ĐỐI KHÁNG LẬP LỜ – THẾ CỜ GIỮ ĐẢNG

ĐỐI KHÁNG LẬP LỜ – THẾ CỜ GIỮ ĐẢNG

TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net) –

Người ta thường có thói quen cho là tất cả những loài sinh vật li ti, mắt thường không thể nhìn thấy, đang sinh sống chung quanh và hay” phát huy, triển khai” cái tinh thần” hòa hợp hòa giải” với con người; với tên gọi là vi trùng, chính là” kẻ thù nguy hiểm” luôn rình rập chung quanh, như bọn khủng bố du kích Việt Cộng trước 1975 ở miền Nam; lợi dụng lúc cơ thể suy yếu, thiếu đề cao cảnh giác, bèn xâm nhập trong cai:” âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực vi trùng, gây nên bịnh tật, có khi đưa đến tử vong”, chẳng những thế, khi gặp phải thứ” siêu vi” độc hại, lây lan, gây nên đại dịch như cúm gia cầm, cúm heo, làm điên đầu giới lương y, khoa học gia.

Tuy nhiên không phải loài nào cùng có tên gọi là vi trùng đều làm hại cả, có loại rất cần thiết, mang tên vi khuẩn, giúp lên men tạo thức ăn, tiêu hủy các chất phế thải; nếu không có các loại vi khuẩn nầy thì trái đất ngập tràn rác rưới, đó là:” những đoàn quân từ trong lòng đất, âm thầm, làm việc gậm nhấm ngày đêm” và con trùng được coi là thứ” vi trùng vĩ đại, sống mãi trong sự nghiệp ăn rác của thế gian” chui rúc trong các hang Pác Pó dưới mặt đất. Trong cơ thể con người, cũng cần một số loài vi trùng trong ruột có loại, là” đoàn quân vi khuẩn” giúp tiêu hóa dể dàng, nên một số bịnh nhân sau khi điều trị, tận diệt các siêu vi gây bịnh làm chết luôn các loại vi khuẩn cần thiết, nên phải uống loại vi trùng nầy vào để cho chúng giúp cơ thể đỡ gánh nặng. Đối với các loại siêu vi gây bịnh, người ta dùng lối” dĩ độc trị độc” bằng cách làm cho vi trùng bị suy yếu, mất hết chức năng gây bịnh, đoạn chích vào cơ thể để cho bạc huyết cầu” tập trận” mà lên tinh thần, khi vi trùng thứ mạnh xâm nhập là đánh ngay, như câu” văn ôn võ luyện” hay trong binh thư, như ý kiến một binh pháp gia Trung Hoa là Tư Mã Tương Như có câu:” Đất nước thái bình mà không lo chiến tranh, ắt bị diệt vong”, do đó, ngày nay, dù trong thời bình, thỉnh thoảng có những cuộc tập trận giữa các nước liên minh với nhau, cũng nằm trong tinh thần ấy..

Trong vấn đề đối lập, đối kháng trong nước đã có từ hàng hơn 20 năm qua, nổi bật là lúc cán bộ hơn 50 năm hết lòng tận tụy phục vụ cho đảng cướp Cộng Sản là Nguyễn Hộ với quan Điểm Cuộc sống, rồi gia nhập hàng ngũ có Nguyễn Văn Trấn với quyển sách trớt quớt:” Thư cho mẹ và quốc hội”, linh mục Chân Tín, sau bao năm dài phục vụ cho quỷ đỏ vô thần, bỗng chống đảng bằng các bài giảng tại nhà thờ, là vô tích sự, không mạnh, tác động thực sự bằng lúc làm chủ tịch ủy Ban Cải Thiện Chế Độ Lao Tù, hết lòng binh vực cho những tên khủng bố Việt Cộng sa cơ được hưởng” chế độ” ăn ở theo tiêu chuẩn quốc tế, để sau 30 tháng 4 năm 1975, trở về trả thù…. rồi Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Tiêu Dao bảo Cự, trung tướng Trần Độ, huề thượng Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Đổ Nam Hải, Nguyễn Khắc Toàn……số phản kháng, phản tỉnh, đối kháng, đối lập, đối đầu, đối đít….từ cán bộ thâm niên, tướng Việt Cộng, lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, sinh viên, du học…dấy lên ồn ào và trường kỳ:” đối kháng, đối kháng, mãi đối kháng-chống đảng, chống đảng, cứ chống đảng” cũng không làm cho đảng sụp, trái lại đảng Cộng Sản Việt Nam càng mạnh, cán giàu thêm.

Cho nên, đối kháng lập lờ, là thế cờ giữ đảng tồn tại là điều đã nhìn thấy ngày nay. Do đó, vấn đề” bức xúc” về tự do, dân chủ, nhân quyền, cơm áo….trong nước qua các tổ chức, tôn giáo, cá nhân trong và ngoài đảng, cũng cần phải cẩn thận, kẽo lầm, trao lòng tin vào” cò mồi” của đảng cướp, thì ngày quê hương tươi sáng, thoát khỏi vòng xích xiềng ngoại bang Trung Cộng như” áng mây mù thế kỷ”; tức là cuộc đấu tranh cho dân chủ lẫn quẫn trong cõi” vô minh” trong Phật Giáo và lộn xộn như câu tục ngữ:” các kè là cha các ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông, kỳ nhông là ông kỳ đà, kỳ đà là cha cắc ké” cứ thế mà phản tỉnh, phản đối, đối kháng, để sau cùng đưa người chống đảng, ủng hộ trong và ngoài nước cùng” dắt tay nhau đi theo tấm bản chỉ đường của đảng trên xa lộ Trường Sơn”.

Một kinh nghiệm về người Cộng Sản, được Hồ Chí Minh lấy làm kim chỉ nam, dù sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân ly ấy không bao giờ thay đổi là::” thà mất nước, chớ đừng để mất đảng, phải bảo vệ đảng như bảo vệ con ngươi trong tròng mắt”. Cho nên, bất cứ ai nguy hiểm, đe dọa đến đảng, đều bị thanh toán từ trong tù, đảng, xã hội, tôn giáo. Nhưng ai không nguy hiểm, dù chống đảng ồn ào, thì không hề hấn gì, đó là những” thứ hề” cần thiết để đảng Cộng Sản che mắt thế giới, nhân dân và được đánh bóng bằng chính những người được khen ngợi là:” can đảm, kiên trì dám chửi đảng”; sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhiều cán ngố gốc miền Nam bị” vắt chanh bỏ vỏ”, bị phục viên, hạ tầng công tác, cũng chửi đảng hàng ngày” chửi đảng tại gia”, có tên hơi can đảm, mượn lúc say rượu để” chửi đảng tại quán” cũng rần rộ và kiên cường:” tiến lên chiến sĩ đồng bào, hàng ngày chửi đảng, đảng thì trơ trơ”; nhưng chửi mà không hành động để hạ cái đảng cướp xuống để dân tộc được” độc lập, tự do” thì cũng là” trớt quớt, trớt quớt, đại trớt quớt”.

Sau năm 1954, Hồ Chí Minh dùng” xảo thuật” dân chủ đa nguyên trong chế độ độc tài bằng cách cho ra hai đảng đối lập cuội là: đảng Dân Chủ Việt Nam với ông nguyễn Xiển và đảng Xã Hội Việt Nam do ông Nghiêm Xuân Yên, được cấp trụ sở tại Hà Nội đàng hoàng và đương nhiên là nằm trong đảng Cộng Sản, như cương lĩnh chính trị của đảng Dân Chủ, mở đầu:” Đảng Dân Chủ Việt Nam Nguyện tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Marx Lenin..”

Tại miền Nam, trong cái gọi là” kháng chiến đánh Tây giành độc lập”, có những nhân vật nguy hiểm như Đức thầy Huỳnh Phú Sổ, trung tướng Nguyễn Bình, đã bị thanh toán bằng nhiều thủ đoạn gian manh; trong khu đó một số lãnh tụ tôn giáo như Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, phái Cao Đài Tây Ninh, quan phủ Ngô Minh Chiêu sáng lập đạo Cao Đài phái Chiếu Minh, thì Cộng Sản để yên, tính sau. Ngay cả những tên tay sai đắc lực như Trần văn Giàu, Dương Bạch Mai, bị triệu ra bắc, Hồ Chí Minh đánh giá Giàu hèn nhát, khi Hồ cho ngồi chơi, giam lõng và làm tự kiểm mà vẫn cuối đầu, dù trước đó, Giàu là nhân vật khét tiếng hung tợn, giết hơn 5 ngàn người miền Nam khi giữ chức chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ; nhưng Dương Bạch Mai thì nguy hiểm, dám chỉ trích đảng và Bác ngay trong hội nghị trung ương, nên Hồ ra lịnh cho Trần Quốc Hoàn hạ độc trong lúc uống trà giải lao trong một cuộc hội thảo trung ương.

Trong các trại tù, Hồ Chí Minh là hung thần, và cũng là thần tượng của đám cai ngục, nên bất cứ người tù nào dám chửi bằng lời hay ” làm thơ chửi bác” như một người tù bất khuất nọ, với nhiều bài thơ nẫy lửa trong tập thơ” vô đề” thì làm sao sống nổi dưới bàn tay cai tù, mà tên cán bộ nào cũng thề quyết một lòng, trước sau như một:” thà chửi cha không giận bằng chửi bác”, tức là chúng đều:” thương cha mẹ ông ba chỉ một, nhưng thương tên ác ôn Hồ Chi Minh đến mười lần”. Cho nên khi bắt được tập thơ nầy, tác giả không thể sống nổi, chứ đừng nói được thả và sau đó dàn dựng người khác đề cài ra hải ngoại, bằng cách cho chép lại tập thơ để lấy bút tích, đồng thời cho lăn lộn ở tù” khổ nhục kế” với những người tù thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa, với mục đích là nhờ những tù nầy bảo vệ dùm cho một điệp viên trá hình, giả dạng là tác giả tập thơ vô đề; mặt khác, tên điệp viên đó đươc che chở bằng tổ chức ngoại vi của đảng là băng đảng Việt Tân, nên có một số người bị lầm, cho nên hiện tượng kẻ mạo nhận là tác giả tập thơ vô đề, không khác gì câu chuyện dân gian:” Hồn Trương Ba, da hàng thịt” nên cái vụ mạo nhận ấy có thể gọi là:” thơ ngục sĩ, xác ngục khỉ Cộng”.

Những ai từng ở tù Cộng Sản biết rất rõ những điều nguy hiểm sau đây: trốn trại, chống đối, phát biểu linh tinh, tổ chức nổi dậy và nhất là chửi tên có đẻ Hồ Chí Minh. Theo một số tù miền bắc cho biết là: nhà thơ, nhạc sĩ Thục Vũ, thiếu tá ngành Chiến Tranh Chánh Trị, chỉ sáng tác bài hát:” Anh vẫn còn đây” lời không có gì ngoài động viên giữ vững tinh thần, thế mà bị cán bộ đánh đến dập gan, chết sau đó không lâu. Trường hợp của trung tướng Dương Văn Đức, trong bài viết của Nguyễn Hữu An, một quân nhân quân lực VNCH, tình cờ đi tiệc, gặp một đàn anh, từng ở tù chung với tướng Đức; bài viết nầy đăng trên tờ Thời báo ở Melbourne vào năm 2004, xin được kể đại khái, nói về câu chuyện của quản giáo, quân hàm trung tá, tập hợp các tướng tá để lên lớp. Trong lúc tên quản giáo đang thao thao bất tuyệt về đảng, Hồ Chí Minh, chiến thắng Điện Biên, mùa xuân 1975…. thì trong số các cải tạo viên, chỉ có trung tướng Dương Văn Đức là siêng năng, ghi ghi, chú chú một cách say mê, khiến cán bộ khoái lắm, nên sau một đoạn” giáo dục” mới chỉ tướng Đức và nói:

-Anh là người học tập tốt, tôi ghi nhận và biểu dương, anh có thể cho tôi xem anh ghi chép thế nào?
Tướng Đức đáp:-Tôi viết ẩu, cán bộ coi không được đâu.
Tên cán bộ tự ái:
-Tôi cũng là người có trình độ văn hóa cơ, tôi đọc được tất cả, anh cho tôi xem.
Hắn vừa nói vừa bước tới, giựt quyển sổ ghi chép, khi mở ra, hắn tái mặt, thì ra mỗi câu của cán bộ day như:
-Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lãnh đạo đảng và nhà nước, là cha già dân tộc, làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất…( con cặt).
-Trận Điên Biên Phủ là chiến thắng thần thánh của đảng và quân đội nhân dân anh hùng ( con cặt).
-Đảng Cộng Sản quang vinh, anh hùng đánh thắng phát xít Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ( con cặt)…
-Đảng Cộng Sản Việt Nam có công thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa..( con cặt).
-Ngụy quân, ngụy quyền là tay say đế quốc Mỹ ( con cặt)..

Tức là mỗi câu ca tụng đảng Cộng Sản và tên quốc tặc Hồ Chí Minh, đều được kèm theo hai chữ” CON CẶT”, khiến tên trung tá quản giáo làm dữ, tính xơi tái trung tướng Đức, nhưng nhờ trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm trưởng phòng can thiệp và nói tướng Đức bị bịnh thần kinh, từng chửi cả tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nên tạm yên, sau nầy tướng Đức trở về sống với gia đình và bị Việt Cộng đánh chết, xác vất ở gầm cầu chử Y. Nếu ngày nay, trung tướng Dương Văn Đức còn sống, đi qua Mỹ theo diện H.O, khi thấy băng đảng Việt Tân chủ trương:

-” Đảng Cộng Sản Việt Nam là thành phần dân tộc”, chắc chắn tướng Đức đề thêm hai chữ” con cặt” ngay.
-” Hồ Chí Minh là người yêu nước” ( con cặt)
-” Dùng bất bạo động để tháo gở độc tài” ( con cặt).
-” Biểu tình tại gia” ( con cặt)….

Trong các trại tù, như trại Vườn Đào, đại tá tỉnh trưởng Kiến Hòa là Phạm chí Kim, cấp cao nhất nhưng không nguy hiểm, nên sau đó được đoàn tụ gia đình; trong khi trung tá Nguyễn Đức Xích, đại úy Quách Dược Thanh bị giết. Qua những câu chuyện nêu trên, thì tác giả thật của tập thơ” vô đề” làm sau sống sót từ trong tù, rồi đủ sức chạy vào sứ quán Anh, bị bắt và chép hết nhiều bài thơ và sau đó qua Mỹ theo diện tù chính trị với thân thể tráng kiện, không có dấu hiệu yếu phổi, ho lao…những ai từng bị tù, sau nầy ở hải ngoại, thường bị ho hen vì nằm dưới đất lâu năm, bị hành hạ đủ thứ, thế mà ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện lại khỏe mạnh, dù ở tù 26 năm, là một phép lạ, không do thượng đế, Thiên Chúa, Phật Trời, mà là” do đảng Cộng Sản ban cho” chứ còn gì nữa?

Thời gian qua, phản tỉnh, phản kháng tại Việt Nam nở rộ, từ trong đảng, tôn giáo, sinh viên, du học trở về….những người như Lê Quang Liêm ( Hòa Hảo) bị bao vây tứ phía mà vẫn không hề hấn gì, huề thượng Quảng Độ, Huyền Quang…trải qua nhiều năm tù đày, quản chế và sau nầy được tự do, tiếp tục đấu tranh vì tự do tôn giáo mà không bị thanh toán. Tuy nhiên, những người như Linh Mục Nguyễn Văn Lý quá nguy hiểm nên bị tù dài hạn, đức tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền bị đầu độc chết; ngay cả Dương Thu Hương, được tổng bí thư Nguyễn Văn Linh gọi là” con đĩ chống đảng”, cùng sống tỉnh bơ, chửi đảng dài dài, thỉnh thoảng được phép xuất ngoại để” chống đảng” và gần đây được đảng” xuất khẩu” sang Pháp để làm cò mồi và nhắm tới chiếc ghế văn bút hải ngoại…tại Việt nam, hể ai nguy hiểm là bị đảng thanh toán bằng nhiều cách: dàn dựng tai nạn, đầu độc, cho người đánh chết….nên những ai chống đảng mà vẫn sống dài dài, là không nguy hiểm. Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn áp dụng theo lối cũ, sau 1975, Mai Chí Thọ, bộ trưởng công an, bí mật cho cò mồi thanh lập những tổ chức phục quốc giả, đã giết, tù đày hàng chục ngàn người yêu nước, nên những tổ chứ như các Khối 8406 được thành lập trong nước, là cái bẩy sập thu hút những người yêu nước, chống Cộng THIỆT TÌNH, khi mới gia nhập là bị bắt bớ, ở tù dài hạn như linh mục Nguyễn Văn Lý, trong khi đó có những cò mồi, cũng chống Cộng, phản tỉnh như: nhà dân chủ phòng lạnh Nguyễn Khắc Toàn ( chiến trường đánh cho đảng cút, đánh cho đảng nhào là ở nhà hàng sang trọng), Kỷ sư Đổ Nam Hải, sinh viên Nguyễn Tấn Trung, cán ngố Trần Khuê, trung tá quân hại nhân dân Trần Anh Kim….là những nhà tranh đấu THỊT TIỀN, dễ nhận ra, nhưng nhờ băng đảng Việt Tân tung hỏa mù, nâng cấp thành thần tượng” nhà dân chủ trong nước”, thu tiền để gởi về hổ trợ, tên tuổi được thổi phòng bằng” ống đu đủ” nhản hiệu” made in Việt Tân”, nên những người đang nằm trong lao tù thì càng ngày càng bị quên lãng như thế:

” Kẻ giả mạo vinh vang hưởng thụ.
Còn người vị quốc vong thân, đành cam vùi vập trong chốn lao tù”.

Trường hợp huề thượng Thích Quảng Độ, hơn 2 thập niên đấu tranh tự do tôn giáo, được băng đảng Việt Tân đánh bóng khá kỷ và vận động lãnh giải Nobel, không biết huề thượng và giáo hội có nằm trong băng đảng Việt Tân?. Là điều làm cho mọi người thắc mắc qua sự kiện nhịp nhàng” đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, hay đây là hai khuynh hướng” tư tương lớn gặp nhau?..Tuy nhiên, sau thời gian” đấu tranh”, vị lãnh đạo giáo hội trong nước đã trở thành thần tượng đấu tranh trong nước và trở thành niềm hy vọng của một số Phật tử, người Việt hải ngoại, như cái phao cứu cơn đạo pháp nạn quốc nạn….tuy nhiên lối đấu tranh của” Phật Giáo Ngày Nay” khác hơn trước 1975 ở miền Nam, đây cũng là” mặt yếu, cần khắc phục” để sớm giải trừ quốc nạn và pháp nạn.

Tại miền Nam tự do, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa từ đệ nhất đến đệ nhị Cộng Hòa đều tôn trọng tự do tôn giáo, ngay cả thời tổng thống Ngô Đình Diệm, dù có chút thiên vị Công Giáo (đó là tâm lý chung), bị Cộng Sản khai thác qua những tăng ni khối Ấn Quang, gây ra nhiều hệ lụy, phá rối, làm mất uy tín miền Nam đối với quốc tế, gây chia rẻ trong dân chúng qua chiêu bài tôn giáo, nhất là vụ Thích Quảng Đức Tự Thiêu, 5 tháng sau đảo chánh, do trung tướng Dương Văn Minh, một Phật tử thuần thành theo Thích Trí Quang. Thời chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, thiếu tướng Nguyễn Cao kỳ, dù là một Phật Tử thuần thành, có viết sách tiếng Anh là” Budhha child”, đâu có đàn áp Phật Giáo, nhưng cũng bị đám Ấn Quang làm loạn miền Trung năm 1966, cuối cùng tướng Kỳ phải cử đại tá Nguyễn Ngọc Loan ra dẹp loạn” giặc thầy chùa”, nếu không thì đám giặc đầu trọc nầy tác miền Trung và bàn giao cho Hà Nội.

Ngay trong hàng ngũ Tăng sĩ với nhau, thượng tọa Thích Tâm Châu từng bị chính các” đồng đạo thân thương” khủng bố, để chén máu và cây dao trong văn phòng, hù là sẽ trừng trị, khiến ông sư nầy phải tìm nơi” tỵ nạn tôn giáo” ở nơi khác để tránh bị thanh toán. Miền nam dân chủ, thì các tăng sĩ Phật Giáo, hô hào, sách động Phật Tử” thề quyết bảo vệ đạo pháp”, vì biết chính quyền không mạnh tay và sư không sợ bị thủ tiêu, bức hại. Nhưng thời Cộng Sản độc tài, không bao giờ tôn trọng tự do tôn giáo, hể sư nào nguy hiểm thì bắt vào tù, đánh chết như huề thượng Thích Thiện Minh (Đổ Xuân Hàn), còn tăng sĩ nào không nguy hiểm mà chống đảng theo cách” hỷ xả” thì bắt bỏ tù, quản chế một thời gian dằn mặt và sau đó cho tự do, trở thành mối lợi cho đảng, là thứ” thời trang chính trị” để chứng minh là Việt Nam cũng có tự do tôn giáo, tu sĩ cũng có quyền phát biểu, chửi, chống, lên án đảng, như các chính phủ tự do Âu Mỹ, nhưng vì” hoàn cảnh đất nước mới phát triển” mà phần” tự do tôn giáo có chừng mực”, như câu định nghĩa Nhân Quyền ngược ngạo của Trung Cộng và Việt Cộng có khác hơn Liên Hiệp Quốc, chúng ngụy biện vì hoàn cảnh lịch sử, xã hội mỗi nơi mỗi khác, để vi phạm nhân quyền.

Cuộc chống đảng có vẻ nổi bật sau năm 1982, khi mà đảng và nhà nước lập ra giáo hội Phật Giáo Quốc Doanh tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, qui tụ phần đông là các” đồng đạo Ấn Quang cũ”, do huề thượng Thích Trí Tịnh ( là triệu phú Phật Giáo, có hơn 250 triệu Mỹ Kim) lãnh đạo. Một số BẦN TĂNG không theo BĂNG TẦNG đảng vô thần, trở thành đối kháng, nằm ngoài, bị Việt Cộng đặt ra ngoài vòng pháp luật và đang đấu tranh đòi” phục hoạt” hoài, kiên trì trong cái lối đấu tranh:” giặc nhiều thì ta tránh, giặc tràn thù ta dông”. Cái phương thức ĐẤU TRANH:” dĩ hòa vi quí” của những vị lãnh đạo tinh thần trong nước, so với trước 1975 ở miền Nam thì ” quá hiền”, chẳng lẽ phải gọi là” khôn nhà dại chợ”?

Và từ đó, làm sao có thể đánh gục bọn gốc gác ĐÁNH TRÂU đang cai trị bằng bạo lực, thủ đoạn gian manh; cái câu của Lão Tử:” như thắng cương, nhược thắng cường” được áp dụng tùy theo trường hợp, chứ áp dụng không đúng môi trường và đối tượng, thì cái câu an ủi:” thất bại là mẹ thành công” thường được những người thất chí lấy làm châm ngôn, mộng mơ và tan dần theo năm tháng, như phân để lâu biến thành bùn. Nhưng câu mà cụ Trần Văn Hương nói trong những ngày cuối cùng ở miền Nam:” mình phải tự cứu mình, người khác mới cứu mình, có như vậy thì trời mới giúp mình được” mới là tiền đề cho các cuộc đấu tranh, có khả năng đưa đến thành công.

Nên từ 1982 đến nay, tình hình đấu tranh của Phật Giáo” vũ như cẩn”, dù được thế giới lưu ý, được Phật tử hải ngoại ủng hộ, gởi tiền, cầu nguyện, đặt khá nhiều hy vọng….nếu các ngài đấu tranh y như thời tên ác tăng Thích Trí Quang làm loạn ở miền Nam, dám đưa người tự thiêu, tử vì đạo, lập ra sư đoàn Vạn Hạnh, chiến đoàn mang tên Thức ( năm 1966), nhất là thu phục những tên ác ôn, có thờ Phật:” Như có bác trong niềm vui Phật Pháp” như cựu tổng bí Lê Khả Phiêu, cư sĩ Dũng Lò Vôi….lôi kéo Phật tử nằm trong các đơn vi bộ đội, như Thích Trí Quang từng thu phục chuẩn tướng Nguyễn Xuân Nhuận, tư lịnh sư đoàn 1 bộ binh đi theo… thì tình hình chắc là có khả quan hơn ngày nay và không chừng ngài trở thành” quốc sư”, anh hùng dân tộc, được lịch sử mãi mãi ghi công như sư Thượng Sĩ thời nhà Trần:” vứt áo cà sa, khoát chiến bào”, diệt giặc Nguyên như dũng tướng, khi tan giặc trở về chùa tu hành. Trái lại các tu sĩ đành phải” tỉnh thất” hay lúc tình hình khó khăn cũng phải” tịnh khẩu” để bảo toàn lực lượng, chờ khi yên tỉnh là tiếp tục đấu tranh, đòi phục hoạt, là chuyện giải trừ quốc nạn, pháp nạn khó thành tụ, cũng giống như người đi tu, suốt đời chỉ lo mỗi một việc” tung kinh gõ mõ” thì không hội đủ tiêu chuẩn đắc quả, nên trong Phật Giáo có hai chữ” TU-HÀNH” đi đôi với nhau như hình với bóng.

Những hoạt động đấu tranh có thể tóm tắt sau đây: Cứu trợ thiên tai, tiếp cứu dân oan ..( đa số là tiền từ hải ngoại gởi về), đi thăm viếng nhau ( như lúc huề thượng Thích Huyền Quang chưa viên tịch, sống ở ngôi chùa nhỏ thuộc huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngải), đi đứng bị bao vây và công an đuổi về, bị công an mời và từ chối, bị bắt và lên tiếng phản đối trên hệ thống truyền thông tiếng Việt hải ngoại để nhận thêm ủng hộ tài chánh, đặc biệt là thỉnh thoảng lên tiếng, trả lời phỏng vấn các báo chí nước ngoài, tiếp xúc với các phái đoàn nhân quyền, sứ quán các nước, nhân vật chính trị các nước đến Việt Nam….và từ những cuộc đấu tranh ấy, khiến cho Cộng Sản” thanh tâm trường không ngán”, nên các vị lãnh đạo vẫn” thanh tâm trường đấu tranh”, đó là” tựu điểm” giữa hai bên, cùng nhau” lao tư lưỡng lợi” thì việc đấu tranh chỉ là trò hề:

” Tăng ni, Phật tử tiến lên.
Trong ngoài hổ trợ, cán thời giàu to.
Vì pháp nạn, vì tự do.
Đánh cho Cộng mập, đánh cho đảng bền.
Tiến lên Phật tử, đồng bào.
Trong ngoài bất động, đảng nào tiêu tan?”

Việt Cộng cũng muốn có được những” đối tượng đấu tranh chống đảng” như thế, là rất có lợi, khi cần đòi yêu sách với chính phủ Hoa Kỳ, Liên Âu, thì cứ bắt những người đấu tranh” nổi tiếng” nhốt và sau đó đạt được điều kiện là thả ra, mà còn được khen là:” Việt nam có cải thiện tình hình tự do tôn giáo và nhân quyền”, cứ thế mà” phát huy” dài dài, hết bắt lại thả, hết thả lại bắt; hết phái đoàn nầy thăm viếng, vấn an đến phái đoàn sứ quán Mỹ tới thảo luận, dân biểu Liên Âu đến gặp…dĩ nhiên là chung quanh có công an bảo vệ để các nhà đấu tranh làm việc, như thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu được giới bình dân biến thành bài ca ru con:

” Vân Tiên cõng mẹ trở ra.
Đụng phải cột nhà, cõng mẹ trở vô.
Vân Tiên cõng mẹ trở vô.
Đụng phải cái bồ, cõng mẹ trở ra..”

Với tình hình và thái độ, sách lược đấu tranh như thế, thì làm sao giải trừ quốc nạn và pháp nạn, nhưng từ đó mà đảng và nhà nước Việt Cộng càng giàu, mạnh, khi biết rằng những người đấu tranh không thể biến quần chúng thành” bảo nổi lên rồi” như đã từng làm tại miền Nam qua các cuộc đấu tranh bạo động của Phật Giáo Ấn Quang và cái gương” xuống đường, đập tan mọi xích xiềng” ở Đông Âu, Liên Sô, là rất cần thiết, nhưng các” nhà dân chủ” trong nước, những lãnh đạo tinh thần thì lại” thanh tâm trường tỉnh tọa”. Đây cũng là lối đấu tranh ru ngủ, được băng đảng Việt Tân ở hải ngoại cổ võ” dùng đấu tranh bất bạo động để tháo gở độc tài” cũng không khác gì: không làm việc mà trở thành triệu phú, không thèm học mà muốn có bằng cấp cao ở các nước dân chủ, không trồng mà đời có cây ăn trái….Từ lâu, nhiều người lầm tưởng là những vị lãnh đạo Phật Giáo trong nước, dám can đảm chống đảng Cộng Sản bằng lời nói, giấy mực, lên tiếng phỏng vấn trên hệ thống truyền thông nước ngoài…là có khả năng đánh gục Cộng Sản, hảy nhìn cuộc đấu tranh kiên cường ấy từ 1982 đến nay, mới thấy càng ngày càng thất vọng và đảng Cộng Sản vững thêm.

Đã vậy mà vào ngày 29 tháng 3 năm 2009, có thêm phương thức đấu tranh” cực kỳ sáng tạo” nhưng đây là” tối tạo” phù hợp với băng đảng Việt Tân, nên người ta không ngạc nhiên khi thấy hầu hết các cơ sở truyền thông, cơ sở địa phương, người của Việt Tân, trong đó có cả các tiến sĩ, khoa bảng… đều đồng lòng phát động lời kêu gọi” biểu tình tại gia” và kèm theo” bất tuân dân sự”. Đây là biến thế và cũng là” đỉnh cao đấu tranh” có pha thêm nhiều Cà-Ri Ấn Độ” đấu tranh bất bạo động, do hãng đấu tranh” Ghandi” từ hơn 50 năm qua, để tháo gở độc tài”, tức là đấu tranh hoài, cũng không làm cho đảng cướp suy thoái, chứ đừng nói tới sụp đổ, là lối đấu tranh lộn địa chỉ, trớt quớt, mang đầy kịch tính sân khấu của những kẻ” trường mộng du”, nên người sống chỉ con hy vọng kiếp sau, nếu có được đầu thai thì mong thấy dân chủ. Công thức đấu tranh bất bạo động của thánh Ghandi áp dụng đúng đối tương là đế quốc Anh với tinh thần cỡi mở, nên thành công; nhưng với thực dân Pháp, thì cũng thành” tù quốc sự phạm” ở Côn Đảo, hay an trí như cụ Phan Bội Châu. Gia vị cà ri Ấn Độ chỉ nấu với món thích hợp như cà ri gà, bò, heo… thì ngon, nhưng đem nấu canh là trớt quớt đấy.

Trước đây, người Việt hải ngoại và người dân trong nước hảy còn chút hy vọng vào những lãnh đạo kiên cường Phật Giáo trong nước, dám đứng lên để giải trừ quốc nạn, pháp nạn mà bám lấy cái phao, nhưng không ngờ là phao dỏm, sắp chìm, sau khi nhìn thấy cái lổ lù ” biểu tình tại gia” xuất hiện. Do đó, các chùa hải ngoại nào ủng hộ vị lãnh đạo kiên trì trong nước, hảy lo chuẩn bị tinh thần để tự tu, tự hành, tự quản trị cơ sở, miễn là có tấm lòng thành đến với Phật” tích tâm” cũng là lối tu, chớ còn cung phụng đám tăng thuộc TỨ DIỆU TỆ:” Tham, gian, dâm, ác” là những Broker xấu, luôn dòm ngó túi tiền cúng dường và làm nhiều điều tệ hại, ảnh hưởng đến uy danh đức Phật. Quốc nạn được giải quyết, là pháp nạn đương nhiên gải trừ, với những bước sau đây:

-Kinh tế Việt Cộng suy sụp, sinh ra bất mãn, dân đói đứng lên.
-Trong đảng có phân hóa: với điều kiện là có hai cánh, nhưng cánh chống lại muốn loại bỏ hoàn toàn chỉ nghĩa Cộng Sản như Boris Yelsin ở Nga; còn hai cánh Cộng Sản đấu đá nhau là coi như không thể thành công và ủng hộ bất cứ cánh nào, cũng đều giữ cho đảng cướp tồn tại.

Một yếu tố vô cùng quan trọng là” ý chí người dân”, nếu Việt Nam hội đủ những điều kiện ắt có và đủ để sụp đổ nêu trên, mà dân chúng lại hèn, không thèm đứng lên, đợi” kiếp sau” như luật luân hồi, bị sư quốc doanh ru ngủ từ lâu nay và thêm” biểu tình tại gia” thì ngày đất nước tự do dân chủ” lê thê, khi trót nghe theo lời u mê”, là mãi mãi bị quỷ đỏ cai trị, và trong nước luôn có sẳn những thế lực đối kháng dỏm, phản kháng giả…. được đảng nuôi dưỡng, như Hồ Chí Minh từng nuôi hai đảnh đối lập cuội là Dân Chủ và Xã Hội ở miền Bắc sau 1954, bài học nầy cần nên tránh, để đất nước sớm dân chủ.

Đảng Cộng Sản Việt Nam hiểu rất rõ về” tôn giáo là thuốc phiện” như tổ sư Karl Marx” giáo dục” chúng, do đó Phật Giáo là cái phao, có khả năng giúp đảng tồn tại sau khi khối Cộng Đảng Đông Âu và Liên Sô sụp đổ, cho nên đảng Cộng Sản đã và đang” triển khai” tối đa lực lượng tu sĩ Phật Giáo, xâm nhập các tự viện lớn nhỏ, cho cán bộ công an tại chức và khi phục viên, cùng nhau cạo đầu, mặc đòng phục ca sa vào chùa tu và thuyết luân hồi chính là phương tiện” chủ yếu” trong công tác ru ngủ tín đồ Phật Giáo, vốn chiếm đa số trong dân chúng, ảnh hưởng sâu rộng từ hơn 2 ngàn năm lịch sử, trở thành niềm tin của dân chúng, nên họ chỉ mong” sống trọn kiếp người, trả quả kiếp trước, mong kiếp sau sung sướng” mà không thích đứng lên lật đổ đảng cướp, vì tin tưởng là kiếp trước mình làm nên tội, kiếp nầy phải trả nghiệp. Đó là cái chướng ngại mà dân Việt Nam đang gặp phải, và cái” mô đất thuyết luân hồi” nầy được Cộng Sản đặc biệt khai thác, có thể nói đây là” sách lược trường kỳ” nên đã cử hơn 2,000 tên” đặc công đầu trọc” xâm nhập, đang cố xây dựng ở hải ngoại, nhằm thuần hóa những” thế lực thù địch nước ngoài, có âm mưu diễn biến, lật đổ chế độ và làm chúng bước công tác ngoại giao, ngoại thương của bạo quyền Việt Cộng./.

Trương Minh Hòa
22.05.2009

http://tinparis.net/vn_index.html

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: