BẢN CHẤT CỘNG SẢN VN

BẢN CHẤT CỘNG SẢN VN

Nguyễn Văn Minh

Câu chuyện kể lại dưới đây đã xẩy ra từ hơn ba mươi năm nay rồi. Nhưng với tình hình nhiều sinh hoạt mang tính cách cá nhân, hội đoàn, cơ quan v.v… trong cộng đồng người Việt hải ngoại ở khắp nơi hiện nay, như mọi người đều đã biết, chúng tôi thấy câu chuyện vẫn còn có ít nhiều giá trị. Vì thế xin mạnh dạn cống hiến quý vị, nhằm cung cấp thêm chút ít chứng liệu cụ thể về “Bản Chất Cộng Sản.”

Sau khi “được” đưa ra “học tập” cải tạo tại Yên Bái gần hai năm,, vừa ăn cái Tết 1978 xong, thì một buổi sáng, khi tập họp đi lao động, viên Trại Trưởng xuất hiện, ra lệnh cho chúng tôi ngồi xuống. Ông ta mở một cuốn tập gọi một hơi khoảng hơn 400 anh em cải tạo chúng tôi bảo ngồi qua một góc sân, dõng dạc tuyên bố:

Đây là những anh em thời gian qua đã học tập cải tạo tốt, đạt tiêu chuẩn. Nay được đưa đến một nơi có điều kiện học tập tốt hơn, tiếp tục học tập trong thời gian ngắn nữa, trước khi được về với gia đình.

Tôi may mắn lọt được vào trong số hơn 400 anh em học tập cải tạo “giỏi” này! Tội nghiệp cho một số bạn đồng cảnh đã tỏ ra thất vọng vì chưa được chấm điểm “đạt tiêu chuẩn.” Có anh đã hăng hái tình nguyện xin đi, nhưng đựơc trả lời: Anh chưa đủ tiêu chuẩn!

Sáng hôm sau, 6 giờ, chúng tôi khăn gói quả mướp lền đường, qua bờ tả ngạn sông Hồng, lên tàu lửa. Đoàn xe nặng nề chuyển mình đi về hướng Bắc. Xế trưa, xuống tàu, qua bên bờ hữu ngạn, đi sâu vào khoảng hơn cây số, chúng tôi dừng lại “đóng quân” tai trụ sở một hợp tác xã. Ngày hôm sau đi lao động ngay. Cũng lại vào rừng chặt tre, chặt nứa. Không cần nghỉ ngơi gì hết! Lao động đạt tiêu chuẩn rồi mà!

Chừng mười lăm ngày sau, nhổ “trại”. Điểm“đóng quân” địa danh là gì tôi không biết, vi chưa kịp tiếp xúc dò hỏi dân địa phương. Nhưng có điều chúng tôi biết được là phía sông đối diện ( phía bờ tả ngạn) bến đò khu chúng tôi “đóng trại”, nước sông chảy thành hai dòng, một trong, một đục; một dòng chảy xuôi, một dòng chảy ngược.

Anh em chúng tôi lại vượt sông qua bờ tả ngạn. Cũng lại lên tàu lửa, tiếp tục đi lên hướng Bắc. Cũng khoảng xế trưa, tàu lửa dừng, xuống tàu, lại vuợt sông qua bờ hữu ngạn! Một đoàn xe Molotova chờ sẵn, đưa anh em chúng tôi đi sâu vào phía núi, qua hai ngọn đèo, một cao và dài cỡ đèo Hải Vân, một thấp và ngắn hơn. Trời chạng vạng tối thì chúng tôi được “đổ” xuống tại cũng một trụ sở Hợp tác xã. Anh em chúng tôi từng đội, mỗi đội một góc sân, nằm ngả nằm nghiêng qua đêm. Bên trong trụ sở dành cho Ban Chỉ huy và bộ đội áp giải. Nhìn qua ngó lại, thấy chỉ còn chừng 300, khoảng hơn 100 không biết đã “rớt” ở đoạn đường nào?

Sáng hôm sau, chúng tôi được chia thành hai toán, mỗi toán hơn một trăm, đi sâu vào thêm 7 cây số nữa, một toán dừng lại, trong đó có tôi; toán kia tiếp tục vào sâu hơn nữa; sau đuợc biết toán này vào đóng trại cách chúng tôi chừng 4 cây số. Và nơi chúng tôi “đóng quân” cách bờ hữu ngạn sông Hồng không dưới 40 cây số.

Chúng tôi đóng trại trên khu đồi trọc trong một thung lũng, xung quanh núi cao bao bọc. Không một bóng người Kinh. Xa xa về phía Tây, cách nơi chúng tối đóng trại, theo tầm nhìn, ước chừng 6, 7 cây số, trên sườn một ngọn núi cao có một làng dân tộc Tầy. Gần chúng tôi hơn, về phía Đông, một làng dân tộc Mường, dân số không đông, nhiều người nói tiếng Việt rành rõi. Người Tầy chúng tôi không được gặp bao giờ, nhưng người Mường, hàng ngày đi lao động, nhiều khi chúng tôi di qua làng của họ, họ tỏ ra khá có cảm tình với đám “tù cải tạo.”

Sau hai ngày dựng những dãy lán lợp bằng ni-lông thấp lè tè, cao vừa tầm người ngồi, giường nằm là “thảm” cỏ và mặt đất “phằng phiu” tự nhiên của núi rừng. Chúng tôi bắt đầu, đội bạt đồi san đất, đắp nền; đội vào rừng đốn cây, chặt tre, nứa, cắt tranh về làm nhà. Công việc (theo lời đám sĩ quan cán bộ) rất khẩn trương, nên phải lao động theo đúng tinh thần XHCN: “Thi đua làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm. Cảm thấy chưa vừa, làm thêm Chủ nhật!” Nhưng làm đêm sợ tù bỏ trốn, nên chúng tôi chỉ “được nêu cao tinh thần thi đua” vào các ngày Chủ nhật thôi! Không những chúng tôi chỉ thấm thía đến tận xương tủy sự “vinh quang” của lao động trong cái xã hội XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, mà anh em tù cải tạo chúng tôi còn hăng hái “chia sẻ” nỗi “khó khăn chung” của đất nước, nên tất cả đều “hạ quyết tâm” mỗi ngày chỉ ăn ba bữa, sáng một chén khoai mì lát phơi khô, thường là được ướp mùi ẩm mốc cho thêm hương vị! Ngày lễ, bửa ăn sáng thịnh soạn hơn, một chén bắp hầm, có anh cắc cớ đổ ra đếm được 350 hạt. Còn hai bữa ăn chính, mỗi ngày như mọi ngày, hai chén bo bo chưa xay vỏ lụa và một chén canh “đại dương” (nước muối). Nhờ tinh thần lao động và hy sinh của chúng tôi “cao cả” như thế, nên chỉ hai tháng sau khi chúng tôi được đến chốn “địa đàng” này, thì những người to con, vạm vỡ như anh Trần Mộng Di, nguyên Quận Trưởng các quận Bình Chánh và Đức Tu cũng đã được mang một hình hài giống hệt như các “vị thủy tổ” của các cu Mác, cu Lê, cu Hồ…

Công việc kiến thiết “doanh trại” để tự nhốt mình của đám tù cải tạo chúng tôi, tiến triển đều đặn, tốt đẹp. Không mấy ngày, mỗi buổi sáng khi tập họp đi lao động, chúng tôi không được viên Trại Trưởng ca ngợi khích lệ. Hơn một tháng sau, cuối tháng ba, đột nhiên thấy vắng bóng ông ta. Có “tù” thắc mắc, nhưng được “tù” khác giải thích: thân phận cải tạo thì cứ lo mà lao động tốt, hy sinh đi. Ai chỉ huy, ai là trại trưởng cũng không bo bo với canh đại dương thì cũng đại dương canh với bo bo thôi. Thắc mắc làm chi cho mệt!

Đầu tháng 5, một buổi sáng chúng tôi tập họp đi lao động, viên Trại Trưởng tái xuất hiện, ông ta lớn giọng:

Tôi công tác ở Trung Ương vừa về, thấy chế độ ăn uống của anh em hiện nay là không được. Ăn uống như thế làm sao mà lao động! Tôi đã phê bình các cán bộ và khiển trách bộ phận hậu cần. Tôi đã lệnh cho cán bộ hậu cần vào hai làng bên cạnh, dân bán thứ gì, lợn gà, chó mèo, trâu bò, mua tất, về thịt cho anh em ăn để có sức mà lao động. Chúng ta phải sớm hoàn tất nơi ăn chốn ở để còn thi hành kế hoạch “trên” giao phó.

Mấy tuần lễ sau, khi một tuần, khi hai tuần, tù cải tạo lại được thưởng thức món thịt trâu nấu muối, mỗi phần được hai miếng thịt bằng hai ngón tay. Màn kết thúc đời một con trâu với tù cải tạo là bộ da của nó. Bộ da trâu đem thui cho cháy hết lông, cạo qua mấy chỗ bị cháy, sắt từng miếng cũng bằng ngón tay và cũng “hầm” với muối, mỗi phần được một miếng, ăn dẻo dẻo, dai dai, nhai muốn sái quai hàm, nhưng cũng ngon đáo để!

Giữa tháng 6, trong bữa cơm trưa, anh Thiếu tá Chính ở đội bên cạnh đến nói nhỏ: Sáng nay đi lao động tụi tôi gặp anh Xã Trưởng Mường, anh ta nói: “Mừng cho các anh nhá! Chúng tôi mới được học tập, Tết Độc lập năm nay Đảng và Nhà nước sẽ thi hành Chính sách với các anh. Các anh sẽ được về xum họp với gia đình.”

Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây để nói lý do anh Chính ưu tiên cho tôi biết tin này. Số là hồi cuối tháng 5, một hôm tôi may mắn thực hiện sớm được chỉ tiêu chặt 6 cây vàu lớn. Vỉ đem về nộp tất cả cho trại trong buổi sáng, thì buổi chiều cũng không được nghỉ mà còn nguy hiểm cho anh em, là từ lần sau, chỉ tiêu có thể bị tăng lên. Tôi tập trung cây trên giữa đoạn đường về trại, ngồi nghỉ. Trong khi nghỉ ngơi, theo niềm tin của mình, tôi thầm thỉ cầu xin Ơn Trên cứu giúp anh em chúng tôi. Vì nếu chúng tôi phải sống trong tình trạng cùng cực này một thời gian ngắn nữa thôi, chắc chúng tôi sẽ không chịu đựng nổi. Dứt lời xin, tôi nghe nói trong đầu: “Cuối tháng 7, các con sẽ được ra khỏi nơi này.” Mừng quá, về trại, cũng trong bữa cơm trưa, tôi cho một vài anh em, trong đó có anh Chính, biết.

Sang đầu tháng 7, một tù cải tạo dân “tạch tạch tè” (Truyền Tin), được từ quan đến lính của bộ đội “cu Hồ” nhờ sửa hết “đài” (radio) đến đồng hồ toàn là thứ “mác” Liên Sô hoặc Trung Quốc “vĩ đại”, được anh bộ đội cùng nghề và là nhà cung cấp hàng cho “cửa tiệm” của anh, bật mí: “Tối hôm qua, Trại vừa nhận được điện Trung Ương lệnh chuẩn bị cho các anh ra khỏi đây, giao doanh trại cho địa phương.” Tin tức được tù cải tạo truyền tai nhau rất nhanh!

Khoảng giữa tháng 7, tin “tối mật” cũng từ “cửa tiệm” chuyên sửa “đài & đồng hổ” tiết lộ: “Chúng mình sẽ được trao trả cho một nước thứ 3. Quân nhân, cán bộ Hành chánh, đang học tập cải tạo ở tất cả các trại, sẽ được tập trung về Trung Tâm Huấn Luyện Quuốc Gia Vũng Tàu cũ, và được đưa ra tàu của nước thứ 3 đậu ngoài hải phận quốc tế. Dân chúng được học tập là chúng mình được về với gia đình, để họ khỏi hoang mang khi biết chúng mình được đi ra nước ngoài.” Từ hôm tin “tối mật” này được thẩm thấu đến tai tù cải tạo, mặt mũi anh nào anh nấy có phần “sáng sủa” hẳn ra.

Sáng 19 tháng 7, như thường ngày, tù cải tạo tập họp trước sân trại nhận dụng cụ (dao, cuốc) đi lao động, viên Trại Trưởng xuất hiện, ông ta cho chúng tôi ngồi xuống, và với giáng điệu nghiêm trọng, ông ta nói:

“Hôm nay tôi báo một tin rất vui mừng cho anh em: Như Trại đã nói vói các anh, khi dời Yên Bái lên đây, là chỉ để thử thách các anh thêm một thời gian ngắn, trước khi cho các anh về đoàn tụ với gia đinh. (Viên Trại Trưởng này tên Nguyễn Lại, thượng úy, nguyên là Trại Phó trại Một, Yên Bái. Trong khu vực Yên Bái có 10 trại cải tạo). Qua thời gian mấy tháng thử thách, việc học tập của các anh đã đạt tiêu chuẩn. Tết Độc Lập này Đảng và Nhà nước sẽ thi hành chính sách, cho các anh về đoàn tụ với gia đình. Vì tình hình khó khăn chung, chúng ta không có đủ cơ giới để tất cả cùng hành quân một lần ( không có đủ xe để di chuyển một lần), nên chi có số anh em có chuyên môn, cần phải về Sài gòn kịp trước ngày 2 tháng 9 để nhận công việc, và những anh em đau ốm, sẽ hành quân bằng cơ giới, còn tất cả chúng ta sẽ hành quân bộ. Những anh em tôi gọi tên sau đây, hôm nay ở nhà, không phải lao động, còn các anh em khác đi lao động bình thường”. Mở cuốn số cầm trong tay, ông gọi hơn ba chục anh, trong đó có mười mấy anh gốc Công binh và Quân cụ, số còn lại là thành phần đau ốm.

Buổi trưa tôi đi lao động về, vừa vào đến chỗ nằm, thấy anh Giậu, Thiếu tá Công binh, người nằm cạnh tôi, đang xếp dọn áo quần vào ba-lô. Anh Giậu chưa kịp trả lời câu hỏi của tôi: “Sao? Bao giờ các cậu đi?”, thì viên cán bộ quản giáo đi tới, thấy anh Giậu đang gấp cái áo choàng (over coat) rất đẹp, anh mua khi đi học công binh ở Mỹ, gia đình gửi ra, anh mới nhận được chừng mươi ngày trước, y nói: “Vào trong ấy đâu có lạnh mà đem theo đồ này đi làm gì cho nặng?” Hai đứa tôi cùng hiểu ý anh chàng muốn gì, anh Giậu nhìn tôi như có vẻ cầu cứu, tôi nói: “Thưa cán bộ, trong Nam tuy không lạnh đến mức cắt da cắt thịt như ngoài này, nhưng mùa lạnh cũng có nhiều ngày lạnh không kém ngoài này bao nhiêu.” Có lẽ anh chàng hiểu rằng chúng tôi sẵn sàng đem những thứ nặng như cái áo này đi theo, không “quẳng lại cho ai đó lượm” nên lặng lẽ bỏ đi.

Buổi tối, sau khi cơm nước xong, số anh em ngày hôm nay được ở nhà thu dọn đồ đoàn, được gọi tập họp, được phát cho mỗi người 2 gói lương khô của quân đội Trung cộng “anh em”, một đồng tiền Hồ, và được tiểu di: Thời gian hành quân (di chuyển) phải giữ kỷ luật thật nghiêm chỉnh, phải tuyệt đối tuân lệnh cán bộ hướng dẫn. Những người vi phạm kỷ luật trong thời gian này, sẽ không được cấp giấy ra trại.

Sáng hôm sau, 20 tháng 7, ngày Thương binh của bộ đội “cu Hồ”, số anh em này được 2 chiếc xe Molotova chở ra ga xe lửa để “xuôi Nam!” (danh từ cán bộ CS dùng).

Từ hôm ấy, không khí trong trại cải tạo Văn Bàn thay đổi hẳn. Mặc dù dang là giữa thời điểm “cái nóng nung người, nóng nóng ghê”, nhưng hình như các “sinh viên” của trường “đại học cải tạo” Văn Bàn không ai cảm thấy “bị nung” trong cái nóng của miền rừng núi Thượng du Bắc Việt! Ngược lại, có vẻ họ lại thấy mát mẻ, thoải mái trong bầu không khí sắp đến ngày “RA TRƯỜNG”. Mặt mũi người nào người nấy tươi tắn hẳn lên, khi lao động cũng như lúc ở nhà, họ chuyện trò cười đùa như ngày hội!

Sáng ngày 14 tháng 8 khi tập họp nhận dụng cụ đi lao động, viên Trại Trưởng xuất hiện:

“Hôm nay nghỉ lao động. Tất cả trở về lán, thu dọn tất cả áo quần, đồ đạc cá nhân cho thật gọn nhẹ, ngày mai chúng ta bắt đầu hành quân xuôi Nam. Vì tình hình khó khăn chung, chúng ta phải hành quân bộ. Chúng ta phải đến trại Một trong vòng 2 ngày, để kịp lên chuyến tàu hỏa 10 giờ sáng ngày hôm thứ ba. Chúng ta trở về trại chính Yên Bái, ở lại đó năm bảy ngày, lãnh giấy tờ rồi tiếp tục xuôi Nam.”

Người ta thường nói: Vui như Tết. Nhưng tại trại cải tạo Văn Bàn hôm nay vui hơn Tết nhiều! Suốt cuộc đời cho đến ngày hôm nay, tôi chưa hề được dự một lễ, hội, nào mà trong lòng cảm thấy vui như hôm nay!

Trở về chỗ nằm, anh em chúng tôi người nào người nấy mặt mày hớn hở, cười nói huyên thuyên, quần lành áo rách trong va li, ba lô, túi xách…lôi ra gói ghém, sắp xếp, loại bỏ, cho hành trang gọn nhẹ đến mức tối đa. Vì tất cả đều đã biết đoạn đường rừng phải vượt qua trong vòng 2 ngày, dài hơn 40 cây số với 2 cái đèo, hai bên là rừng già âm u, cây rừng cao vút, không làng không xóm, không một bóng người qua lại. Nhưng thú giữ và rắn rết hẳn là không hiếm!

Buổi tối cơm nước xong, toàn trại được lệnh tập họp. Sau khi anh em chúng tôi đã “chỉnh tể” ngồi cả trước sân, viên Trại Trưởng lại xuất hiện, với nét mặt trông có vẻ hiền lành và thân thiện khác hẳn mọi lần đứng trước mặt đám tù cải tạo chúng tôi, ông ta nói:

“Hôm nay tôi thành thật chúc mừng các anh sắp được về đoàn tụ với gia đình. Các anh hôm nay như người trèo cây hái quả, các anh đã trèo được đến ngọn cây, chỉ còn giơ tay ra là hái được quả. Tôi muốn nhắc nhớ các anh trong những ngày hành quân tới đây, các anh phải giữ gìn kỷ luật hết sức nghiêm chỉnh, phải tuyệt đối tuân lệnh của các cán bộ hướng dẫn. Vì là những ngày giờ học tập cuối cùng, trước khi được trả tự do, được nhận quyền công dân, nên sự thử thách sẽ hết sức là gay gắt, chỉ một sai sót nhỏ các anh vi phạm trong cuộc hành quân này, thì bao nhiêu cực nhọc các anh đã chịu đựng trong suốt quá trình học tập kinh qua các trại suốt từ trong Nam ra đến đây hôm nay, sẽ coi như đổ xuống sông xuống biển hết!

Trước kia các anh thường nói “Nói dối như Vẹm” (Vẹm, tiếng lóng gọi lực lượng Việt Minh, tức Cộng sản). Hôm nay đứng trước các anh đây, tôi, Thượng úy Nguyễn Lại, đảng viên đảng Cộng Sản, 30 năm tuổi đảng, cam kết với các anh những điều tôi nói ở trên. Các anh hãy tin người đảng viên Cộng sản này một lần thử xem”.

Sau khi đem Đảng ra thề thốt để chứng minh cho sự thành thật của mình, ông ta ra lệnh cho cán bộ hậu cần phát cho chúng tôi mỗi người 6 gói lương khô của quân đội Tàu và một đồng bạc Hồ để ăn tiêu, trong những ngày đi đường.

Sau khi nhận lương khô và tiền, quả thật, tôi không biết diễn tả thế nào để quý độc giả thấy được hết sự vui sướng của anh em chúng tôi từ giờ phút ấy!

Ngày hôm sau, 4 giờ sáng, tất cả trại thức dậy, dọn dẹp, chuẩn bị đồ đạc lần chót, 5giờ 30, tất cả ra tập họp ngoài sân trại, tù cũng như bộ đội, đến khoảng hơn 6 giờ, tù cải tạo từ trại trong ra tới, chúng tôi nhập đoàn, bắt đầu “cuộc hành quân” trở về “quê cũ”. Suốt những đoạn đường gồ ghề, quanh co theo triền đồi, dốc núi, đoàn người kẻ gùi, người khiêng, kẻ gánh, bước đi với tiếng cười nói tràn đầy hân hoan. Trí tưởng tượng được dịp hoạt động tối đa với hình ảnh người thân: nào vợ, nào con, nào bà con họ hàng, làng xóm, xúm xít mừng mừng tủi tủi từ ga xe lửa Sài gòn về đến gia đình. Tiếp theo, từ ngày này qua ngày khác là những bữa cơm thịnh soạn với bao nhiêu là chuyện vui, buồn trong thời gian chúng tôi xa nhà, được ôn lại!!

Xế chiều thì chúng tôi đã vượt qua được 2 ngọn đèo và vừa xẩm tối thì đoàn “lữ hành” cũng vừa đến trụ sở một Hợp tác Xã. Từng đội, từng người tự kiếm chỗ đầu bờ góc bụi nghỉ qua đêm tại đây. Sáng hôm sau, 6 giờ tiếp tục cuộc hành quân. Tuy đoàn bộ hành đã có vẽ thấm mệt, nhưng niềm vui “đoàn tụ” đã làm tan biến tất cả những khó khăn “vụn vặt” ấy, chân bước đi có vẻ vẫn còn nhẹ nhàng và nhanh nhẹn.

Khoàng 4 giờ chiều chúng tôi đến trại Một. Vì đều là thành phần “sắp ra trường”, nên luật lệ “ngăn sân cách vách” không còn được áp dụng. Tại đây tôi được gặp một vài bạn cũ: các cựu Trung tá Nguyễn Kinh Lược, Tô Công Biên, Vũ Đức Nghiêm (nhạc sĩ)… Riêng anh Nghiêm có “nhã ý” mời tôi “dùng” bữa tối với anh. Anh chia cho tôi nửa phần ăn buổi tối: một tô nhỏ bột mì nấu chín như hồ dán giấy. Tôi mời anh nửa gói lương khô. Rất ít khi tôi được thưởng thức một bữa “tiệc” ngon như bữa ăn này! Ở đây, ngoài những tin tức hồ hởi như chúng tôi đã được nghe, anh em còn được chứng kiến một việc “rất” cụ thể: Trước khi chúng tôi ra đến đây một tuần lễ, Trung tá Nguyễn Văn Tú, nguyên Tỉnh Trưởng Bà Rịa, được hai cán bộ Cục Dầu Khí từ Hà Nội lên tìm gặp. Anh em trong trại Một kể lại: Cách nay đúng một tuần, có hai cán bộ từ Hà Nội lên yêu cầu trại cho gặp anh Tú. Hai cán bộ này nói với anh: “Chúng tôi coi hồ sơ của anh, được biết anh đã có học một lớp hàm thụ về dầu khí. Hiện nay nhu cầu chuyên viên về dầu khí rất khẩn thiết, vì mỏ dầu của ta quá lớn. So với những nước đã khai thác được dầu khí trên thế giới, mỏ dầu của họ sánh với của ta, không khác gì “cái tem” dán trên mông con voi (!?). Như ở tỉnh Thái Bình, chỉ cần thọc cây nứa xuống đất, sâu chừng một thước là dầu vọt lên rồi! Vì thế, Nhà Nước đang cần rất nhiều chuyên viên dầu khí như anh để thỏa mãn nhu cầu khai thác, nếu anh đồng ý hợp tác, chúng tôi sẽ đưa anh về Cục nhận việc ngay. Dĩ nhiên là người “tù cải tạo”, chuyên viên “hàm thụ” về dầu khí Nguyễn Văn Tú không những đồng ý hợp tác mà còn sẵn sàng “ký hợp đồng bằng cả hai chân hai tay!” Thế là ngay buồi chiều, anh ôm khăn gói theo hai cán bộ về Hà Nội.

Sau 2 ngày leo đèo trèo núi, chúng tôi quả đã thấm mệt! Nhưng khi được nghe câu chuyện “cụ thể” trên đây, anh em tỉnh hẳn lại, anh nào anh nấy mặt tươi như hoa, lại cười lại nói, như chưa bao giờ được nói được cười!

Sáng hôm sau, cũng 6 giờ, chúng tôi lại gùi, lại gánh, lại khiêng, lục tục hành quân tiếp. Khoảng hơn 7 giờ đến bờ sông Hồng, cả chục con đò đợi sẵn đưa chúng tôi qua bờ sông phía đối diện. Qua sông, đi chừng 200 thước đến ga tàu lửa. Sau khi đã đến sân ga đầy đủ, chúng tôi được lệnh ngồi theo từng đội trước sân ga đợi tàu. Chừng nửa giờ sau tàu đến, lên tàu, chúng tôi được thoải mái đi qua đi lại trong những toa dành cho tù cải tạo. Bà con bán hàng rong trên tàu dành nhau đến mời chào những món quà: bánh trái đủ loại, bánh nếp, bánh chưng, bánh gai…mít, chuối, ổi, nhót v.v…đặc biệt có món hồng ngâm (loại hồng khi bắt đầu chín, phải hái đem vùi dưới bùn một thời gian cho hết nhựa chát. Ăn giòn và ngọt như loại hồng giòn ở Mỹ). Món quà này đắt hàng nhất vì mấy anh bạn người Nam lần đầu được thưởng thức món trái cây này.

Khoảng 4 giờ chiều tàu về đến ga Yên Bái. Xuống tàu, chúng tôi lại gồng gánh lần lượt xuống đò qua sông về lại trại cũ. Viên trại Trưởng từng lấy danh nghĩa một đảng viên cộng sản có 30 năm tuổi đảng thề thốt nói sự thật, lại một lần nữa nói “thật” với chúng tôi: “Thời gian chờ đợi ở đây, chúng ta lao động bình thường, chừng mười ngày nữa tiếp tục xuôi Nam”.

Chúng tôi nhận chỗ nằm, vừa cất đồ đạc xong thì anh em ở trại này đi lao động về, xúm xít hỏi thăm nhau vui như một ngày đại hội. Bữa ăn tối, anh Nguyễn Viết Mùi, bạn học cùng khóa Văn Thánh ở Huế với tôi, trong đội nhà bếp trại Một, đem cho tôi một tô cơm trắng, rưới nước thịt kho với 4, 5, miếng thịt bằng hai đốt ngón tay. Nhìn tô cơm, mắt tôi sáng lên, tay đỡ tô cơm, tôi đùa trong vẻ tự đắc với anh Mùi: “Ở đây sướng thế này, cậu về sau tớ là phải!”

Ngày hôm sau, những tù cải tạo “sắp được tự do, đoàn tụ với gia đình” đi lao động trong tinh thần “hồ hởi phấn khởi” khác hẳn những tù cải tạo học tập “chưa đạt tiêu chuẩn”.

Đúng mười ngày sau khi ăn cái “Tết Độc Lập” (2 tháng 9), buổi chiều đi lao động về, các tù “cải tạo đạt tiêu chuẩn”, miệng há hốc, mắt trợn tròn, khi vừa trông thấy một đoàn tất cả các tù cải tạo thuộc thành phần chuyên môn, đau ốm, đã được “hành quân” bằng cơ giới, để “về Sài gòn kịp trước ngày 2-9 để nhận công việc”; cả chuyên viên dầu khí hàm thụ Nguyễn Văn Tú, đã được cán bộ Cục Dầu Khí từ Hà nội lên “mời” về hợp tác, đều xuất hiện tại trại Một, không thiếu mặt nào!

Màn đầu của tấn tuồng “LỪA” đã hạ, nhưng người xem vẫn chưa đoán biết được phần kết thúc. Bao nhiêu hình ảnh mộng mơ của ngày đoàn tụ tuy chưa tan biến, nhưng đã quá mờ nhạt. Đêm hôm ấy nhiều người, trong đó có tôi, đã mất ngủ!

Sáng hôm sau, khi tập họp đi lao động như thường ngày, tù cải tạo được lệnh trở về nhà ngủ, thu dọn hết mọi thứ đồ dùng cá nhân trong vòng 1 giờ, không để lại bất cứ thứ gì, “chúng ta sẽ hành quân xuôi Nam”. Lại “xuôi Nam!” Nhưng sao lại “tất cả”, mà không phải chỉ thành phần đã học tập “đạt tiêu chuẩn?” Thắc mắc thỉ cứ thắc mắc, tiếng cười tiếng nói ồn ào, cả trại như ong vỡ tổ. Hàng trăm câu hỏi đặt ra, không cần có câu trả lời, cứ “xuôi Nam” là được rồi!

Tập họp lại, tù cải tạo được phát mỗi người hai nắm (vắt) cơm với hai miếng thịt heo kho muối vùi trong giữa nắm cơm, gói trong lá chuối, phần ăn cho một ngày đi đường. Nước uống mỗi người tự đem theo như mọi ngày đi lao động. Ra khỏi trại, từng đội lần lượt lên xe Molotova chờ sẵn ngoài đường.

Đoàn xe lăn bánh dời khu trại, chậm chạp bò trên cây cầu treo, qua bên bờ tả ngạn sông Hồng, theo quốc lộ I trực chỉ hướng Nam. Đoàn tù cải tạo, trong niềm vui “xuôi Nam” được cái nắng hanh hanh của tiết trời tháng 9 miền Bắc sưởi ấm, mặt mũi người nào người nấy hồng hào, sáng rỡ! Mặt trời gần đứng bóng, “hành khách” trên xe không ai bảo ai, bắt đầu bữa ăn trưa, anh Nguyễn Long (Trung tá Hải quân) Tổ Trưởng của tôi, tay mở gói cơm, miệng nở nụ cười thật tươi: “kiểu này có lẽ chúng mình được về Nam thật!”

Khoảng 2 giờ chiều, đoàn xe dời quốc lộ, quẹo vào con đường trải đá phía tay phải, mọi người ngạc nhiên nhìn nhau không nói một lời, nhưng ai cũng hiểu cái nhìn ngơ ngác ấy muốn nói:”Đi đâu đây?” Chừng nửa giờ sau, hai bên đường bắt đầu cứ cách vài ba trăm thước lại có một tên mặc đồ kaki, đầu đội nón cối, chân mang dép râu, mắt đeo cặp kính đen che gần kín hết phần trên những khuôn mặt mới nhìn qua đã thấy rất khó có cảm tình.

Chúng tôi được “đổ” xuống một trại giam có tường xây bao kín chung quanh vào khoảng lúc 4 giờ chiều. Trại này là một trong 5 trại thuộc hệ thống trại giam Tân Lập, do bộ Nội Vụ quản lý, nằm trong tỉnh Vĩnh Phú. Chúng tôi được lệnh tập họp lại theo từng đội,viên trại trưởng Nguyễn Lại, từng lấy danh nghĩa một đảng viên cộng sản thề thốt nói thật với chúng tôi “Các anh học tập đã đạt tiêu chuẩn, nay Đảng và Nhà nước thi hành chính sách với các anh, cho các anh về đoàn tụ với gia đình,” nét mặt tỉnh bơ, bàn giao chúng tôi cho viên trại trưởng mới, còn lên mặt tử tế khuyên bảo chúng tôi: “Ở đây các anh có nhiều điều kiện tốt hơn để học tập cải tạo, chúc các anh mạnh khỏe và cố gắng học tập tốt để sớm được về với gia đình.”

Mặc dù, đối với chúng tôi, cũng như hầu hết những người Quốc gia, thành ngữ: “Nói dối như Vẹm” được coi như là một “chân lý”. Nhưng chúng tôi cũng không làm sao hiểu được một sĩ quan, cho dù là bộ đội “cu Hổ”, một đảng viên cộng sản từng hãnh diện tự giới thiệu có đến 30 năm tuổi đảng để nói sự thật, lại có thể tôn thờ cái “chân lý” ấy đến độ trơ trẽn như thế được!!

Mãi đến bây giờ, được đọc bài “ Đi tìm cái tôi đã mất,” tùy bút chính trị cuối cùng trước khi lìa đời, của phó tổng thư ký Hội nhà văn quân đội “cu Hồ”, cấp bậc đại tá, đại biểu Quốc hội, giải thưởng quốc gia về Văn học nghệ thuật: ông Nguyễn Khải (1930-2008), một đàng viên cộng sản tuổi đảng nhiều hơn Nguyễn Lại nhiều, trong đó có đoạn ông viết:

“Các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của Đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Người cầm quyền cấp cao nhất và cấp thấp nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh giá là chín chắn. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ….”.

À thì ra, những kẻ tôn thờ chủ nghĩa Cộng sản, bất kể tuổi tác già hay trẻ, chức vụ lớn hay nhỏ, học hành chữ nghĩa có hay không, địa vị cao hay thấp, đều tôn thờ cái “chân lý” “nói dối như Vẹm” một cách còn trơ trẽn hơn Nguyễn Lại nữa! Nói dối hiển nhiên, không cần che đậy, nói dối một cách lem lém, một cách lì lợm, không biết xấu hổ, không biết run sợ.” Vì cái “chân lý” ấy nó đã bắt rễ vào tâm não, thấm sâu vào xương tủy, đã hòa tan trong máu, biến thành da thành thịt họ rồi.

Và đó chính là những con người đang nắm trong tay sinh mệnh của hơn 80 triệu đồng bào và sự tồn vong của Tổ Quốc Việt Nam!

Chỉ một công tác nhỏ: “Giải” hơn bốn trăm tù cải tạo qua đoạn đường rừng dài hơn bốn chục cây số, trong tinh hình “khó khăn chung” (của cộng sản), mà người cộng sản đã thiết lập cả một kế hoạch, dựng lên một kịch bản nhiều màn tỷ mỷ, tinh vi; trình diễn một cách thận trọng, khéo léo, đạt tới “đỉnh cao” ngón nghề lừa bịp” như thế; thì thử hỏi: Với những việc mang tính Quốc gia đại sự, thu được lợi lộc nhiều mặt, người cộng sản còn tính toán, mưu kế, dựng lên những kịch bản tinh vi, mầu sắc rực rỡ, cảnh trí lôi cuốn, trình diễn cẩn trọng, khôn khéo, đào kép hấp dẫn đến mức nào?

Đó là “BẢN CHẤT CỘNG SẢN”.

Quận Cam – California

Tân Xuân Kỷ Sửu – 2009

http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=3274&Itemid=311

Advertisements

ĐỐI KHÁNG LẬP LỜ – THẾ CỜ GIỮ ĐẢNG

ĐỐI KHÁNG LẬP LỜ – THẾ CỜ GIỮ ĐẢNG

TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net) –

Người ta thường có thói quen cho là tất cả những loài sinh vật li ti, mắt thường không thể nhìn thấy, đang sinh sống chung quanh và hay” phát huy, triển khai” cái tinh thần” hòa hợp hòa giải” với con người; với tên gọi là vi trùng, chính là” kẻ thù nguy hiểm” luôn rình rập chung quanh, như bọn khủng bố du kích Việt Cộng trước 1975 ở miền Nam; lợi dụng lúc cơ thể suy yếu, thiếu đề cao cảnh giác, bèn xâm nhập trong cai:” âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực vi trùng, gây nên bịnh tật, có khi đưa đến tử vong”, chẳng những thế, khi gặp phải thứ” siêu vi” độc hại, lây lan, gây nên đại dịch như cúm gia cầm, cúm heo, làm điên đầu giới lương y, khoa học gia.

Tuy nhiên không phải loài nào cùng có tên gọi là vi trùng đều làm hại cả, có loại rất cần thiết, mang tên vi khuẩn, giúp lên men tạo thức ăn, tiêu hủy các chất phế thải; nếu không có các loại vi khuẩn nầy thì trái đất ngập tràn rác rưới, đó là:” những đoàn quân từ trong lòng đất, âm thầm, làm việc gậm nhấm ngày đêm” và con trùng được coi là thứ” vi trùng vĩ đại, sống mãi trong sự nghiệp ăn rác của thế gian” chui rúc trong các hang Pác Pó dưới mặt đất. Trong cơ thể con người, cũng cần một số loài vi trùng trong ruột có loại, là” đoàn quân vi khuẩn” giúp tiêu hóa dể dàng, nên một số bịnh nhân sau khi điều trị, tận diệt các siêu vi gây bịnh làm chết luôn các loại vi khuẩn cần thiết, nên phải uống loại vi trùng nầy vào để cho chúng giúp cơ thể đỡ gánh nặng. Đối với các loại siêu vi gây bịnh, người ta dùng lối” dĩ độc trị độc” bằng cách làm cho vi trùng bị suy yếu, mất hết chức năng gây bịnh, đoạn chích vào cơ thể để cho bạc huyết cầu” tập trận” mà lên tinh thần, khi vi trùng thứ mạnh xâm nhập là đánh ngay, như câu” văn ôn võ luyện” hay trong binh thư, như ý kiến một binh pháp gia Trung Hoa là Tư Mã Tương Như có câu:” Đất nước thái bình mà không lo chiến tranh, ắt bị diệt vong”, do đó, ngày nay, dù trong thời bình, thỉnh thoảng có những cuộc tập trận giữa các nước liên minh với nhau, cũng nằm trong tinh thần ấy..

Trong vấn đề đối lập, đối kháng trong nước đã có từ hàng hơn 20 năm qua, nổi bật là lúc cán bộ hơn 50 năm hết lòng tận tụy phục vụ cho đảng cướp Cộng Sản là Nguyễn Hộ với quan Điểm Cuộc sống, rồi gia nhập hàng ngũ có Nguyễn Văn Trấn với quyển sách trớt quớt:” Thư cho mẹ và quốc hội”, linh mục Chân Tín, sau bao năm dài phục vụ cho quỷ đỏ vô thần, bỗng chống đảng bằng các bài giảng tại nhà thờ, là vô tích sự, không mạnh, tác động thực sự bằng lúc làm chủ tịch ủy Ban Cải Thiện Chế Độ Lao Tù, hết lòng binh vực cho những tên khủng bố Việt Cộng sa cơ được hưởng” chế độ” ăn ở theo tiêu chuẩn quốc tế, để sau 30 tháng 4 năm 1975, trở về trả thù…. rồi Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Tiêu Dao bảo Cự, trung tướng Trần Độ, huề thượng Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Đổ Nam Hải, Nguyễn Khắc Toàn……số phản kháng, phản tỉnh, đối kháng, đối lập, đối đầu, đối đít….từ cán bộ thâm niên, tướng Việt Cộng, lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, sinh viên, du học…dấy lên ồn ào và trường kỳ:” đối kháng, đối kháng, mãi đối kháng-chống đảng, chống đảng, cứ chống đảng” cũng không làm cho đảng sụp, trái lại đảng Cộng Sản Việt Nam càng mạnh, cán giàu thêm.

Cho nên, đối kháng lập lờ, là thế cờ giữ đảng tồn tại là điều đã nhìn thấy ngày nay. Do đó, vấn đề” bức xúc” về tự do, dân chủ, nhân quyền, cơm áo….trong nước qua các tổ chức, tôn giáo, cá nhân trong và ngoài đảng, cũng cần phải cẩn thận, kẽo lầm, trao lòng tin vào” cò mồi” của đảng cướp, thì ngày quê hương tươi sáng, thoát khỏi vòng xích xiềng ngoại bang Trung Cộng như” áng mây mù thế kỷ”; tức là cuộc đấu tranh cho dân chủ lẫn quẫn trong cõi” vô minh” trong Phật Giáo và lộn xộn như câu tục ngữ:” các kè là cha các ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông, kỳ nhông là ông kỳ đà, kỳ đà là cha cắc ké” cứ thế mà phản tỉnh, phản đối, đối kháng, để sau cùng đưa người chống đảng, ủng hộ trong và ngoài nước cùng” dắt tay nhau đi theo tấm bản chỉ đường của đảng trên xa lộ Trường Sơn”.

Một kinh nghiệm về người Cộng Sản, được Hồ Chí Minh lấy làm kim chỉ nam, dù sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân ly ấy không bao giờ thay đổi là::” thà mất nước, chớ đừng để mất đảng, phải bảo vệ đảng như bảo vệ con ngươi trong tròng mắt”. Cho nên, bất cứ ai nguy hiểm, đe dọa đến đảng, đều bị thanh toán từ trong tù, đảng, xã hội, tôn giáo. Nhưng ai không nguy hiểm, dù chống đảng ồn ào, thì không hề hấn gì, đó là những” thứ hề” cần thiết để đảng Cộng Sản che mắt thế giới, nhân dân và được đánh bóng bằng chính những người được khen ngợi là:” can đảm, kiên trì dám chửi đảng”; sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhiều cán ngố gốc miền Nam bị” vắt chanh bỏ vỏ”, bị phục viên, hạ tầng công tác, cũng chửi đảng hàng ngày” chửi đảng tại gia”, có tên hơi can đảm, mượn lúc say rượu để” chửi đảng tại quán” cũng rần rộ và kiên cường:” tiến lên chiến sĩ đồng bào, hàng ngày chửi đảng, đảng thì trơ trơ”; nhưng chửi mà không hành động để hạ cái đảng cướp xuống để dân tộc được” độc lập, tự do” thì cũng là” trớt quớt, trớt quớt, đại trớt quớt”.

Sau năm 1954, Hồ Chí Minh dùng” xảo thuật” dân chủ đa nguyên trong chế độ độc tài bằng cách cho ra hai đảng đối lập cuội là: đảng Dân Chủ Việt Nam với ông nguyễn Xiển và đảng Xã Hội Việt Nam do ông Nghiêm Xuân Yên, được cấp trụ sở tại Hà Nội đàng hoàng và đương nhiên là nằm trong đảng Cộng Sản, như cương lĩnh chính trị của đảng Dân Chủ, mở đầu:” Đảng Dân Chủ Việt Nam Nguyện tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Marx Lenin..”

Tại miền Nam, trong cái gọi là” kháng chiến đánh Tây giành độc lập”, có những nhân vật nguy hiểm như Đức thầy Huỳnh Phú Sổ, trung tướng Nguyễn Bình, đã bị thanh toán bằng nhiều thủ đoạn gian manh; trong khu đó một số lãnh tụ tôn giáo như Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, phái Cao Đài Tây Ninh, quan phủ Ngô Minh Chiêu sáng lập đạo Cao Đài phái Chiếu Minh, thì Cộng Sản để yên, tính sau. Ngay cả những tên tay sai đắc lực như Trần văn Giàu, Dương Bạch Mai, bị triệu ra bắc, Hồ Chí Minh đánh giá Giàu hèn nhát, khi Hồ cho ngồi chơi, giam lõng và làm tự kiểm mà vẫn cuối đầu, dù trước đó, Giàu là nhân vật khét tiếng hung tợn, giết hơn 5 ngàn người miền Nam khi giữ chức chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ; nhưng Dương Bạch Mai thì nguy hiểm, dám chỉ trích đảng và Bác ngay trong hội nghị trung ương, nên Hồ ra lịnh cho Trần Quốc Hoàn hạ độc trong lúc uống trà giải lao trong một cuộc hội thảo trung ương.

Trong các trại tù, Hồ Chí Minh là hung thần, và cũng là thần tượng của đám cai ngục, nên bất cứ người tù nào dám chửi bằng lời hay ” làm thơ chửi bác” như một người tù bất khuất nọ, với nhiều bài thơ nẫy lửa trong tập thơ” vô đề” thì làm sao sống nổi dưới bàn tay cai tù, mà tên cán bộ nào cũng thề quyết một lòng, trước sau như một:” thà chửi cha không giận bằng chửi bác”, tức là chúng đều:” thương cha mẹ ông ba chỉ một, nhưng thương tên ác ôn Hồ Chi Minh đến mười lần”. Cho nên khi bắt được tập thơ nầy, tác giả không thể sống nổi, chứ đừng nói được thả và sau đó dàn dựng người khác đề cài ra hải ngoại, bằng cách cho chép lại tập thơ để lấy bút tích, đồng thời cho lăn lộn ở tù” khổ nhục kế” với những người tù thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa, với mục đích là nhờ những tù nầy bảo vệ dùm cho một điệp viên trá hình, giả dạng là tác giả tập thơ vô đề; mặt khác, tên điệp viên đó đươc che chở bằng tổ chức ngoại vi của đảng là băng đảng Việt Tân, nên có một số người bị lầm, cho nên hiện tượng kẻ mạo nhận là tác giả tập thơ vô đề, không khác gì câu chuyện dân gian:” Hồn Trương Ba, da hàng thịt” nên cái vụ mạo nhận ấy có thể gọi là:” thơ ngục sĩ, xác ngục khỉ Cộng”.

Những ai từng ở tù Cộng Sản biết rất rõ những điều nguy hiểm sau đây: trốn trại, chống đối, phát biểu linh tinh, tổ chức nổi dậy và nhất là chửi tên có đẻ Hồ Chí Minh. Theo một số tù miền bắc cho biết là: nhà thơ, nhạc sĩ Thục Vũ, thiếu tá ngành Chiến Tranh Chánh Trị, chỉ sáng tác bài hát:” Anh vẫn còn đây” lời không có gì ngoài động viên giữ vững tinh thần, thế mà bị cán bộ đánh đến dập gan, chết sau đó không lâu. Trường hợp của trung tướng Dương Văn Đức, trong bài viết của Nguyễn Hữu An, một quân nhân quân lực VNCH, tình cờ đi tiệc, gặp một đàn anh, từng ở tù chung với tướng Đức; bài viết nầy đăng trên tờ Thời báo ở Melbourne vào năm 2004, xin được kể đại khái, nói về câu chuyện của quản giáo, quân hàm trung tá, tập hợp các tướng tá để lên lớp. Trong lúc tên quản giáo đang thao thao bất tuyệt về đảng, Hồ Chí Minh, chiến thắng Điện Biên, mùa xuân 1975…. thì trong số các cải tạo viên, chỉ có trung tướng Dương Văn Đức là siêng năng, ghi ghi, chú chú một cách say mê, khiến cán bộ khoái lắm, nên sau một đoạn” giáo dục” mới chỉ tướng Đức và nói:

-Anh là người học tập tốt, tôi ghi nhận và biểu dương, anh có thể cho tôi xem anh ghi chép thế nào?
Tướng Đức đáp:-Tôi viết ẩu, cán bộ coi không được đâu.
Tên cán bộ tự ái:
-Tôi cũng là người có trình độ văn hóa cơ, tôi đọc được tất cả, anh cho tôi xem.
Hắn vừa nói vừa bước tới, giựt quyển sổ ghi chép, khi mở ra, hắn tái mặt, thì ra mỗi câu của cán bộ day như:
-Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lãnh đạo đảng và nhà nước, là cha già dân tộc, làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất…( con cặt).
-Trận Điên Biên Phủ là chiến thắng thần thánh của đảng và quân đội nhân dân anh hùng ( con cặt).
-Đảng Cộng Sản quang vinh, anh hùng đánh thắng phát xít Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ( con cặt)…
-Đảng Cộng Sản Việt Nam có công thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa..( con cặt).
-Ngụy quân, ngụy quyền là tay say đế quốc Mỹ ( con cặt)..

Tức là mỗi câu ca tụng đảng Cộng Sản và tên quốc tặc Hồ Chí Minh, đều được kèm theo hai chữ” CON CẶT”, khiến tên trung tá quản giáo làm dữ, tính xơi tái trung tướng Đức, nhưng nhờ trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm trưởng phòng can thiệp và nói tướng Đức bị bịnh thần kinh, từng chửi cả tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nên tạm yên, sau nầy tướng Đức trở về sống với gia đình và bị Việt Cộng đánh chết, xác vất ở gầm cầu chử Y. Nếu ngày nay, trung tướng Dương Văn Đức còn sống, đi qua Mỹ theo diện H.O, khi thấy băng đảng Việt Tân chủ trương:

-” Đảng Cộng Sản Việt Nam là thành phần dân tộc”, chắc chắn tướng Đức đề thêm hai chữ” con cặt” ngay.
-” Hồ Chí Minh là người yêu nước” ( con cặt)
-” Dùng bất bạo động để tháo gở độc tài” ( con cặt).
-” Biểu tình tại gia” ( con cặt)….

Trong các trại tù, như trại Vườn Đào, đại tá tỉnh trưởng Kiến Hòa là Phạm chí Kim, cấp cao nhất nhưng không nguy hiểm, nên sau đó được đoàn tụ gia đình; trong khi trung tá Nguyễn Đức Xích, đại úy Quách Dược Thanh bị giết. Qua những câu chuyện nêu trên, thì tác giả thật của tập thơ” vô đề” làm sau sống sót từ trong tù, rồi đủ sức chạy vào sứ quán Anh, bị bắt và chép hết nhiều bài thơ và sau đó qua Mỹ theo diện tù chính trị với thân thể tráng kiện, không có dấu hiệu yếu phổi, ho lao…những ai từng bị tù, sau nầy ở hải ngoại, thường bị ho hen vì nằm dưới đất lâu năm, bị hành hạ đủ thứ, thế mà ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện lại khỏe mạnh, dù ở tù 26 năm, là một phép lạ, không do thượng đế, Thiên Chúa, Phật Trời, mà là” do đảng Cộng Sản ban cho” chứ còn gì nữa?

Thời gian qua, phản tỉnh, phản kháng tại Việt Nam nở rộ, từ trong đảng, tôn giáo, sinh viên, du học trở về….những người như Lê Quang Liêm ( Hòa Hảo) bị bao vây tứ phía mà vẫn không hề hấn gì, huề thượng Quảng Độ, Huyền Quang…trải qua nhiều năm tù đày, quản chế và sau nầy được tự do, tiếp tục đấu tranh vì tự do tôn giáo mà không bị thanh toán. Tuy nhiên, những người như Linh Mục Nguyễn Văn Lý quá nguy hiểm nên bị tù dài hạn, đức tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền bị đầu độc chết; ngay cả Dương Thu Hương, được tổng bí thư Nguyễn Văn Linh gọi là” con đĩ chống đảng”, cùng sống tỉnh bơ, chửi đảng dài dài, thỉnh thoảng được phép xuất ngoại để” chống đảng” và gần đây được đảng” xuất khẩu” sang Pháp để làm cò mồi và nhắm tới chiếc ghế văn bút hải ngoại…tại Việt nam, hể ai nguy hiểm là bị đảng thanh toán bằng nhiều cách: dàn dựng tai nạn, đầu độc, cho người đánh chết….nên những ai chống đảng mà vẫn sống dài dài, là không nguy hiểm. Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn áp dụng theo lối cũ, sau 1975, Mai Chí Thọ, bộ trưởng công an, bí mật cho cò mồi thanh lập những tổ chức phục quốc giả, đã giết, tù đày hàng chục ngàn người yêu nước, nên những tổ chứ như các Khối 8406 được thành lập trong nước, là cái bẩy sập thu hút những người yêu nước, chống Cộng THIỆT TÌNH, khi mới gia nhập là bị bắt bớ, ở tù dài hạn như linh mục Nguyễn Văn Lý, trong khi đó có những cò mồi, cũng chống Cộng, phản tỉnh như: nhà dân chủ phòng lạnh Nguyễn Khắc Toàn ( chiến trường đánh cho đảng cút, đánh cho đảng nhào là ở nhà hàng sang trọng), Kỷ sư Đổ Nam Hải, sinh viên Nguyễn Tấn Trung, cán ngố Trần Khuê, trung tá quân hại nhân dân Trần Anh Kim….là những nhà tranh đấu THỊT TIỀN, dễ nhận ra, nhưng nhờ băng đảng Việt Tân tung hỏa mù, nâng cấp thành thần tượng” nhà dân chủ trong nước”, thu tiền để gởi về hổ trợ, tên tuổi được thổi phòng bằng” ống đu đủ” nhản hiệu” made in Việt Tân”, nên những người đang nằm trong lao tù thì càng ngày càng bị quên lãng như thế:

” Kẻ giả mạo vinh vang hưởng thụ.
Còn người vị quốc vong thân, đành cam vùi vập trong chốn lao tù”.

Trường hợp huề thượng Thích Quảng Độ, hơn 2 thập niên đấu tranh tự do tôn giáo, được băng đảng Việt Tân đánh bóng khá kỷ và vận động lãnh giải Nobel, không biết huề thượng và giáo hội có nằm trong băng đảng Việt Tân?. Là điều làm cho mọi người thắc mắc qua sự kiện nhịp nhàng” đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, hay đây là hai khuynh hướng” tư tương lớn gặp nhau?..Tuy nhiên, sau thời gian” đấu tranh”, vị lãnh đạo giáo hội trong nước đã trở thành thần tượng đấu tranh trong nước và trở thành niềm hy vọng của một số Phật tử, người Việt hải ngoại, như cái phao cứu cơn đạo pháp nạn quốc nạn….tuy nhiên lối đấu tranh của” Phật Giáo Ngày Nay” khác hơn trước 1975 ở miền Nam, đây cũng là” mặt yếu, cần khắc phục” để sớm giải trừ quốc nạn và pháp nạn.

Tại miền Nam tự do, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa từ đệ nhất đến đệ nhị Cộng Hòa đều tôn trọng tự do tôn giáo, ngay cả thời tổng thống Ngô Đình Diệm, dù có chút thiên vị Công Giáo (đó là tâm lý chung), bị Cộng Sản khai thác qua những tăng ni khối Ấn Quang, gây ra nhiều hệ lụy, phá rối, làm mất uy tín miền Nam đối với quốc tế, gây chia rẻ trong dân chúng qua chiêu bài tôn giáo, nhất là vụ Thích Quảng Đức Tự Thiêu, 5 tháng sau đảo chánh, do trung tướng Dương Văn Minh, một Phật tử thuần thành theo Thích Trí Quang. Thời chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, thiếu tướng Nguyễn Cao kỳ, dù là một Phật Tử thuần thành, có viết sách tiếng Anh là” Budhha child”, đâu có đàn áp Phật Giáo, nhưng cũng bị đám Ấn Quang làm loạn miền Trung năm 1966, cuối cùng tướng Kỳ phải cử đại tá Nguyễn Ngọc Loan ra dẹp loạn” giặc thầy chùa”, nếu không thì đám giặc đầu trọc nầy tác miền Trung và bàn giao cho Hà Nội.

Ngay trong hàng ngũ Tăng sĩ với nhau, thượng tọa Thích Tâm Châu từng bị chính các” đồng đạo thân thương” khủng bố, để chén máu và cây dao trong văn phòng, hù là sẽ trừng trị, khiến ông sư nầy phải tìm nơi” tỵ nạn tôn giáo” ở nơi khác để tránh bị thanh toán. Miền nam dân chủ, thì các tăng sĩ Phật Giáo, hô hào, sách động Phật Tử” thề quyết bảo vệ đạo pháp”, vì biết chính quyền không mạnh tay và sư không sợ bị thủ tiêu, bức hại. Nhưng thời Cộng Sản độc tài, không bao giờ tôn trọng tự do tôn giáo, hể sư nào nguy hiểm thì bắt vào tù, đánh chết như huề thượng Thích Thiện Minh (Đổ Xuân Hàn), còn tăng sĩ nào không nguy hiểm mà chống đảng theo cách” hỷ xả” thì bắt bỏ tù, quản chế một thời gian dằn mặt và sau đó cho tự do, trở thành mối lợi cho đảng, là thứ” thời trang chính trị” để chứng minh là Việt Nam cũng có tự do tôn giáo, tu sĩ cũng có quyền phát biểu, chửi, chống, lên án đảng, như các chính phủ tự do Âu Mỹ, nhưng vì” hoàn cảnh đất nước mới phát triển” mà phần” tự do tôn giáo có chừng mực”, như câu định nghĩa Nhân Quyền ngược ngạo của Trung Cộng và Việt Cộng có khác hơn Liên Hiệp Quốc, chúng ngụy biện vì hoàn cảnh lịch sử, xã hội mỗi nơi mỗi khác, để vi phạm nhân quyền.

Cuộc chống đảng có vẻ nổi bật sau năm 1982, khi mà đảng và nhà nước lập ra giáo hội Phật Giáo Quốc Doanh tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, qui tụ phần đông là các” đồng đạo Ấn Quang cũ”, do huề thượng Thích Trí Tịnh ( là triệu phú Phật Giáo, có hơn 250 triệu Mỹ Kim) lãnh đạo. Một số BẦN TĂNG không theo BĂNG TẦNG đảng vô thần, trở thành đối kháng, nằm ngoài, bị Việt Cộng đặt ra ngoài vòng pháp luật và đang đấu tranh đòi” phục hoạt” hoài, kiên trì trong cái lối đấu tranh:” giặc nhiều thì ta tránh, giặc tràn thù ta dông”. Cái phương thức ĐẤU TRANH:” dĩ hòa vi quí” của những vị lãnh đạo tinh thần trong nước, so với trước 1975 ở miền Nam thì ” quá hiền”, chẳng lẽ phải gọi là” khôn nhà dại chợ”?

Và từ đó, làm sao có thể đánh gục bọn gốc gác ĐÁNH TRÂU đang cai trị bằng bạo lực, thủ đoạn gian manh; cái câu của Lão Tử:” như thắng cương, nhược thắng cường” được áp dụng tùy theo trường hợp, chứ áp dụng không đúng môi trường và đối tượng, thì cái câu an ủi:” thất bại là mẹ thành công” thường được những người thất chí lấy làm châm ngôn, mộng mơ và tan dần theo năm tháng, như phân để lâu biến thành bùn. Nhưng câu mà cụ Trần Văn Hương nói trong những ngày cuối cùng ở miền Nam:” mình phải tự cứu mình, người khác mới cứu mình, có như vậy thì trời mới giúp mình được” mới là tiền đề cho các cuộc đấu tranh, có khả năng đưa đến thành công.

Nên từ 1982 đến nay, tình hình đấu tranh của Phật Giáo” vũ như cẩn”, dù được thế giới lưu ý, được Phật tử hải ngoại ủng hộ, gởi tiền, cầu nguyện, đặt khá nhiều hy vọng….nếu các ngài đấu tranh y như thời tên ác tăng Thích Trí Quang làm loạn ở miền Nam, dám đưa người tự thiêu, tử vì đạo, lập ra sư đoàn Vạn Hạnh, chiến đoàn mang tên Thức ( năm 1966), nhất là thu phục những tên ác ôn, có thờ Phật:” Như có bác trong niềm vui Phật Pháp” như cựu tổng bí Lê Khả Phiêu, cư sĩ Dũng Lò Vôi….lôi kéo Phật tử nằm trong các đơn vi bộ đội, như Thích Trí Quang từng thu phục chuẩn tướng Nguyễn Xuân Nhuận, tư lịnh sư đoàn 1 bộ binh đi theo… thì tình hình chắc là có khả quan hơn ngày nay và không chừng ngài trở thành” quốc sư”, anh hùng dân tộc, được lịch sử mãi mãi ghi công như sư Thượng Sĩ thời nhà Trần:” vứt áo cà sa, khoát chiến bào”, diệt giặc Nguyên như dũng tướng, khi tan giặc trở về chùa tu hành. Trái lại các tu sĩ đành phải” tỉnh thất” hay lúc tình hình khó khăn cũng phải” tịnh khẩu” để bảo toàn lực lượng, chờ khi yên tỉnh là tiếp tục đấu tranh, đòi phục hoạt, là chuyện giải trừ quốc nạn, pháp nạn khó thành tụ, cũng giống như người đi tu, suốt đời chỉ lo mỗi một việc” tung kinh gõ mõ” thì không hội đủ tiêu chuẩn đắc quả, nên trong Phật Giáo có hai chữ” TU-HÀNH” đi đôi với nhau như hình với bóng.

Những hoạt động đấu tranh có thể tóm tắt sau đây: Cứu trợ thiên tai, tiếp cứu dân oan ..( đa số là tiền từ hải ngoại gởi về), đi thăm viếng nhau ( như lúc huề thượng Thích Huyền Quang chưa viên tịch, sống ở ngôi chùa nhỏ thuộc huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngải), đi đứng bị bao vây và công an đuổi về, bị công an mời và từ chối, bị bắt và lên tiếng phản đối trên hệ thống truyền thông tiếng Việt hải ngoại để nhận thêm ủng hộ tài chánh, đặc biệt là thỉnh thoảng lên tiếng, trả lời phỏng vấn các báo chí nước ngoài, tiếp xúc với các phái đoàn nhân quyền, sứ quán các nước, nhân vật chính trị các nước đến Việt Nam….và từ những cuộc đấu tranh ấy, khiến cho Cộng Sản” thanh tâm trường không ngán”, nên các vị lãnh đạo vẫn” thanh tâm trường đấu tranh”, đó là” tựu điểm” giữa hai bên, cùng nhau” lao tư lưỡng lợi” thì việc đấu tranh chỉ là trò hề:

” Tăng ni, Phật tử tiến lên.
Trong ngoài hổ trợ, cán thời giàu to.
Vì pháp nạn, vì tự do.
Đánh cho Cộng mập, đánh cho đảng bền.
Tiến lên Phật tử, đồng bào.
Trong ngoài bất động, đảng nào tiêu tan?”

Việt Cộng cũng muốn có được những” đối tượng đấu tranh chống đảng” như thế, là rất có lợi, khi cần đòi yêu sách với chính phủ Hoa Kỳ, Liên Âu, thì cứ bắt những người đấu tranh” nổi tiếng” nhốt và sau đó đạt được điều kiện là thả ra, mà còn được khen là:” Việt nam có cải thiện tình hình tự do tôn giáo và nhân quyền”, cứ thế mà” phát huy” dài dài, hết bắt lại thả, hết thả lại bắt; hết phái đoàn nầy thăm viếng, vấn an đến phái đoàn sứ quán Mỹ tới thảo luận, dân biểu Liên Âu đến gặp…dĩ nhiên là chung quanh có công an bảo vệ để các nhà đấu tranh làm việc, như thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu được giới bình dân biến thành bài ca ru con:

” Vân Tiên cõng mẹ trở ra.
Đụng phải cột nhà, cõng mẹ trở vô.
Vân Tiên cõng mẹ trở vô.
Đụng phải cái bồ, cõng mẹ trở ra..”

Với tình hình và thái độ, sách lược đấu tranh như thế, thì làm sao giải trừ quốc nạn và pháp nạn, nhưng từ đó mà đảng và nhà nước Việt Cộng càng giàu, mạnh, khi biết rằng những người đấu tranh không thể biến quần chúng thành” bảo nổi lên rồi” như đã từng làm tại miền Nam qua các cuộc đấu tranh bạo động của Phật Giáo Ấn Quang và cái gương” xuống đường, đập tan mọi xích xiềng” ở Đông Âu, Liên Sô, là rất cần thiết, nhưng các” nhà dân chủ” trong nước, những lãnh đạo tinh thần thì lại” thanh tâm trường tỉnh tọa”. Đây cũng là lối đấu tranh ru ngủ, được băng đảng Việt Tân ở hải ngoại cổ võ” dùng đấu tranh bất bạo động để tháo gở độc tài” cũng không khác gì: không làm việc mà trở thành triệu phú, không thèm học mà muốn có bằng cấp cao ở các nước dân chủ, không trồng mà đời có cây ăn trái….Từ lâu, nhiều người lầm tưởng là những vị lãnh đạo Phật Giáo trong nước, dám can đảm chống đảng Cộng Sản bằng lời nói, giấy mực, lên tiếng phỏng vấn trên hệ thống truyền thông nước ngoài…là có khả năng đánh gục Cộng Sản, hảy nhìn cuộc đấu tranh kiên cường ấy từ 1982 đến nay, mới thấy càng ngày càng thất vọng và đảng Cộng Sản vững thêm.

Đã vậy mà vào ngày 29 tháng 3 năm 2009, có thêm phương thức đấu tranh” cực kỳ sáng tạo” nhưng đây là” tối tạo” phù hợp với băng đảng Việt Tân, nên người ta không ngạc nhiên khi thấy hầu hết các cơ sở truyền thông, cơ sở địa phương, người của Việt Tân, trong đó có cả các tiến sĩ, khoa bảng… đều đồng lòng phát động lời kêu gọi” biểu tình tại gia” và kèm theo” bất tuân dân sự”. Đây là biến thế và cũng là” đỉnh cao đấu tranh” có pha thêm nhiều Cà-Ri Ấn Độ” đấu tranh bất bạo động, do hãng đấu tranh” Ghandi” từ hơn 50 năm qua, để tháo gở độc tài”, tức là đấu tranh hoài, cũng không làm cho đảng cướp suy thoái, chứ đừng nói tới sụp đổ, là lối đấu tranh lộn địa chỉ, trớt quớt, mang đầy kịch tính sân khấu của những kẻ” trường mộng du”, nên người sống chỉ con hy vọng kiếp sau, nếu có được đầu thai thì mong thấy dân chủ. Công thức đấu tranh bất bạo động của thánh Ghandi áp dụng đúng đối tương là đế quốc Anh với tinh thần cỡi mở, nên thành công; nhưng với thực dân Pháp, thì cũng thành” tù quốc sự phạm” ở Côn Đảo, hay an trí như cụ Phan Bội Châu. Gia vị cà ri Ấn Độ chỉ nấu với món thích hợp như cà ri gà, bò, heo… thì ngon, nhưng đem nấu canh là trớt quớt đấy.

Trước đây, người Việt hải ngoại và người dân trong nước hảy còn chút hy vọng vào những lãnh đạo kiên cường Phật Giáo trong nước, dám đứng lên để giải trừ quốc nạn, pháp nạn mà bám lấy cái phao, nhưng không ngờ là phao dỏm, sắp chìm, sau khi nhìn thấy cái lổ lù ” biểu tình tại gia” xuất hiện. Do đó, các chùa hải ngoại nào ủng hộ vị lãnh đạo kiên trì trong nước, hảy lo chuẩn bị tinh thần để tự tu, tự hành, tự quản trị cơ sở, miễn là có tấm lòng thành đến với Phật” tích tâm” cũng là lối tu, chớ còn cung phụng đám tăng thuộc TỨ DIỆU TỆ:” Tham, gian, dâm, ác” là những Broker xấu, luôn dòm ngó túi tiền cúng dường và làm nhiều điều tệ hại, ảnh hưởng đến uy danh đức Phật. Quốc nạn được giải quyết, là pháp nạn đương nhiên gải trừ, với những bước sau đây:

-Kinh tế Việt Cộng suy sụp, sinh ra bất mãn, dân đói đứng lên.
-Trong đảng có phân hóa: với điều kiện là có hai cánh, nhưng cánh chống lại muốn loại bỏ hoàn toàn chỉ nghĩa Cộng Sản như Boris Yelsin ở Nga; còn hai cánh Cộng Sản đấu đá nhau là coi như không thể thành công và ủng hộ bất cứ cánh nào, cũng đều giữ cho đảng cướp tồn tại.

Một yếu tố vô cùng quan trọng là” ý chí người dân”, nếu Việt Nam hội đủ những điều kiện ắt có và đủ để sụp đổ nêu trên, mà dân chúng lại hèn, không thèm đứng lên, đợi” kiếp sau” như luật luân hồi, bị sư quốc doanh ru ngủ từ lâu nay và thêm” biểu tình tại gia” thì ngày đất nước tự do dân chủ” lê thê, khi trót nghe theo lời u mê”, là mãi mãi bị quỷ đỏ cai trị, và trong nước luôn có sẳn những thế lực đối kháng dỏm, phản kháng giả…. được đảng nuôi dưỡng, như Hồ Chí Minh từng nuôi hai đảnh đối lập cuội là Dân Chủ và Xã Hội ở miền Bắc sau 1954, bài học nầy cần nên tránh, để đất nước sớm dân chủ.

Đảng Cộng Sản Việt Nam hiểu rất rõ về” tôn giáo là thuốc phiện” như tổ sư Karl Marx” giáo dục” chúng, do đó Phật Giáo là cái phao, có khả năng giúp đảng tồn tại sau khi khối Cộng Đảng Đông Âu và Liên Sô sụp đổ, cho nên đảng Cộng Sản đã và đang” triển khai” tối đa lực lượng tu sĩ Phật Giáo, xâm nhập các tự viện lớn nhỏ, cho cán bộ công an tại chức và khi phục viên, cùng nhau cạo đầu, mặc đòng phục ca sa vào chùa tu và thuyết luân hồi chính là phương tiện” chủ yếu” trong công tác ru ngủ tín đồ Phật Giáo, vốn chiếm đa số trong dân chúng, ảnh hưởng sâu rộng từ hơn 2 ngàn năm lịch sử, trở thành niềm tin của dân chúng, nên họ chỉ mong” sống trọn kiếp người, trả quả kiếp trước, mong kiếp sau sung sướng” mà không thích đứng lên lật đổ đảng cướp, vì tin tưởng là kiếp trước mình làm nên tội, kiếp nầy phải trả nghiệp. Đó là cái chướng ngại mà dân Việt Nam đang gặp phải, và cái” mô đất thuyết luân hồi” nầy được Cộng Sản đặc biệt khai thác, có thể nói đây là” sách lược trường kỳ” nên đã cử hơn 2,000 tên” đặc công đầu trọc” xâm nhập, đang cố xây dựng ở hải ngoại, nhằm thuần hóa những” thế lực thù địch nước ngoài, có âm mưu diễn biến, lật đổ chế độ và làm chúng bước công tác ngoại giao, ngoại thương của bạo quyền Việt Cộng./.

Trương Minh Hòa
22.05.2009

http://tinparis.net/vn_index.html