Ban bảo vệ đảng xem xét. Cho nên lần bầu thử thứ 3 đã khớp với ý kiến chỉ đạo của “trên” nghĩa là Lê Duẩn được cao phiếu nhất để từ bí thư thứ nhất chuyển danh xưng thành Tổng bí thư, hoàn toàn thắng thế phe Trường Chinh. Hai triệu đảng viên cộng sản chỉ được phép bầu (có chỉ đạo) ra hơn một ngàn đại biểu đi dự đại hội đảng – cơ quan quyền lực cao nhất của đảng (như ghi trong điều lệ), mà còn không được hưởng cái quyền “tự do” và “dân chủ” chỉ trong gần một tuần lễ đại hội thì hỏi rằng làm sao quần chúng nhân dân Việt Nam (ngay cả công nhân và cốt cán lẫn đảng viên thường) lại được phép biết đến “tự do” và “dân chủ” trong cuộc đời mình, dưới sự thống trị của một dúm đảng viên chóp bu cầm quyền!!!

Phụ nữ Việt Nam nằm trong phạm trù “quần chúng nhân dân Việt Nam” nên đương nhiên cũng không thể biết được mùi vị của các khái niệm “tự do” và “dân chủ” chừng nào nước Việt Nam còn bị CS thống trị. Bởi lý thuyết kinh điển của cộng sản coi “con người là tư bản quý nhất” (L’ home est le capital le plus précieux), nghĩa là so với các thứ khác như ruộng đất, trâu bò v.v… Còn Hồ chí Minh giải thích thêm cho đệ tử rằng: “nhân dân là vô tận”. Chính vì con người là “tư bản quý nhất”, vì đó là nguồn gốc sinh ra mọi loại tư bản khác, mọi giá trị khác cho nên người phụ nữ Việt Nam được Hồ chí Minh và đảng của hắn lôi ra khỏi vị trí “nội tướng” trong gia đình và được ban cho quyền bình đẳng như nam giới, nghĩa là làm cái việc như hiến pháp của nhà nước cộng sản ghi rằng: “Có nghĩa vụ và quyền lợi lao động”. Trong chế độ cộng sản, dù có tô màu bằng mọi uyển ngữ thì thực tế cho thấy thân phận người dân chỉ là “nô lệ” của tập đoàn cộng sản chóp bu cầm quyền. Mọi người chỉ được phép ước mơ và thực hiện cho sự hy sinh vì sự nghiệp của đảng và “bác” – tức một dúm chóp bu cầm quyền và Hồ chí Minh, chứ không được phép bàn bạc việc nước, được ước mơ ngồi vào vị trí cầm lái con tàu Tổ quốc, được xây dựng hạnh phúc cho đồng bào của mình, cho gia đình của mình và cho bản thân mình. Cho nên thực chất của cái mà Hồ chí Minh và đảng của hắn gọi là “giải phóng phụ nữ” chính là tước đoạt quyền xây dựng hạnh phúc gia đình và cá nhân của người phụ nữ, đưa lực lượng phụ nữ – chiếm ít ra là một nửa dân số – vào phạm trù “tư bản quý nhất” để tăng “tư bản quý nhất” đó lên gấp đôi một cách “nhẹ nhàng”. Như thế là chỉ cần một chữ ký ban bố sắc lệnh “giải phóng phụ nữ” và thi hành “luật hôn nhân và gia đình”, Hồ chí Minh và các đệ tử đã nhân đôi được lực lượng có “nghĩa vụ và quyền lợi lao động” để “xây dựng và hoàn thiện chủ nghĩa xã hội”, nghĩa là – xây dựng và hoàn thiện lối hưởng thụ vương giả – cho Hồ chí Minh và đồng bọn (như xây lăng cho cả cha con Hồ chí Minh; như bắt dân lục tỉnh đi lao động nghĩa vụ đào đất lấp sông xây biệt thự cho Lê Duẩn ở An Phú, Thủ Đức…). Còn một vấn đề nữa là cộng sản và chiến tranh như bóng với hình. Bởi chiến tranh là sức sống của cộng sản. Làm chiến tranh để cướp chính quyền, để củng cố chính quyền, để mở rộng bờ cõi thống trị. Cho nên lôi lực lượng phụ nữ ra khỏi tổ ấm gia đình, ra khỏi chức năng người mẹ, người vợ để trở thành lực lượng chủ yếu trong sản xuất và phục vụ sản xuất – tức là cấu thành nền tảng cho cuộc sống hưởng thụ của tập đoàn cộng sản cầm quyền – còn nam giới sẽ được sử dụng chủ yếu cho mục đích chiến tranh bành trướng, núp dưới cái tên mỹ miều là “cách mạng vô sản toàn thế giới”.

Phụ nữ tham chính

“Cơ cấu thành phần” là khái niệm về tổ chức, một quái thai “dân chủ” do chế độ xã hội chủ nghĩa (hay cộng sản) đẻ ra. Nghĩa là từ bộ máy của đảng (cộng sản) cho đến quốc hội (bù nhìn), chính phủ, các đoàn thể và thậm chí đến cả đoàn chủ tịch các hội nghị (kể cả cấp tổ), các cuộc mít-tinh v.v… thì về nhân sự phải đủ các thành phần nam, nữ, già, trẻ, người sắc tộc, quân sự, dân sự, công nhân, nông dân v.v… Nói theo ngôn từ của cán bộ tổ chức (cộng sản) là phải “đủ mâm đủ bát”. Trò hề này là sáng kiến của Hồ chí Minh nhằm “cụ thể hóa” cái gọi là “sự đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân xung quanh đảng (cộng sản) và bác (Hồ)”! Và, phụ nữ bao giờ cũng được Hồ chí Minh và những kẻ kế thừa hắn quan tâm cho “ngồi cạnh”, cho “chụp ảnh chung” – biểu hiệu cho việc “giải phóng” và “được bình đẳng” của phụ nữ!(?) Đó cũng là sự cụ thể hóa cái gọi là “dân chủ tập trung” của chế độ xã hội chủ nghĩa của Hồ chí Minh và những kẻ kế thừa hắn.
Người phụ nữ trong chế độ Hồ chí Minh vì đã được “giải phóng” và được “bình đẳng” nên đương nhiên có đại biểu của giới mình tham chính, có đại biểu của mình trong cơ quan lãnh đạo của các đoàn thể được đặt tên là “đoàn thể quần chúng”. Điểm qua những nhân vật được cho nổi lên, ta thấy có: Nguyễn thị Thập, Hà thị Quế, Đinh thị Cẩn, Trương thị Mỹ, Nguyễn thị Định, Nguyễn thị Bình, Nguyễn thị Hằng, Hồ thị Bi, Nguyễn thị Chiên, Cù thị Hậu, Lê thu Trà, Kim Hạnh…
Nếu tìm hiểu nguyên nhân sự nổi lên của những người đó thì thật là… buồn cho chị em phụ nữ. Bởi vì, không thiếu gì người vừa có lòng yêu nước vừa có trí thức nhưng chỉ được dùng có tính chất đối phó với thời cuộc, một thứ bù nhìn trong sân khấu “dân chủ, hòa hợp, hòa giải”. Đó là trường hợp của các bà như Trịnh thục Viên, ủy viên ban thường vụ của quốc hội khóa 1; Phan thị An (nguyên hiệu trưởng trường nữ trung học Hoài Đức, Hà-nội từ trước 1945) phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; bác sỹ Vũ thị Chín, phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ; bác sỹ Nguyễn thị Ngọc Phượng, phó chủ tịch (khóa 8); các anh hùng quân đội Nguyễn thị Chiên, Hồ thị Bi v.v… thì được dùng làm cái mồi “vinh hoa rởm” để lừa chị em cố mà hy sinh thật nhiều cho “đảng và bác”. Còn lại, số có quyền thực sự ở các mức độ khác nhau là ai?

– Đó là Hà thị Quế, ủy viên trung ương đảng từ khóa 3, từng giữ các chức phó ban kiểm tra trung ương đảng, phó ban tổ chức trung ương đảng, hội trưởng hội liên hiệp phụ nữ xuất thân từ du kích Yên Thế, từng là giao liên đặc biệt và bộ hạ thân tín của Trường Chinh.

– Đó là Đinh thị Cẩn, ủy viên dự khuyết trung ương đảng khóa 3, đã giữ các chức thứ trưởng thứ nhất kiêm bí thư đảng đoàn bộ y tế (thời kỳ bác sỹ Phạm ngọc Thạch làm bộ trưởng) rồi phó chủ nhiệm phụ trách thường trực ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em, xuất thân là cấp dưỡng (tức đầu bếp) của Hồ chí Minh.

– Đó là Trương thị Mỹ, phó chủ tịch tổng công đoàn Việt Nam (thời kỳ Hoàng quốc Việt làm chủ tịch), xuất thân là cần vụ (tức hầu phòng) của Hồ chí Minh.

– Đó là Lê thu Trà, phó chủ nhiệm thường trực ủy ban thiếu niên và nhi đồng, vợ thiếu tướng Lê Liêm, từng là chủ nhiệm tổng cục chính trị (trước Nguyễn chí Thanh), có bồ đỡ đầu là Nguyễn Côn, bí thư trung ương đảng kiêm phó thủ tướng (thời kỳ Phạm văn Đồng làm thủ tướng).

– Đó là Nguyễn thị Định, nhờ cặp bồ với trung tướng Trần Độ mà được thoát ra ẩn số, đẩy lên chức phó tư lệnh lực lượng vũ trang miền Nam (của CS trước 1975), được cho làm ủy viên trung ương đảng từ khóa 4 và thay Hà thị Quế trong chức chủ tịch hội phụ nữ.

– Đó là Nguyễn thị Bình, vợ lẽ của một đốc phủ sứ, ngán cảnh “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” nên được Nguyễn thị Thập giác ngộ theo cộng sản, bỏ chồng có cưới xin lấy một đệ tử của Nguyễn thị Thập và từ đó – nhờ có học – trở thành thư ký riêng của Nguyễn thị Thập (chủ tịch đầu tiên của hội phụ nữ, luôn cập bồ với Hồ và được Hồ cho chức ủy viên trung ương đảng từ khóa 2); được Thị Thập giới thiệu sang giữ chức vụ phó vụ lễ tân bộ ngoại giao. Nhờ ở vị trí này Thị Bình được bộ trưởng ngoại giao lúc đó là Xuân Thủy, bí thư trung ương đảng, để mắt tới, nên khi Xuân Thủy sang hội đàm Paris đã “lôi” Thị Bình đặt vào cái ghế bộ trưởng ngoại giao của Mặt trận giải phóng, đá Trần bửu Kiếm về vườn, để được gần nhau bàn bạc việc “thơ văn” và việc… nước. Từ đó Thị Bình được lên như diều và nay là phó chủ tịch Hội đồng nhà nước! (mặc dù nhà xuất bản quân đội cộng sản có cho in một cuốn sách phơi bày toàn bộ mánh khóe và sự sa lầy của Thị Bình trong mánh mung, tham nhũng khi giữ ghế bộ trưởng giáo dục).

– Đó là Nguyễn thị Hằng, xuất thân từ xã viên dệt chiếu ở hợp tác xã dệt chiếu cói thị xã Thanh Hóa. Đúng ngày máy bay Mỹ đánh phá thị xã Thanh Hóa, cô dân quân Nguyễn thị ằngHằngHằng bị thương ở ngực, cô dân quân Nguyễn thị Tuyển mặc dù nhỏ yếu nhưng đã vác được những thùng đạn nặng hàng tạ tiếp tế cho pháo binh và được đơn vị pháo binh tuyên dương công trạng. Báo Tiền phong (Hà nội) nêu gương cô Nguyễn thị Tuyển – Phóng viên ảnh của báo Tiền phong là Mai Nam đi “thực tế” Thanh Hóa thấy Thị Hằng cao đẹp, nét mặt như lai, cũng bị thương, chụp lên ảnh dễ “ăn khách” hơn nên đã chụp và đưa hình Thị Hằng lên… các báo. Nhờ đó Thị Hằng đã… lọt vào “mắt xanh” của bí thư trung ương đảng, phụ trách trưởng ban đối ngoại trung ương đảng, kiêm bộ trưởng, kiêm phó chủ tịch và tổng thư ký ủy ban thường vụ quốc hội Xuân Thủy. Thế là Thị Hằng được Xuân Thủy đưa vào chức ủy viên ủy ban đối ngoại của quốc hội kiêm ủy viên ban bí thư đoàn thanh niên lao động (cộng sản) Hồ chí Minh; được Xuân Thủy đề cử vào danh sách ban chấp hành trung ương đảng khóa 4 (nhưng Thị Hằng xin rút tên), được đưa sang giữ ghế thứ trưởng lao động và xã hội (thời kỳ này bị tố giác là buôn lậu thuốc lá ngoại) và khóa đại hội đảng kỳ 7 vừa xong được “trúng” ủy viên trung ương đảng chính thức!!!

– Còn Kim Hạnh, cô sinh viên của trường đại học Sài-gòn nhờ chống quốc gia trốn vào bưng làm cấp dưỡng (tức đầu bếp) cho Mai chí Thọ nên đã được giữ ghế tổng biên tập báo Tuổi trẻ (Sài-gòn)! Nay thì Kim Hạnh mất chức vì cho đăng lại tin của báo Nhân dân rằng Hồ chí Minh từng có vợ (nghĩa là không phải trai tân như Hồ và đảng của hắn tự hào), nhưng ở Việt Nam thì ai cũng biết đó là cái “cớ rẻ tiền” còn sự thực là phe Mai chí Thọ lung lay thì loại tầm gửi như Kim Hạnh tất phải rụng.

Qua những dẫn chứng về “người thật việc thật” kể trên, có thể kết luận rằng số phụ nữ tham chính trong chế độ cộng sản ở Việt Nam từ trước đến nay, loại trừ một số bù nhìn chắp vá cho cái áo rách “dân chủ”, hầu hết là kẻ ăn người ở của vài viên chức cộng sản chóp bu hoặc là “nhân tình nhân ngãi” của những nhân vật cộng sản có thế lực.
Từ Hồ chí Minh cho đến các đệ tử gần gũi của hắn là đều lớn tiếng kêu gào rằng trong chế độ cũ (phi xã hội chủ nghĩa), người phụ nữ là “đồ chơi”, là “đồ trang sức” cho đàn ông và giai cấp thống trị. Buồn thay, Hồ chí Minh và đảng của hắn đã “giải phóng” phụ nữ khỏi cái chế độ cũ ấy để bước vào chế độ Hồ chí Minh với thân phận vừa là “đồ chơi” vừa là “đồ trang sức” vừa là “nô lệ”.

Nữ nô lệ của thế kỷ 20

Ngày ban hành bộ luật “Hôn nhân và gia đình”, Hồ chí Minh đắc ý tuyên bố rằng thể chế chính trị ở Việt Nam là tiến bộ nhất vì là nước đầu tiên ở khu vực á-Phi đã xóa bỏ chế độ đa thê. Nhưng cũng chính Hồ chí Minh đã giới thiệu (không qua bầu bán) Lê Duẩn thay hắn giữ ghế bí thư thứ nhất của trung ương cộng đảng Việt Nam có lẽ vì… Lê Duẩn cùng lúc ba (3) vợ. Cũng chính hắn bổ nhiệm Lê đức Thọ cùng lúc hai (2) vợ, vào chức vụ trưởng ban tổ chức trung ương cộng đảng. Cũng chính hắn đưa ra danh sách bộ chính trị trong đại hội đảng cộng khóa 3 (1960) những nhân vật có vợ lẽ hoặc bồ nhí như Phạm Hùng (2 vợ), Hoàng văn Hoan (bồ nhí tên là Hoa, hiện ở Pháp); những nhân vật trong ban bí thư như Tố Hữu (bồ nhí), Nguyễn văn Trân (bồ nhí), Nguyễn Côn (bồ nhí), Văn tiến Dũng (bồ nhí), Xuân Thủy (bồ nhí); chủ tịch tổng công đoàn, kiêm viện trưởng viện kiểm sát tối cao, kiêm chủ tịch đoàn chủ tịch Mặt trận tổ quốc là Hoàng quốc Việt (bồ nhí). Được phép bỏ vợ già lấy vợ trẻ như Trần xuân Bách, Nguyễn đức Lạc, Cù huy Cận… Cho phép lấy thêm vợ lẽ như Trần huy Liệu, Nguyễn khánh Toàn, Hoàng minh Giám… Phải chăng những đảng viên thân cận của Hồ vẫn được phép đa thê? Và, thực sự trong con mắt của Hồ chí Minh và đảng của hắn, phụ nữ vẫn là “đồ chơi”… rẻ tiền nhất. Vì, hắn cũng hay quất ngựa truy phong.

Sau khi được ăn hai cái bánh vẽ của Hồ chí Minh là “được giải phóng” và “được bình đẳng”, người phụ nữ Việt Nam bị khoác vào cổ một lô gông xiềng “3 đảm”, “tay búa tay súng”, “tay cày tay súng”.
Trong “3 đảm” có hai khoản là “đảm đang việc nước” và “đảm đang việc xã hội”, nghĩa là thay người đàn ông làm lính và nhận gánh nặng lao động sản xuất trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và kinh tế quốc phòng cũng như sức nặng của sưu dịch – tức một năm tự túc lương thực đi dân công 3 tháng hoặc gia nhập các đội thanh niên xung phong thường trực.

Người phụ nữ xưa kia làm nhiệm vụ thờ chồng, nuôi con, vun vén gia đình ở vị trí “nội tướng” thì nay được Hồ chí Minh và đảng của hắn cho làm cùng lúc vừa là lính vừa là nông hoặc công nhân, vừa là phu phen tạp dịch.

Không chỉ ở lãnh vực sản xuất mà ngay trong lĩnh vực nghệ thuật, phụ nữ cũng được sử dụng như những nữ nô lệ của giới chức cầm quyền chóp bu. Các “cô văn công” tài sắc thường để mua vui cho “lãnh đạo” khi mệt mỏi, ốm đau và được dùng trong một số mưu đồ chính trị. Thí dụ: nữ ca sỹ Khánh Vân được theo Hồ đi ấn-độ chỉ vì nghe nói thủ tướng Nerhu và con gái là Indira Gandhi thích giọng ca của Khánh Vân. Xong việc, Khánh Vân đau ốm bị bịnh tâm thần cũng chẳng được chữa chạy và chết thật thảm khốc. Thúy Quỳnh (nay là giám đốc nhà hát nghệ thuật) là diễn viên múa, có chửa con so đã được năm tháng mà chỉ vì yêu cầu của Fidel Castro muốn có đoàn múa Việt Nam (cộng sản) nhân quốc khánh Cuba nên nhà cầm quyền Hồ chí Minh đã buộc Thúy Quỳnh phải “phá thai” và chỉ được nghỉ 10 ngày sau khi làm “đọa thai nhân tạo”, đã phải lên đường đi Cuba “phục vụ nước bạn”! ái Loan (chị ái Vân) một nghệ sỹ cải lương tài sắc, trước ngày cưới bị bắt đi vét bùn ở sông Tô Lịch do cống thành phố chảy ra nên bị chết vì bị uốn ván. Ca sỹ Tường Vi của đoàn văn công Tổng cục chính trị, người có giọng hát quyến rũ đã “được” anh chàng đại úy Koong-Le của Lào mê chết mê chết mệt. Mặc dù Tường Vi đã có chồng con, nhưng nhà cầm quyền cộng sản Hà-nội lúc nào cũng định “ghép đôi” để lợi dụng Koong-Le. May mắn sao đại úy một bước lên trung tướng Koong-Le bị ngã ngựa chính trị! Nguyễn thị Hằng (nay là ủy viên trung ương cộng đảng) được một đô đốc hải quân Nga-xô có “tình cảm đặc biệt” nên được bổ sung vào đoàn quân sự đi xin vũ khí về giết dân và đặc biệt là được “đi trước” và “về sau” đoàn.

Để chắp vá thêm cho tấm bình phong che đậy bộ mặt bán nước hại dân, Hồ chí Minh đích thân viết thư mời bà Hoàng thị Thế con gái cụ Đề Thám, ở Pháp về (1960). Sau khi chụp ảnh, quay phim, báo chí trong và ngoài nước đưa tin đã tới mức “quá đầy đủ” thì bà Hoàng thị Thế bị đưa về “lưu đày” ở Bắc-giang. Cũng may chính quyền ở tỉnh và huyện hầu hết là binh lính hoặc con em binh lính cụ Đề Thám nên bà Thế không bị khó khăn lắm. Thế là Hồ cho lôi bà về Hà-nội, ở một phòng thuộc lầu 2 nhà tập thể trong ngõ Khâm Thiên, tháng tháng ra Mặt trận tổ quốc lĩnh một số tiền vừa đủ khỏi chết đói. Bà Thế xin trở lại Pháp không được và đã chết già trong cô đơn và nghèo khổ.

Ngay “được” làm vợ của các “ông lớn” thì nhiều phụ nữ cũng vẫn chỉ như “con ở”; chẳng có chút bình đẳng nào trong quan hệ vợ chồng. Thí dụ như vợ chồng Trường Chinh, trong khi hắn ngồi ăn cơm thì bà vợ mặc áo dài đứng hầu cơm. Hay như Lê Duẩn, bà vợ cả được cho qua “gánh việc nước” ở sứ quán Việt Nam tại Bắc kinh (Trung cộng). Còn Xuân Thủy ngự tọa trong tòa vi-la liền tường với trường Nguyễn Trãi (cũ) ở đường Lý Thường Kiệt, sang trọng tiếp các Nguyễn thị Bình, Nguyễn thị Hằng v.v… để bàn “việc nước” ở nhà trên; còn bà vợ già răng đen, ăn trầu thuốc, lấy hắn ta từ khi Xuân Thủy còn thái dao cầu, tán thuốc Bắc ở ga Đa Phúc thì… ăn ngủ ở nhà ngang, chỗ xưa chủ Tây cho bồi bếp và chị hai ở! Nữ ca sỹ Diệu Thúy, giọng hát trẻ đang lên, vừa tốt nghiệp trường đại học âm nhạc Hà-nội, trong chuyến đi Chí-lợi – thời kỳ A-gien-đê cầm quyền – với bí thư thứ nhất đoàn thanh niên lao động (cộng sản) Hồ chí Minh là Vũ Quang, bị “ăn cơm trước kẻng” (tức ngủ trước khi cưới) khi ghé qua La Habana; về làm vợ Vũ Quang, không còn được hát “phục vụ” nhân dân nữa mà ngày ngày cơm nước, giặt giũ và tưới nước cho những giỏ phong lan do các chi đoàn thanh niên trong quân đội và thanh niên xung phong ở Trường sơn gửi biếu. Bà vợ già của Trần xuân Bách – là đảng viên lão thành – cùng hoạt động từ thời kỳ bí mật cho đến lúc bật mí, chồng làm chánh văn phòng trung ương đảng (cộng), chiếm một tòa vi-la đồ sộ tại Hà-nội, có kẻ hầu người hạ còn đông hơn của “tư sản mại bản”, lại có cả một cô “đầu bếp” mới 20 tuổi, đã tốt nghiệp trường trung cấp nấu ăn, phục vụ nhưng bà vợ già vẫn phải ở Nam-định làm “việc nước” và “xã hội”. Đùng một cái, từ bộ chính trị “phôn” về Nam Hà lệnh cho bí thư tỉnh ủy là Lê Điền phải cho tòa án tỉnh xử ly hôn khẩn cấp cặp vợ chồng “vừa là đồng chí vừa là phu thê” ấy để Trần xuân Bách kịp cưới cô đầu bếp 20 tuổi – bằng 1/3 tuổi của ông Bách – kẻo con biết bò vào dịp đầy năm cưới của mẹ.

Những thí dụ về “người thật việc thật” hay “con người mới xã hội chủ nghĩa” đó kể cả đời cũng không hết. Trên đây tạm dẫn chứng như là nền của bức tranh của ngày hội được “giải phóng” và “bình đẳng” của phụ nữ Việt Nam do “công ơn” Hồ chí Minh và cái đảng mafia của hắn đem lại.

Nhân dân là vô tận

Đầu đề trên là khẩu hiệu đầy “sáng tạo” của chính Hổ chí Minh khi phát triển khái niệm kinh điển của chủ nghĩa cộng sản rằng “người là tư bản qúy nhất”. Chính vì thế, Hồ chí Minh đã tung ra lệnh cho đảng của hắn là “dù có phải đốt cháy Trường sơn” hay “tát cạn biển đông” – một dạng khác của tư bản (bình thường) thì cũng phải giải phóng (tức thôn tính) miền Nam Việt Nam (còn hàm ý cả Lào và Cam-bốt) để thu được “tư bản quý nhất” là “quần chúng nhân dân” trong đó bao gồm “quần chúng phụ nữ”. Biểu hiện thành chính sách cụ thể cái tư tưởng “tàn bạo, khát máu” đó của họ Hồ. Trước năm 1975, phụ nữ ở cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam đều bị lợi dụng theo những phương thức khác nhau.

Ở miền Bắc, phụ nữ vừa là lính; vừa là lao động chính thay trâu cày bừa trên đồng ruộng, thay máy trong các công trường xí nghiệp; vừa là phu đi đắp đường, khẳn hoang, xây dựng các công trình phục vụ quân sự, hoặc có thời hạn – mỗi năm 3 tháng phải tự túc lương thực, hoặc phải thường trực – tức thanh niên xung phong. Người phụ nữ phải làm tất cả những việc nặng nhọc nhất, hoàn toàn không phù hợp với giới tính; bị bóc lột sức lao động tàn khốc dưới cái trò thi đua “làm thay cho đồng bào miền Nam”, làm thay cho “anh Trổi, chị Quyên” để phải lao động cả 3 ca/ngày và hoàn toàn không có ngày nghỉ suốt 3 tháng đi sưu như vậy trong mỗi năm. Còn nữ thanh niên xung phong? Được nuôi cơm… độn, một năm 2 bộ quần áo, được đi phép 10 ngày/năm, được lương tháng đủ ăn… những 2 tô phở theo giá mậu dịch quốc doanh (nếu là nam giới thì chỉ đủ tiền một lần hớt tóc). Điều đáng nói là chị em phải lao động không kể giờ giấc, hoàn cảnh, địa hình, tình trạng sức khỏe. Nghĩa là ngày kinh nguyệt cũng phải lội sông, ngâm bùn, gánh nặng; ốm bệnh cũng phải lao động; lao động không kể ngày đêm: từ làm đường ở Trường sơn cho đến phá bom nổ chậm; từ tải thương cho đến gánh vác súng đạn. ấy thế mà trong thực tế người nào cũng phải làm đơn “xin hiến” 10 ngày phép năm cho “đảng” và “bác” cho đến khi “cách mạng thành công” và còn thi đua “mặc áo cũ không lãnh áo mới” để tiết kiệm tiền của vào việc “đánh Mỹ-Ngụy”! Mỗi tháng còn vài lần nhịn ăn lấy gạo “giúp đồng bào miền Nam ruột thịt” (vì như sách, truyện của đảng cho biết: miền Nam đói khổ đến nỗi lính Mỹ còn phải “cưỡi trực thăng đi cướp từng bao gạo” và nhà buôn thì trộn hạt ny-lông vào gạo để bán)!!! Bị chôn vùi cả tuổi trẻ trong rừng sâu, bị lừa đảo niềm tin, bị tước đoạt sức khỏe và hạnh phúc, bị làm “trò giải khuây” cho những người lính “sinh Bắc tử Nam” trên đường hành quân… nên hầu hết nữ thanh niên xung phong bị bệnh phụ khoa, bị rong kinh, bị sốt rét rừng, bị bệnh đường ruột, bị tâm thần… mà không được chữa chạy, bị… phá thai chôn gốc cây rừng v.v… Có ai thoát về làng thì cũng… quá lứa lỡ thì! Hồ chí Minh kêu gọi thanh niên rằng: “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” cũng như bài “Thanh niên xung phong ca” có câu:

“Bác Hồ dạy chúng ta
Không có việc gì khó
Đào núi và lắp biển
Quyết chí cũng làm nên”

Nhưng chỉ có “thơ ghế đá” mới nói đúng số phận của nữ thanh niên xung phong:

“Em là thanh niên xung phong
Đắp đường, tải đạn, long đong tháng ngày
Đảng nuôi hai bữa một ngày
Cơm độn ba bát, muối đầy lòng tay
áo quần hai bộ đổi thay
Một năm đi phép mười ngày… “có lương”
Cho nên chẳng có người thương
Xuân tình chợt gặp giữa đường với nhau
Nói ra bảo kể khổ đau
Thời gian thấm thoát bước mau về già
Sốt rừng da mái, mắt lòa
Đảng cho giải ngũ về nhà ăn rơm!
Tuổi xuân chôn chốn Trường sơn
Nhiều cô thai nạo vứt chân cây rừng
Về làng chân bước ngập ngừng
Tương lai mờ mịt, gối trùng, lưng cong
Biết khôn đã chót vào tròng!!!

Hai chính sách nữa rất tàn bạo của Hồ chí Minh và cái đảng mafia của hắn đối với phụ nữ miền Bắc Việt Nam (kể cả một số vùng trong Nam gọi là “vùng giải phóng”) là đem phụ nữ làm cái mồi câu, làm vật khen thưởng mua bán (nhất là phụ nữ ở nông thôn): một là tổ chức theo lối cưỡng bức để buộc nữ thanh niên lấy chồng là thương bệnh binh – nhất là những người lính bị tàn phế nặng – làm chồng mà còn phải làm đơn tình nguyện “lao động nuôi chồng” không nhận một thứ trợ cấp nào. Chính sách tàn bạo này đã là nguyên nhân của biết bao vụ “vợ đầu độc chồng” cho thoát nợ đời hoặc người vợ đành… tự tử chết mà không nhắm được mắt. Hai là tổ chức cưới cho những thanh niên bị bắt lính trước khi nhập ngũ vài ngày nhằm trút gánh nặng lao động bên gia đình người tân binh lên đầu người phụ nữ, nhằm lấp lỗ hổng trong luật nghĩa vụ quân sự về khoản “miễn đi lính cho những thanh niên là con một trong gia đình”. Nhà cầm quyền Hồ chí Minh tổ chức lấy vợ cho thanh niên đến tuổi bắt lính và lý luận rằng: “Khi người thanh niên con một có vợ thì không còn là con một nữa vì vợ cũng là con trong gia đình nên không được miễn lính như luật nghĩa vụ quân sự qui định”!!! Còn nữa, đó là ràng buộc tình cảm người lính với “quê hương” để yên tâm đi chiến đấu cho “sự nghiệp của đảng và bác” vì cha mẹ đã có vợ “đảm đang” (khoản thứ 3 trong đường lối “3 đảm” của phụ nữ), hệt như ngón võ “tập kết ra Bắc” của năm 1954. Người phụ nữ vừa kịp hưởng tuần trăng mật với chồng nay sống trong sự chờ đợi còn nhức nhối hơn Pénéllope chờ chồng sau cuộc chiến thành Troie, bị cột cho sợi dây “vợ bộ đội cụ Hồ” để trói vào guồng máy “lao động quên mình” vì nước vì chồng! Chính nó là nguyên nhân đẻ ra bao chuyện “bi hài” của xã hội miền Bắc Việt Nam dưới chế độ Hồ chí Minh, cứ tưởng “như đùa”. Một thí dụ: bệnh viện C (bệnh viện phụ sản đầu ngành của miền Bắc Việt Nam) ở Hà-nội được một bệnh nhân từ Hà-bắc chuyển tới. Bác sỹ Thìn phó giám đốc bệnh viện – đã sống từ chế độ Bảo Đại, không thể nào ngạc nhiên hơn được khi biết nguyên nhân bệnh nhân bị nhiễm trùng nặng “chỗ kín” là do người chồng bệnh nhân, một tân binh lấy vợ được 3 ngày thì phải “ra trận”, vì quá ghen đã lấy kim chỉ khâu “chỗ ấy” của vợ lại (chắc vì chưa biết đến loại “thắt lưng trinh tiết” của nước Nga xưa)!!!

Điều đáng lưu ý nữa là chính cái cảnh “chồng Nam vợ Bắc” khổ hơn cả vợ chồng Ngâu (ít ra một năm được gặp nhau một lần) cộng với đời sống kinh tế khó khăn cùng cực và quyền sinh quyền sát của các cấp ủy đảng nên chị em vắng chồng trở thành đàn gà con trước cấp ủy đảng quạ. Nạn chửa hoang, phá thai từ nông thôn đến thành thị là chuyện “quá bình thường”. Người phụ nữ đi phá thai được “đảng và bác” bảo vệ tuyệt đối bí mật (như bí mật quốc phòng). Các cơ sở nạo thai chỉ biết nạo thai theo yêu cầu của người nạo, không cần một giấy giới thiệu nào, không được hỏi họ tên và “tác giả” của thai nhi. Sáng vào nạo, chiều ra về, cứ như đi lao động “thông tấm”, hàng xóm có tọc mạch cũng đành chịu. Các bào thai nạo ra được chế biến thành thuốc bổ, nghe nói còn hơn “lợn hà nàm”. Đó cũng là nguồn “lấy thu bù chi” của cơ sở nạo thai, tất cả trực thuộc ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em do chính thủ tướng Phạm văn Đồng làm chủ nhiệm và Đinh thị Cẩn, ủy viên dự khuyết trung ương cộng đảng từ khóa 3, xuất thân là đầu bếp của Hồ chí Minh, làm phó chủ nhiệm phụ trách thường trực. Thế là dưới chế độ Hồ chí Minh, tục “người ăn thịt người” được khuyến khích như quốc sách và phụ nữ ngoài chức năng là “đồ chơi”, là “đồ trang sức”, là “nô lệ” lại còn có nhiệm vụ “sản xuất” thêm “chất đạm” – tức thai nhi – cho xã hội!

Còn phụ nữ ở miền Nam thì sao? Tất nhiên Hồ chí Minh và cái đảng mafia đã triệt để lợi dụng thể chế chính trị ở miền Nam trước 1975 có lỏng lẻo và nhiều sơ hở, nghĩa là có việc độc tài, độc diễn, có việc dân chủ quá trớn, cùng với sự “nhẹ dạ” và “lòng yêu nước” của phụ nữ để lập ra những đội quân “tóc dài”. Những chị Quyên (vợ anh Trổi mà nhà thơ cung đình Tố Hữu “lộn” tên làm thơ khi gọi là “Trôi” lúc gọi là “Trồi”!), chị Tạ thị Kiều, chị Trần thị Lý v.v… được đề cao đến mức Tố Hữu hạ bút vẽ tàu bay… giấy cho chị Lý:

“Em là cô gái hay nàng tiên
Em có tuổi hay không có tuổi?
Tóc của em hay là mây là suối?…”

Nhưng cũng chị Lý ấy sau 1975 về ở Đà-nẳng đến tận 1991 vẫn khổ như ăn mày vì bệnh tật, lương thấp, chồng cũng là thương binh. Đảng bận hưởng thụ quên đã đành, ngay chính nhà thơ kiêm chính trị và kinh tế gia (loại 3 xu) Tố Hữu cũng quên luôn sau khi lĩnh một đống tiền nhuận bút về bài thơ. Chỉ có chị Quyên, nhờ được vào “bưng” ở với “chú” Nguyễn hữu Thọ và “chú” Trần bạch Đằng, nên được phóng viên báo Cứu quốc (Hà-nội) là Thái Duy đi công tác B (tức xâm nhập miền Nam) đổi tên thành nhà văn giải phóng Trần đình Vân, phỏng vấn viết một chuyện ngắn “người thực việc thực” được đích thân Tố Hữu đặt tên truyện là “Sống như anh”, nên sau 1975, vào lúc anh Trỗi được tạc tượng và được đặt tên cho đường phố Sài-gòn, chị Quyên được các chú kiếm cho một tấm chồng khác và được cho ngồi ghế giám đốc nhà hàng Vĩnh Lợi (đường Hàm-nghi, quận nhất, Sài-gòn). Đúng là có số “quý nhân phù trợ”, mệnh “giáp thọ giáp đằng”!

Còn số phận đội quân tóc dài? Xin dành để bạn đọc tìm trong truyện ngắn “Tượng đài” của Hoàng thiếu Phủ đăng trên tờ “Tuổi trẻ cười” hiện nay của Sài-gòn, rất đầy đủ.

Ngoài cái số đội quân tóc dài đó ra, phụ nữ miền Nam Việt Nam có chồng là sĩ quan, binh lính, nhân viên chính quyền Việt Nam Cộng hòa v.v… bị lừa đi tù (học tập cải tạo) cũng bị đảng mafia của họ Hồ theo đúng sách của đảng trưởng để “lợi dụng triệt để”. Đó là đem chị em ra làm phần thưởng cho tù nhân. Tất cả các trại tù của cộng sản Việt Nam đều áp dụng chính sách rằng tù nhân nào “cải tạo tiến bộ” sẽ được phép “ngủ với vợ mình 24 giờ, 48 giờ hoặc hơn” – tùy theo mức độ tiến bộ hoặc số lượng tiền đút lót công an. Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ chỉ có cái đảng mafia của Hồ chí Minh mới đủ vô liêm sỉ là đem vợ tù ra làm phần thưởng cho tù, chưa kể sự bẩn thỉu thú vật của lũ công an là chọc tường để rình xem vợ chồng tù ngủ với nhau để kháo thành chuyện cười của bọn chúng và trêu chọc người tù được ngủ với vợ mình!…

Sau sự “đứt phim” năm 1975, miền Nam được “hoàn toàn giải phóng” nên phụ nữ miền Nam được đi vào vết xe đổ của phụ nữ miền Bắc, nghĩa là vừa là “đồ chơi” vừa là “đồ trang sức” vừa là “nô lệ”. Nam thanh niên cũng được vét vào lính để “giải phóng Cam-bốt”, để khi trở về hoặc “lê trên nạng gỗ” hoặc nằm trong bệnh viện “chờ” một chị em nào đó dại dột nghe lời đảng “cõng về làm chồng… hờ”, may mắn lắm thì được hỏa thiêu cho vào lọ sành đem về cho gia đình, hoặc thất nghiệp đi lang thang ngoài phố “chiêm ngưỡng” các anh chị hải quan, thủy thủ tàu viễn dương, công an các loại và con cái giới quan lại đỏ nhậu nhẹt và khoe bộ cánh hợp thời trang! Và, phụ nữ lại gánh toàn bộ sức nặng của mọi loại hình sản xuất và phục vụ sản xuất của xã hội.
Con đường phụ nữ miền Nam phải đi sau lá cờ đỏ sao vàng hệt như phụ nữ miền Bắc trước đây, đã ai oán rằng:

“Chồng bị bắt lính phương xa
Mẹ cha cải tạo chết già rừng sâu
Ngày cày thay kiếp ngựa trâu
Đêm làm cái nệm để hầu quan viên:
– Đảng ủy, chủ tịch ưu tiên
Trưởng công an xã tiếp liền theo sau
ơn đảng, nghĩa bác dày sâu
Nhân dân thành đĩ, thành trâu hết đời
Thấu tình chăng, hỡi Đất, Trời?”

Nhiều chị em, chồng bị lừa đi tù (cải tạo), đã phải chịu sự cưỡng ép bán thân cho quan lại đỏ để yên thân nuôi con và có thể đi thăm nuôi chồng, như trong vụ án Hai Hiệp ở Đồng-nai, hay như bà chủ tiệm phở “Thủy tiên” ở phố Tự Do (Đồng khởi) Sài-gòn với tên Ngọc, chủ tịch phường… Ngay một diễn viên điện ảnh nổi tiếng, từng bị ghép là nhân viên CIA của Mỹ, cũng đành đến nhà riêng “chú” Cao đăng Chiếm (thứ trưởng cộng an, phụ trách khu vực miền Nam) cho nên mới được “chú Chiếm” viết lá thư tay cầm ra Hà-nội gặp riêng “chú” Phạm Hùng (bộ trưởng công an), nhờ vậy cô diễn viên có cái phận “Thúy Kiều” đó mới được Hồ tôn Hiến (của cộng sản chứ không phải của cụ Nguyễn Du) đặc cách cho thăm cả chồng sau và… chồng trước. Hơn thế, ông chồng sau còn được thả sớm hơn cả thượng sỹ canh cửa sân bay Tân Sơn Nhất và được… vào cả quốc hội làm đại biểu của dân (may thiệt).

Đau khổ của phụ nữ Việt Nam còn phải nhắc đến những người ra đi phải bỏ xác ngoài biển, phải chịu cảnh cưỡng hiếp của hải tặc, phải nằm chôn năm tháng trong các trại với bao nhục nhằn. Mà, tác giả những bất hạnh đó của phụ nữ vẫn là Hồ chí Minh và cái đảng mafia của hắn. Còn phải kể đến biết bao chị em bị bán làm nô lệ (dưới cái uyển ngữ “hợp tác lao động”) sang Nga, Trung đông v.v… trong cảnh mang con bỏ chợ. Được sự “chỉ đạo” của đảng mafia tác giả các văn tự bán nô lệ đó chính là Trần đình Hoan và Nguyễn thị Hằng – cô bồ tỉnh Thanh của tên lang băm cách mạng Xuân Thủy. Cho nên đến đại hội đảng mafia lần 7, cả Hoan lẫn Hằng đều được là trung ủy chính thức!

Phụ nữ với “mở cửa” và “đổi mới”

Năm 1986, vở hài kịch “mở cửa” và “đổi mới” được quảng cáo rùm beng. Những màn đầu tiên là những khách sạn, nhà hàng xưa kia bị đảng mafia đổi cho tên mới, nay lại “đổi mới” thành tên cũ, như ở Sài-gòn: Đồng khởi trở lại Continental, Hữu nghị trở lại Palace, 147 Đồng khởi trở lại Brodard v.v… và, ngay đó là các cuộc thi đủ loại hoa hậu được tổ chức với sự đỡ đầu của thương nhân nước ngoài. Kinh doanh đĩ điếm là nét đặc trưng của mafia. Cho nên cái đảng mafia của Hồ chí Minh cũng không ra ngoài quy luật của trò chơi mafia thông thường. Chỉ có điều nó được công khai hóa với “mở cửa” và “đổi mới”. Nếu xưa kia – trước 1975 – ở cảng Hải-phòng có những tổ chiêu đãi viên là nữ để phục vụ thủy thủ nước ngoài, kể cả thân xác, do cơ quan an ninh quản lý với lý do vừa thu ngoại tệ (dùng cho công tác gián điệp) vừa moi tin tình báo và tìm cộng sự viên (tức điệp viên) ở nước ngoài, thì nay lực lượng “chiêu đãi viên” nhiều gấp bội lần và công khai hóa, thí dụ như quán Lan Thành ở phố Nguyễn Thiệp, Sài-gòn (phố nối liền Đồng khởi – Nguyễn Huệ). Nếu xưa kia ở khu họp hành và nghỉ ngơi của trung ương đảng cộng mafia gồm những căn nhà kiểu “cottage” của Anh trên dẻo Hồ-tây có những nữ thanh niên được chọn lọc để mua vui cho lãnh đạo đỡ “buốt đầu” thì nay ngành nào, bộ nào cũng có nhà khách ở Sài-gòn, Đà-lạt và người phụ trách nhà khách kiêm việc “kiếm gái” cho lãnh đạo. Nhiều nhân vật nổi lên từ nghể ma-cô quốc doanh này, điển hình là tay Trường, hiện là giám đốc Culturimex của Sài-gòn – cơ quan thuộc bộ văn hóa thông tin của nhạc sỹ cung đình Trần Hoàn (quan thầy của Trịnh công Sơn).

Trong chính sách “mở cửa” và “đổi mới”, phụ nữ trở thành mặt hàng có thể nói là quan trọng của giới mafia cầm quyền. Chẳng có thế mà ngay giữa Sài-gòn, một cơ quan gọi là “tìm việc cho thanh niên” thuộc thành đoàn thanh niên do Lê văn Nuôi làm bí thư, và do thành ủy quản lý với Võ trần Chí, ủy viên bộ chính trị mafia, đứng đầu, đã công khai tuyển các nữ thanh niên và đánh lừa cho ra các khách sạn ven biển như Vũng Tàu “làm đĩ”. Giám đốc cái cơ sở ma-cô mafia quốc doanh đó là Nguyễn anh Dũng. Sự bung ra làm kinh tế đĩ điếm lan sang đến cả các ngành như đường sắt, thư viện, tòa án, bệnh viện v.v… đều lấy mặt bằng làm nhà hàng tuyển người đẹp, trẻ, nhẹ dạ để làm chiêu đãi viên (tức đĩ). Phụ nữ được từ Nguyễn văn Linh đến Đỗ Mười; Võ văn Kiệt dùng làm mồi câu “Việt kiều yêu nước” và thương nhân nước ngoài. Nhiều “Việt kiều yêu nước” đã “áo gấm về làng” lấy vợ lẽ (vừa là lẽ vừa ít tuổi) ở quê hương để tỏ rõ lòng yêu nước mặn nồng. Nhà cầm quyền nhắc nhở đến trường hợp tổng bí thư quá cố Lê Duẩn, 3 vợ, nên không gây phiền hà gì cho các “Việt kiều yêu… đa thê”. Phải chăng những người cầm quyền nhớ câu “trai anh hùng năm thê, bảy thiếp” và “bác” Hồ đã phong cho nhân dân Việt Nam là anh hùng, nghĩa là “sấm” cho đệ tử phải dùng võ “phục hồi đa thê” để phục hồi kinh tế, củng cố “chính quyền…” độc đảng cộng sản?

Nhiều “Việt kiều yêu nước” thăm quê hương trở ra hải ngoại không ngớt lời khen Hà-nội, Sài-gòn thay đổi nhiều lắm! Nhưng, thay đổi cái gì? Bộ mặt các thành phố, thị xã ở Việt Nam hiện nay nhiều màu sắc chói chang là nhờ lực lượng phụ nữ bị chính sách “mở cửa” và “đổi mới” của cộng sản lôi từ nông thôn ra để nhập vào đạo quân thần Bạch Mi, với áo quần hợp thời trang do… buôn lậu nhập vào, đã giết chết hàng nội địa. Số liệu công khai của nhà cầm quyền Đỗ Mười, Võ văn Kiệt dự đoán có khoảng 600 ngàn điếm ở Việt Nam, hiện nay. Con số đó còn rất xa với sự thật. Nó có thể xấp xỉ số lượng đảng viên của tổng bí thư Đỗ Mười hiện nay, nhưng có điều tốc độ phát triển của nó nhanh gấp nhiều lần tốc độ phát triển đảng (cộng sản), bởi nó được sự quan tâm của cả “ba giòng thác cách mạng” là đảng cộng sản Việt Nam, thương nhân nước ngoài và Việt kiều “yêu nước”.

Thay kết luận

Người dân miền Bắc Việt Nam đã thấy các trò hề về các ngày lễ từ trước 1975. Cho nên đã lưu hành trong dân thơ ghế đá về các ngày “hề” của cộng sản, rằng:

“Nhớ ngày mùng 3 tháng 2
Liềm búa lễ đài máu đỏ mưa sa
Nhớ ngày mùng 8 tháng 3
Đàn ông đi lính, đàn bà đi phu
Nhớ ngày 26 tháng 4
Thanh niên chết trận hoặc tù quanh năm
Nhớ ngày mùng 1 tháng 5
Công nhân đào đất xây lăng “bác Hồ”
Hai mươi tháng 7 lập lờ
Thương binh, tử sĩ được tờ “vẻ vang”
Bước sang tháng 8 rõ ràng
Phất cờ khởi nghĩa, xóm làng mừng vui
Nào ngờ vận nước còn xui
Mồng 2 tháng 9 ngậm ngùi Việt Nam
Aí quốc lại hóa Việt gian
Chiến tranh xâm lược tương tàn từ đây
Con côi, vợ góa, mẹ gầy
Rừng xanh tàn úa, máu đầy biển Đông…”

Chừng nào còn là chế độ cộng sản độc đảng trị thì nhân dân Việt Nam, nhất là phụ nữ, không thể nào có tự do, hạnh phúc được. Cái gọi là “mở cửa” là mở cửa cho khách tìm hoa lạ và “đổi mới” là đổi mới đối tượng đi tàu bay giấy: khi chiến tranh thì nam thanh niên là những anh hùng “Phù Đổng”, và bây giờ với “kinh tế thị trường” (có chỉ đạo) là đạo quân hàng triệu phụ nữ phấn son trong các vũ trường, khách sạn, nhà hàng.

Với Việt Nam lúc này có hai cách nhìn khác nhau: một, của những người có ngoại tệ mạnh nhằm hưởng thụ “tứ khoái” và hai là của đại đa số nhân dân Việt Nam còn nghèo khổ, không có tự do, không có hạnh phúc. Cái thứ nhất nhìn từ ánh đèn vũ trường, bàn tiệc nhà hàng, qua đôi vai trần của người phụ nữ bán thân xác. Cái thứ hai nhìn qua những túp lều chắp vá, qua bãi rác, qua đồng ruộng bùn lầy, qua rừng hoang tàn, qua bờ hè v.v… Cho nên nghe một người “bàn” về chuyện Việt Nam – dù người nước ngoài hay Việt kiều “yêu nước” hay cò mồi cơ hội hay bồi bút văn nô – đều dễ dàng nhận ra chỗ họ đứng để ngắm con tàu Việt Nam.

Còn đại đa số nhân dân Việt Nam, những người dân đen bất hạnh bị thống trị bởi cái đảng mafia của Hồ chí Minh thì vẫn sáng suốt thấy rằng:

“Ông Anh, ông Kiệt, ông Mười
Dở khóc, dở cười biết chọn ông nao
Ông nào ông nảo ông nao
Một đồng một cốt làm sao bây giờ
“Cửa mở” ra phải giấy tờ
“Đổi mới” nhìn lại vẫn thờ mấy ông
Đèn cù cứ chạy lòng vòng
Dân chủ cái còng, tự do đói ăn
Hạnh phúc chú cuội cung trăng!!!”

Tháng 2-1993

Việt Thường

http://www.hon-viet.co.uk/VietThuong_PhuNuVN_duoisucaitri_CS.htm

PHÉP VUA THUA LỆ ĐẢNG

PHÉP VUA THUA LỆ ĐẢNG.

– TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net) –

Theo tài liệu báo Tiền Phong trong nước ngày 15 tháng 5 năm 2009 (xem phần phụ đính ), do ký giả Đặng Vương Hạnh, có cuộc phỏng vấn Hữu Thọ, nhân vật khá tiếng tăm, được coi là” sừng sỏ” trong bộ chính trị trung ương đảng, với gương mặt cằn cổi như da cam héo của một CÔNG THẦN đảng Cộng Sản, giờ đây nói ra những điều CẦN THÔNG suốt sau thời gian dài hết lòng đóng góp công sức xây dựng cho một đảng siêu cướp, ngụy danh” cách mạng” để ăn cướp cạn, mang súng đạn Nga Tàu để giết hại dân lành.

Đây là những lời được coi là nói thật trong một giây phút” động não”, vì người Cộng Sản có truyền thống là” không bao giờ nói thật” với dân, đồng đảng, gia đình và tự xét về bản thân; tức là người Cộng Sản cũng nói dối ngay chính họ nữa; tuy nhiên qua lời” phát biểu” của một nhân vật từng” phét biểu” gần suốt cuộc đời, như là lời” một phút tâm tình người Hà Tỉnh”, trong việc” phản ánh” cái gian dối, mà trước đây trong cái cao trào cách mạng, nhiệt tình lên cao như Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, một thời nịnh nót của Nguyễn Tuân, và những kẻ xẻ dọc Trường Sơn hồ hởi phấn khởi:” chào em Cô gái LAM HỒNG” bỗng nay trở thành” cô gái LÔNG HÀM”, có ngực và có cả râu mọc lún phún, là cái” tình huống” bất thường như câu sấm:

” Chừng nào thằng ngốc làm vua.
Thế gian cạo trọc, thầy chùa để râu”.

Hữu Thọ, người” đầu ngành” một tổ chức có nhiều quyền hành, gọi là Trưởng Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương, là người có tầm kiểm soát những” bức xúc” từ con người trong đảng, với cái” tư tưởng hướng dẫn cho hành động”, và từ đó, đưa đến những” đấu tố” lẫn nhau. Cái Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương thời Hồ Chí Minh, là” nghĩa địa văn học” từng chôn vùi biết bao tài năng đất nước qua nhiều cuộc thanh toán, khủng bố văn thi nghệ sĩ miền Bắc, để bắt ép tất cả cái gì thuộc về văn hóa phải” nắm tay nhau đi theo tấm bản chỉ đường của chủ nghĩa Marx Lenin” và chui lòn” dưới háng” theo cái suy tư của một thằng ít học, gian ác, với cái gọi là” tư tưởng Hồ Chí Minh” hầu kiếm tem phiếu và nhất là những người còn sống sót phải biết sợ như Nguyễn Tuân, một số văn thi sĩ trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm.

Được biết, trong hệ thệ thống đảng quyền Cộng Sản có một số tổ chức đều có gắng liền với hai chữ” trung ương” như Ban Ca Múa Trung Ương, trước đây do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm” đầu ngành” khá lâu, còn Ban An Ninh Trung Ương được thành lập thời Hồ Chí Minh và sau 1975 do Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng Công An chỉ đạo, là một” cơ chế khủng bố” ngay cả những đảng viên Cộng Sản và những nhân vật tăm tiếng: ám hại Phan Khôi, Nguyễn Bính, Thụy An, bác sĩ Nguyễn Văn Thủ, đại tướng ngố Nguyễn Chí Thanh ( bị bắn từ sau gáy chết ngay tại hầm trú ẩn ngay trong vụ phi cơ ném bom ở Tây Ninh), dùng thuốc độc chích vào người của Hồ Tùng Mậu, giết luôn Trần Đăng Ninh, thủ tiêu bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ( trong lúc đang làm công tác nghiên cứu bịnh ho lao của bộ đội trên đường Mòn Hồ Chí Minh), sau nầy có thêm Đinh Bá Thi và Lý Ban, thượng tướng Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái…

Những cán bộ” nồng cốt” như thế mà con bị thủ tiêu, nên những ai chưa tỉnh” cơn trường mộng du” để cùng Việt Cộng” hòa hợp hòa giải” và gần đây cùng với” Việt Cộng để đòi đất, đảo, vùng biển” do Việt Cộng hiến, nay đòi Trung Cộng, là chuyện ruồi bu, lọt vào quỷ kế của bọn Việt Cộng, có ngày trở thành nạn nhân của ban nầy, giờ đây thì Tổng Cục Chính Trị 2 do Đặng Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh thay thế. Thời Hồ Chí Minh, có một ban, nhưng không ai nói đến, nhưng rất quan trọng, có thễ gọi là” Ban Dắt Gái Trung Ương” với” nghiệp chuyên” đi tìm gái về phục vụ cho Hồ Chí Minh và đồng bọn. Còn cái Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương, ngoài nhiệm vụ” chủ yếu” là kiểm soát tư tưởng, còn có ban” bói toán” gồm một số thầy bói, chuyên coi” phong thủy” hướng nhà cán bộ, mồ mả cán bộ cấp cao chết, để con cháu vẫn tiếp tục” ngồi trên đầu dân chúng”, nghe đâu trong nầy có một nhân vật tên Trần Khuê, là một trong những người” lập công dâng Bác” khi cố vấn cho Hồ Chí Minh để chòm râu dài như hình” ông tiên trong hiệu thuốc Tàu”, hình như trong hiệu thuốc XỨC LÁT cũng có ông tiên, mà theo giới thầy bói cho là muốn làm vua suốt đời, phải có râu như các vua Tàu…

Những” bức xúc” của Hữu Thọ khi nhìn thấy cái cơ chế của đảng Cộng Sản, hiện nguyên hình đảng cướp từ lâu, thế mà ông ta vẫn còn mù trường kỳ, nay bỗng ” thức giấc đại đồng” khi nhìn thấy” núi xương, sông máu, biển mô hôi” của hàng triệu” nhân dân” cạnh những sự sản ” vĩ đại” và núi đô la Mỹ càng ngày càng vung cao, như bài ” Như có bác trong ngày vui đại thắng” của đứa con trai mù tâm trí Phạm Quỳnh là Phạm Tuyên, ngây ngô ca tụng kẻ đã giết cha, anh mình, bắt chị dâu làm thân nàng Kiều, từ tay Trần Huy Liệu đến tên chó chết Hồ Chí Minh, đã hiến dâng cả cuộc đời bất minh, thích chơi gái còn trinh, mà gọi là” làm cách mạnh quang vinh” thật là đáng khinh, hắn là loài ma quỷ yêu tinh.

Trong vấn đề giám sát, phòng chống” tham nhũng” quan trọng như” phòng chống dịch tể, cúm gà, cúm heo..” mà theo Hữu Thọ phải” rốt-ráo”: Thanh tra ngoài da, giám sát đến thịt, điều tra đến xương” thì mới mong” đạt chất lượng giám sát”. Dịch cúm gà, nạn chuột…. được trị bằng” nghị quyết” nhưng vần đề” dịch tham nhũng” thì biết bao nghị quyết ban hành từ thời tổng bí thư nầy đến tên khác lên thay đề trở thanh vô dụng, lý do là tham nhũng xuất phát và được nuôi dưỡng từ gốc Trung ương. Khi nhìn về cái” tình huống thanh tra” như câu” phê bình như nói láo, báo cáo như nói chơi”, nên Hữu Thọ than rằng:

-Phê bình cấp trên bị trù ếm.
-Phê bình ngang cấp sợ bị mất đoàn kết

-Phê bình cấp dưới sợ bị mất phiếu,

hóa là khỏi phê bình ai là” không sợ bị mất cái gì” cũng như” biểu tình tại gia” là không sợ công an tới nhà chụp mũ là” chống lại đảng và nhà nước” và nhất là” biểu tình tại tâm” là chắc ăn nhất, có công an nào tài ba mà lục soát cả” trong óc” của mọi người đâu?

Hữu Thọ có đưa ra câu chuyện gặp một người giàu có, gọi là Đại Gia, chắc là người Việt hải ngoại và được người đó nói thẳng về cái chính sách trước sau như một của đảng Cộng Sản Việt Nam:” Giàu thì ghét, nghèo thì khinh, thông minh thì diệt. Em trót vừa giàu và vừa thông minh, đáng chết 2 lần, nên không sống quê hương được”.

Đây là điều mà những ai chưa mở mắt, trở về làm ăn với Việt Cộng, sau thời gian” bốc lột” nhân dân mình, họ hưởng lợi nhiều và bị Việt Cộng” đánh tư sản” như Úc kiều Nguyễn Trung Trực, Vua chả già Hòa Lan Trịnh Vĩnh Bình….

Từ trước đến nay, đảng Cộng Sản Việt Nam có chính sách trước sau như một là:” dùng tham nhũng để giữ đảng”, dùng cán bộ tham nhũng, vừa bảo vệ quyền lợi cá nhân, gia đình, để làm” lực lượng bảo vệ đảng”, nên khi mà:

” Tham nhũng Chết.
Cộng Sản Diệt”.

Do chính sách nầy mà nhân dân Việt Nam phải nay lưng ra để trả lương cho hệ thống đảng và nhà nước từ” hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc”, nên đảng và nhà nước” khỏi cần NO trả NƯƠNG thích hợp” mà tất cả đều có” nhân dân NO”, dù nhân dân thường ĐÓI. Nhân dân Việt Nam và thế giới không ngạc nhiên khi nhìn thấy mức lương căn bản của một tên thủ tướng như Phan Văn Khải, với 260 Mỹ kim mỗi tháng, thế mà hắn có trong trương mục nước ngoài hàng tỷ Mỹ Kim, nên trong nước có hai chữ” ĐẦU TIÊN” tức là” TIỀN ĐÂU” khi gặp cán bộ, lúc ĐỦ THỦ TỤC là cán ngố” hồ hởi phấn khởi” lấy tiền THỤC VÔ TỦ”. Tham nhũng trấn đảng, từ cơ sở địa phương, từng” hộ công an” đến học đường….nên nơi” đào tạo mầm non”, giới” kỷ sư tâm hồn” có óc sáng tạo lẫn tối tạo, đẻ ra hàng chục lệ phí, có nơi còn tăng tới 40 loại tiền, đè lên đầu phụ huynh nghèo, mà đảng gọi là:” giai cấp vô sản”. Đây cũng là lối” thanh lọc học đường hiện đại”, thay vì” lọai bỏ học trò thuộc các nguồn gốc phản động” như câu:” học tài thi lý lịch” nay thì” cán bộ giàu cho con học, dân nghèo cho con nghỉ đi làm lao động” cũng là tiêu chuẩn giáo dục không bao giờ thay đổi:” Hồng hơn chuyên”. Nhìn cái chính sách nuôi tham nhũng, nên Hữu Thọ nói thiệt:” Việc thực hiện kê khai tài sản bây giờ rất phức tạp, không chỉ có nhà đất, còn các tài sản khác, rồi tài sản gơỏi nước ngoài”. Đây là phản đề của câu tuyên truyền lừa đảo của đảng rất phổ biến:” cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” nay thành:” Tham nhũng bất chính, lấy công cho tư”, nên toàn đảng, từ trên xuống dưới đều:

” Thi đưa vơ vét tối đa.
Gom tiền, nhà, đất, đô la làm giàu”.

Ngày nay ở Việt Nam có câu tục ngữ mới:” có làm mới có ăn” tức là có vẽ ra công trình, công việc, mới đụt khoét được, qua những vụ án PM 8, vụ Xa Lộ Đông Tây là điển hình, các công ty nước ngoài lẫn người Việt quay về, cũng phải biết” hối lộ” mới được giấy phép, thi công….rồi từ cứu trợ, từ thiện như vậy thì:

” Có những bàn tay toàn lông, nhám nhúa.
Bao phen làm bạt vía dân lành.
Khắp đảng ta đều là tham nhũng”.

Nếu đảng hết tham nhũng thì lấy ai bảo vệ đảng, nên quốc sách tham nhũng luôn được” bảo vệ như con ngươi trong tròng mắt”, Hữu Thọ thành thật khai báo:” Ai cũng thấy cần sự minh bạch và trong công tác giám sát càng phải tính đến chuyện đó, nhưng vấn đề giám sát cán bộ hiện còn bị ràng buộc nhiều thứ lắm. Động đến lãnh đạo cao cấp là chạm đến ngay cả một tổ chức, chứ không phải chỉ có cá nhân người đó”.

Truyền thống và cũng là” cơ sở cơ bản” của đảng Cộng Sản Việt nam là” vơ vét, vơ vét, đại vơ vét” như lời Hồ Chí Minh, được toàn đảng, toàn cán thực hiện, là thứ” tư tưởng Hồ Chí Minh” vĩ đại qua cái gọi là Dân Chủ Tập Trung: ” Như các cô các chú có đồ đạt tài sản gì đó, thì các cô các chú là chủ, đó là dân chủ. Các cô các chú không biết giữ, tôi giữ dùm cho. Tôi tập trung bỏ vào rương. Tôi khóa lại và bỏ chìa khóa vào túi tôi đây, Đó là Tập Trung”.

Thượng tá Tám Hà nói sau khi ra hồi chánh trong trận Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968, được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đưa lên hệ thống truyền thanh quốc gia, nay trở thành tục ngữ: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hảy nhỉn kỷ những gì Cộng Sản làm”, nên đảng Cộng Sản Việt Nam hô hào chống tham nhũng, tức là đảng nuôi tham nhũng, phát triển kinh tế là đang suy thoái….nhưng khi người Cộng Sản là làng, tức là thê thảm lắm. Đảng cũng đặt ra những cơ quan nghe quan cũng” giựt con mắt” như bán giám sát, thanh tranh….nhưng đây chỉ là hình thức cho vui, chứ thật ra đảng là trên hết, nên Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu:” thà mất nước chứ đừng để mất đảng, phải bảo vệ đảng như bảo vệ con người trong tròng mắt”. Đảng chủ trương” lấy tham nhũng làm quốc sách” thì các ban chống tham nhũng, thanh tra, giám sát…. đều từ đảng mà ra, thì đây là vở kịch lói vô duyên chớ chẳng có tác dụng gì:

” Thanh tram giám sát ỳ xèo.
Toàn là một lũ, như mèo dài đuôi”.

Như ông Boris Yelsin nói:” đảng Cộng Sản không thể sử đổi, tốt nhất là bỏ phức nó đi”. Do đó, Việt Cộng không bao giờ có” cải thiện nhân quyền, tự do tôn giáo..” như những ngôn từ ngoại giao của các nước cần đến Việt Nam làm ăn, hay là những lời tuyên truyền của bọn gián điệp nằm vùng, tay sai hải ngoại cho là:” Việt Cộng bây giờ khác hơn hồi trước”, để cổ động” hòa hợp hòa giải theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhằm thôn tín cả hải ngoại.

-Hòa hợp hòa giải với Cộng Sản là” đầu hàng vô điều kiện”.
-Liên hiệp với Cộng Sản là tự sát.
-Sống chung với Cộng Sản là tiếp tay nuôi đảng cướp, tiếp tục gây tội ác, bán nước.
-Dính dáng làm ăn với Cộng Sản là phản bội tổ quốc, đồng lỏa với đảng cướp.

Đề phòng bất cứ tổ chức nào như băng đảng Việt Tân, trong khi mọi người đều coi đảng Cộng Sản là thành phần khủng bố, bán nước và tên quốc tặc Hồ Chí Minh là tội đồ dân tộc với hơn 10 triệu nạn nhân từ 1930 đến nay, thì băng đảng Việt Tân lại chủ trương:” Đảng Cộng Sản là thành phần dân tộc và Hồ Chí Minh có công với đất nước” . Chính lý do đó mà mặt nạ của Việt Tân rớt xuống từ lâu, rõ ràng là cánh tay nối dài của Việt Cộng ở hải ngoại, đương nhiên là bị dân chúng hải ngoại, là nạn nhân của đảng Cộng Sản và Hồ Chí Minh phản ứng chống lại./.

Trương Minh Hòa
20.5.2009

PHỤ ĐÍNH

Thứ Sáu, 15/05/2009, 14:53
Giám sát nhưng phải dám nói!
Tiền Phong – Bên cạnh việc kiểm tra, thanh tra, công tác giám sát ngày càng được chú trọng, sắp tới, Bộ Chính trị sẽ ban hành quy chế giám sát trong Đảng. Tiền Phong trao đổi với nguyên Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa T.Ư Hữu Thọ xung quanh vấn đề này.

Ông Hữu Thọ nói:

Tôi đã tham gia hai khóa T.Ư. Trong một kỳ đại hội, có ý kiến đề nghị thành lập Ủy ban Kiểm tra T.Ư do đại hội bầu nhưng không thành. Nhiều người muốn thực hiện việc này vì T.Ư quyền lực rất lớn nhưng ai kiểm tra, giám sát T.Ư?
Bây giờ cứ nói toàn Đảng giám sát T.Ư, như thế rất mơ hồ. Phải có cơ chế như thế nào để giám sát.
Không phải chỉ giám sát quá trình thực hiện cương lĩnh chính trị, điều lệ Đảng mà còn cả việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng cho nên phải có một cơ quan giám sát do đại hội bầu mới có khả năng giám sát Ban Chấp hành T.Ư. Tuy nhiên lúc đó còn nhiều ý kiến khác nhau nên vấn đề này bị gác lại.

Nên xem xét cả đơn thư nặc danh
Trong bối cảnh tình hình mới hiện nay, đề cao chức năng giám sát là hoàn toàn đúng. Những mục tiêu cần tập trung giám sát bao gồm việc quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản hiện đang nổi cộm; vấn đề sử dụng ngân sách, chi tiêu công; cấp phép đầu tư; quản lý xây dựng cơ bản và giám sát những người đứng đầu.
Tôi nghĩ Ủy ban Kiểm tra T.Ư hiện nay đang thể chế hóa, quy chế hóa những nội dung mà văn kiện Đại hội X đã quy định, tức là giám sát những gì, quy trình giám sát ra sao.

Có lần gặp một doanh nghiệp thuộc hàng đại gia, tôi hỏi sao không trở về đóng góp cho quê hương, ông ấy nói với tôi một câu khiến tôi rất trăn trở: “Tỉnh em thói thường giàu thì ghét, nghèo thì khinh, thông minh thì diệt. Em trót vừa giàu lại vừa thông minh, đáng chết đến hai lần nên không sống ở quê hương được”. Nếu còn tồn tại tâm lý như thế thì người tài rất khó có chỗ dụng võ

– Ông Hữu Thọ
Thanh tra, giám sát nói chung đều là những việc khó. Người ta bảo: “Thanh tra ngoài da, giám sát đến thịt, điều tra thì đến xương”. Trong việc thanh tra, giám sát thường gặp một vấn đề là đơn thư nặc danh. Từ trước đến nay ta không xem xét đơn nặc danh, nhưng cá nhân tôi rất băn khoăn về chuyện này.

Có hai nguyên nhân khiến người ta viết đơn thư nặc danh: Một là, những người vu cáo muốn giấu tên; hai là, trong cơ chế như chúng ta hiện nay, người ta ngại ký tên mình vì sợ bị trù dập. Cho nên có những đơn thư nặc danh có nguyên nhân, động cơ rất chính đáng nhưng vì người ta sợ bị trù úm nên không dám ký tên. Theo tôi, chúng ta nên xem xét cả những đơn thư nặc danh nếu trong đó nêu những vấn đề cụ thể.

*Trước đây, các cơ quan chức năng vẫn tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra nhưng tại sao gần đây lại đề cao vấn đề giám sát như vậy?

Nói đến chức năng giám sát trước hết phải hiểu khái niệm giám sát. Giám sát trong Đảng là gì cũng phải có định nghĩa. Đã giám sát trước hết anh phải sát cái đã, phải sát cuộc sống. Sự hiểu biết cũng phải sát cuộc sống, bởi lẽ lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay rất rộng và phức tạp.
Cơ quan chính quyền nào cũng có những ban cán sự Đảng hoặc Đảng Đoàn hay các tổ chức quần chúng. Với tư cách Đảng, tôi có thể giám sát anh vì có thể giám sát các cơ quan chính quyền trên cơ sở tổ chức Đảng. ( TinParis. Đây nói rỏ là Đảng CSVN nắm tất cả quyền hành trong tay ).Chức năng, quy trình, đối tượng, cách thức giám sát như thế nào, khả năng giám sát ra sao cần phải quy định rõ.

Lĩnh vực nào cũng cần có chuyên môn rất sâu, cán bộ giám sát phải là người am hiểu những lĩnh vực đó thì mới đủ khả năng phân rõ được đúng sai. Chẳng hạn lĩnh vực tài chính công đòi hỏi phải có sự hiểu biết rất sâu về tài chính, về luật.

Quan trọng nhất là giám sát rồi có dám nói không vì có những người đứng đầu là cấp dưới của anh nhưng cũng có người đứng đầu ngang cấp, thậm chí, trên cả anh. Vậy anh có dám nói một cách thật sự không? Có những việc cá nhân dám nhưng tập thể đó có dám hay không, nhất là khi đụng đến ông to nào đó hoặc đụng đến uy tín của cả một tập thể? ( TinParis. Đối với cán bộ CSVN , Đảng trên hết, hơn cả quyền lợi của Đất Nước )

Các triều đại phong kiến trước đây có chức gián quan là những người can ngăn nhưng cũng có giám quan là những người giám sát việc thực thi quyền lực. ( TinParis. Hữu Thọ chưởi Đảng CSVN còn thua thời kỳ phong kiến ) Khi người ta có quyền lực bao giờ cũng có khả năng lộng quyền, cho nên phải quy định cụ thể để buộc anh thực thi đúng quyền hạn chứ không được nhút nhát nhưng đồng thời cũng ngăn ngừa sự lộng quyền.

Vì thế, tôi rất ủng hộ việc ban hành quy chế giám sát trong Đảng. Việc gọi một ủy viên T.Ư lên làm việc là quyền của Ủy ban Kiểm tra T.Ư. Anh vi phạm kỷ luật Đảng, tôi có quyền hỏi nhưng, đôi khi họ muốn làm nhưng ngại. Giám sát là việc cực kỳ khó và phức tạp nhưng không phải không làm được. Vấn đề là phải có kiến thức, sát với thực tiễn và, về mặt ý thức, phải dám dũng cảm đấu tranh vì chân lý, vì kỷ luật Đảng.

Sợ cấp dưới vì lo mất phiếu
Theo ông, nếu có đội ngũ giám sát có kiến thức, tâm huyết và dũng cảm, liệu chúng ta có thể hạn chế được những vụ tiêu cực gây bức xúc dư luận như PMU 18, PCI…vừa qua không?

Thực ra không phải đến Đại hội X mà các Đại hội VIII, IX đã có chủ trương về việc giám sát người đứng đầu rồi. Nếu người đứng đầu tốt thì không bao giờ để quân của mình, tập thể mình lãnh đạo xấu cả vì, trước hết, là hỏng việc, thứ hai là người đó phải chịu trách nhiệm cá nhân. Khổ nỗi trong cơ chế của ta là có khi người đứng đầu lại không được quyết định tất cả. ( TinParis. Ai đây? Bộ chánh trị TU Đảng ? )Ta muốn nhưng vẫn chưa dám làm.

Thứ nhất do sự nể nang lẫn nhau hay ngại xử lý mà mất uy tín của cả một tập thể ( TinParis. Lại bênh vực Đảng! ); Thứ hai mới thực sự khó xử là giữa công và tội, tình và nghĩa. Ta thường vẫn nói công thì thưởng, tội thì phạt, kỷ luật tùy mức độ vi phạm. Về lý là thế nhưng làm rất khó.

Tôi nói trường hợp một vị chủ tịch UBND tỉnh ở miền Trung bị kỷ luật chủ yếu do vợ là một đầu mối buôn rượu lậu ở cửa khẩu Lao Bảo. Tôi từng chiến đấu ở Khe Sanh biết ông này trong chiến tranh từng được mệnh danh là Hùm Xám Đường 9 chứ không phải loại xoàng.
Ngày xưa cùng là đồng đội chiến đấu vào sinh ra tử, bây giờ anh ở cấp có thẩm quyền quyết định sinh mạng chính trị của tôi, anh có nghĩ gì đến thời gian sống chết có nhau?
Chuyện tình và nghĩa đâu phải chuyện đơn giản. ( TinParis. Điều nầy chứng tỏ CSVN đâu có luật Pháp ) Bác Hồ còn nói phải có lý có tình cơ mà. Vấn đề đấu tranh, phê bình và tự phê bình tôi đã nói nhiều lần. Bây giờ phê bình cấp trên thì ngại bị trù úm; phê bình ngang cấp thì sợ bị mất đoàn kết; phê bình cấp dưới thì sợ mất phiếu. Cho nên có tâm lý sợ cấp dưới, từ giờ đến đại hội các cấp, nhiều cán bộ lãnh đạo sợ cấp dưới chứ không phải cấp dưới sợ cấp trên vì nó liên quan đến chuyện phiếu bầu.

Cụ thể câu chuyện cán bộ sợ cấp dưới là như thế nào, thưa ông?

Về chuyện phiếu bầu, tôi từng tâm sự với một số đồng chí lãnh đạo cao cấp rằng trong tình hình hiện nay tôi thích anh nào đạt 60-70 phần trăm phiếu hơn những anh phiếu cao tới 90-100 phần trăm, bởi kết quả như vậy đáng tin hơn. Khi Ban Tổ chức T.Ư hỏi ý kiến về chiến lược cán bộ, tôi cũng đã phát biểu vấn đề này.

Trong nhiều trường hợp phiếu bầu không liên quan đến năng lực mà liên quan đến tình cảm yêu ghét. Do vậy, bỏ phiếu chưa chắc chọn được đúng người tài. Thứ hai, lá phiếu cũng chỉ mang tính chất thăm dò còn quyết định ra sao phải do lãnh đạo.

Đó là quy trình từ trước đến nay, giờ vẫn chưa thay đổi. Dù chỉ là thăm dò nhưng ít vị lãnh đạo nào dám vượt qua chuyện thăm dò đó cho nên phiếu thăm dò nghiễm nhiên trở thành phiếu quyết định. Điều này rất đáng suy nghĩ và cần phải thay đổi.

Công tác cán bộ của ta cũng còn nhiều điều phải bàn. Có lần gặp một doanh nghiệp thuộc hàng đại gia, tôi hỏi sao không trở về đóng góp cho quê hương, ông ấy nói với tôi một câu khiến tôi rất trăn trở: “Tỉnh em thói thường giàu thì ghét, nghèo thì khinh, thông minh thì diệt. Em trót vừa giàu lại vừa thông minh, đáng chết đến hai lần nên không sống ở quê hương được”. Nếu còn tồn tại tâm lý như thế thì người tài rất khó có chỗ dụng võ.

Giám sát không có vùng cấm
Đã có quy định về việc cán bộ, đảng viên giữ chức vụ nhất định phải kê khai tài sản. Theo ông có nên đưa vấn đề này vào nội dung giám sát không?
Cần phải nhớ rằng tài sản cá nhân thuộc về bí mật cá nhân mà không xã hội nào động đến bí mật cá nhân vì vi phạm nhân quyền. Nhưng một khi anh đã bước chân vào cơ quan quyền lực, ở cấp nào thì phải kê khai tài sản. Việc thực hiện kê khai tài sản bây giờ cũng rất phức tạp, không chỉ có nhà đất mà còn các tài sản khác, rồi tài sản gửi ở nước ngoài. ( TinParis. Điều nầy mọi người đều biết từ hàng chục năm nay rồi )

Ta cứ nói dân kiểm tra nhưng dân làm sao kiểm tra được. Anh có mấy miếng đất, tài khoản gửi ngân hàng này ngân hàng kia đứng tên người khác, làm sao dân biết? Dân làm sao biết được mặt mũi gói thầu Dung Quất như thế nào để giám sát.

Phải thẩm quyền đến cỡ nào, trình độ cao cỡ nào, mới đủ khả năng giám sát. Bây giờ những kẻ tham nhũng ngày càng mưu mô, tinh vi và am hiểu luật pháp chứ không phải kiểu tham ô thô thiển như mấy tay thủ quỹ, thủ kho ngày xưa đâu.

Ông vừa nói người ta có thể có vô số cách để che giấu tài sản cá nhân như cho vợ con, họ hàng, người thân đứng tên chẳng hạn. Vậy quy chế giám sát có nên nhắm tới những đối tượng trên?

Cán bộ phải báo cáo công khai tài sản với tổ chức Đảng và những cơ quan anh ứng cử. Nếu giấu giếm nhưng sau này phát hiện anh có sai phạm thì phải kỷ luật. Việc có nên coi vợ con, người nhà của cán bộ có chức quyền như đối tượng giám sát hay không cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng.

Tại sao nhiều luật của ta cứ luôn phải sửa đổi, bổ sung? Chính vì thủ đoạn ngày càng tinh vi. Người ta tìm mọi cách lách luật, còn những người làm luật cần phải bổ sung để bịt những lỗ hổng. Đây là cuộc đấu tranh thường xuyên, xã hội nào cũng thế thôi.
Việc ban hành quy chế giám sát là điều đáng mừng. Làm được như vậy thì không cấp nào có thể loại mình ra khỏi đối tượng bị giám sát và không có vùng cấm nào cả. Đấy thực sự là tiến bộ nhưng còn rất nhiều việc phải làm. Tuy nhiên cũng đừng hy vọng trong một nhiệm kỳ có thể làm tốt ngay mà phải làm dần từng bước một.( TinParis. Trên 34 năm rồi , chừng anéo mới làm đây ? Chắc đợi đến Tết Congo)
Hiện nay không phải chúng ta không có những cơ quan có chức năng giám sát như MTTQ tham gia giám sát cán bộ ở khu dân cư chẳng hạn nhưng hiệu quả không cao. Theo ông, đấy là do thiếu chế tài hay vì nguyên nhân gì?

Giám sát ở khu dân cư là điều tốt nhưng nội dung còn nhiều bất cập, vẫn chỉ loanh quanh những chuyện để ý lặt vặt nhưng xã hội hiện nay đâu có như ngày xưa. Bây giờ giả sử họ nhận phong bì, chuyển khoản hoặc có cổ phần đâu đó làm sao kiểm soát nổi.

Tôi cũng sống ở khu dân cư thì thấy việc giám sát ở khu dân cư mất hiệu lực chính vì sự nể nang. Sống cùng nhau, cùng sinh hoạt tổ dân phố, đi ra đường hàng ngày gặp nhau, nhiều thứ ràng buộc cho nên, tâm lý người Việt, bên cạnh những cái tích cực cũng có mặt tiêu cực. Người Việt trọng tình hơn trọng lý vốn là một cơ sở nhân văn nhưng hiện nay lại đang là một cản trở của sự minh bạch và pháp quyền.

Ai cũng thấy cần sự minh bạch và trong công tác giám sát càng phải tính đến chuyện đó nhưng vấn đề giám sát cán bộ hiện còn bị ràng buộc nhiều thứ lắm. Động đến lãnh đạo cấp cao là động chạm đến uy tín của cả một tổ chức chứ không phải chỉ cá nhân người đó. ( TinParis.Lại chưởi Đảng!)

Đánh giá con người lại càng phức tạp, bởi lẽ con người trong chính có tà, trong tà có chính cho nên ngay người tà cũng có phần chính, mình phải trân trọng và phải khuyến khích để cho phần nhỏ nhoi ấy tăng lên.
Xin cảm ơn ông.

Đặng Vương Hạnh Thực hiện

http://tinparis.net/vn_index.html

GHPGVNTN- Thích Đôn Hậu – Giết Đồng Bào Huế Tại Khe Đá Mài Mau Than 1968

GHPGVNTN- Thích Đôn Hậu – Giết Đồng Bào Huế Tại Khe Đá Mài Mau Than 1968:

GHPGVNTN- Thích Đôn Hậu – Giết Đồng Bào Huế Tại Khe Đá Mài 1968 from ditmehochiminh on Vimeo.

http://www.youtube.com/user/thoisu2008