Cuộc Bạo Loạn Bàn Phật Xuống Đường Tại Miền Trung : Mùa Hè 1966

Cuộc Bạo Loạn Bàn Phật Xuống Đường Tại Miền Trung : Mùa Hè 1966

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

ThichThienHao

« Hòa Thượng » Thích Thiện Hào: Hội chủ Hội Phật Giáo Việt Nam.

Như đứng trước Thượng Đế trong giờ phán xét sau cùng, tôi xin ghi lại tất cả những thảm cảnh tang tóc, đau thương mà cộng sản Hà Nội cùng các lực lượng « Phật Giáo Tranh Đấu » và « Hòa hợp Hòa giải » Ấn Quang đã từng gieo rắc trên mảnh đất thân yêu là thành phố Đà Nẵng đầy lưu dấu của tôi.

Hôm nay, noi theo lời dạy của nhà học giả Nguyễn Trường Tộ : « Biết mà không nói là bất lương ». Nên, bằng tất cả tâm thành từ bài này trở đi, tôi sẽ tuần tự viết với đầy đủ những chi tiết trong mọi biến cố mà tôi đã từng mắt thấy, tai nghe, vì tôi muốn viết khi các nạn nhân và cả chứng nhân tất cả các vị ấy hiện còn đang sống đa số tại hải ngoại, để minh chứng cho tiếng nói trung thực của tôi, mục đích là để cho lớp trẻ sau này biết đường mà lánh xa lũ sát nhân tàn bạo ấy.

Trong những bài trước tôi có nói đến « công lao » của « Lực lượng Hòa hợp Hòa giải » của Phật Giáo Ấn Quang mà không nêu cụ thể chứng minh. Vậy để biết rõ hơn, xin mời quý độc giả hãy cùng đọc lại báo Quê mẹ số 108 tháng 3 năm 1990, trang 21, đã đăng ( nguyên văn ) một trong « Năm yêu sách của Phật giáo do Thượng Tọa Thích Thanh Từ, Đại biểu giáo quyền Phật giáo đương kim Tổng thư ký Hội đồng Trị sự Trung ương Phật giáo Việt Nam Thống Nhất vào tháng 02 năm 1990 đã đưa ra Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản tại Hà Nội :

« Yêu sách thứ năm : Phải nhớ ơn các nhà tu hành, các tín đồ Phật giáo đã góp công lao vào công cuộc tranh đấu thống nhất đất nước trước đây. »

Không những thế, mà « Thượng tọa » còn lo lắng :

« … làm cho niềm tin của quần chúng đối với đảng và nhà nước bị xói mòn… và để lấy lại niềm tin của quần chúng. »

Nghĩa là « Thượng tọa » sợ cộng sản sụp đổ. Theo tôi, « TT »Thích Thanh Từ đừng nên quá lo xa, bởi dân tộc Việt Nam từ thuở vua Hùng lập quốc đã có truyền thống kính sợ Trời tức Thượng Đế, vì thế những người Việt Nam đứng về phía dân tộc họ đều có thừa lòng nhân ái, không ai có những hành động như các lực lượng « tranh đấu » của Ấn Quang đã đối với các nạn nhân tại Đà Nẵng đâu. Bởi họ có nhân tính, họ tin có Ông Trời, họ sợ Ông Trời « sẽ đổ cơn thịnh nộ xuống ». Chỉ có lũ vô thần, phi nhân, tàn bạo chúng mới không tin có Trời nên đã đặt Trời xuống ngang bằng với quỷ vật nên chẳng ai biết sợ ai cả.

Hiện nay bạo quyền Hà Nội đã thỏa mãn « Năm yêu sách của Phật giáo » nên « Thượng tọa » Thích Thanh Từ đương nắm giữ giáo quyền và cả thế quyền nữa.

Nguyên do và mục đích của Ấn Quang trong cuộc bạo loạn tại Miền Trung :

Mục đích chính của Phật giáo Ấn Quang là chiếm giữ miền Trung, để thành lập Chính phủ Miền Trung, liên minh với Việt cộng để đánh Việt Nam Cộng Hòa. Ấn Quang đã chuẩn bị từ lâu, chỉ chờ cơ hội để nỗi loạn. Vì vậy, nhân việc tướng Nguyễn Chánh Thi bị cách chức vào ngày 10-3-1966. Phật giáo đã lấy cớ đó biểu tình đòi chính phủ phải trả tướng Thi trở lại vùng 1. Khi chính phủ trả tướng Thi trở lại vùng 1 nhưng không có chức vụ gì cả. Thì Ấn Quang lại đòi chính phủ phải phục hồi cho tướng Thi với các chức: Tư lệnh Quân Đoàn 1, Vùng 1, kiêm đại biểu chính phủ tại Vùng 1 Chiến Thuật. Việc làm này của Phật giáo Ấn Quang đã khiến một tín đồ thuần thành của Phật giáo là ông Bùi Quang Sạn, chỉ huy trưởng Đơn vị Tình báo tác chiến tại Quảng Nam (sau đó ông là dân biểu ) đã nói :

« Chuyện ông Thi bị cách chức là chuyện của quân đội mắc mớ gì đến Phật giáo. Chỉ có muốn nổi loạn cướp chính quyền để hợp tác với Việt cộng mà thôi. »

Sau đó, trong cuộc nổi loạn mùa hè 1966, ông Bùi Quang Sạn đã bị bắt giam cùng với hàng trăm vị là các viên chức chính quyền và các chính Đảng. Các vị này đã bị Phật Giáo giam bốn mươi ngày tại « chùa » Phổ Đà tức Phật Học Viện Trung Phần ở số 340, đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Trong suốt thời gian này Phật Học Viện Trung Phần đã trở thành « Tổng Hành Dinh Quân Đoàn Vạn Hạnh. » Khi bị bắt, Phật giáo đã bắn bể bàn chân trái của ông Bùi Quang Sạn, nhưng « Quân Đoàn Vạn Hạnh » đã không cho ai băng bó cả. Chẳng những thế, mà QĐVH còn trói thúc ké hai tay ông ra sau lưng và buộc ông phải đi bộ cùng với nhiều người bị bắt. Vì thế, trong số tù nhân Phật giáo này có hai ông Ngô Hải Quảng và ông Nguyễn Kim Thành phải dìu ông Bùi Quang Sạn đi trên đường phố đến chùa Phổ Đà. Trước mắt đồng bào, nhiều người đã thấy ông Bùi Quang Sạn đi chân đất với bàn chân trái bê bết máu, mặt mày trông rất đau đớn. Nên biết, khác hơn cả tù thời Pháp và Việt cộng. Tất cả tù nhân Phật giáo đều bị Quân Đoàn Vạn Hạnh buộc phải cởi bỏ áo quần ngoài chỉ được mặc quần áo lót, phải cởi bỏ luôn giày, dép, vớ, phải đi chân đất trên các đường phố, khi vào nhà tù Phổ Đà các vị tù này cũng không được mặc áo quần dài chỉ được mặc đồ lót và phải đi chân đất. Và họ đã ở trong nhà tù Phổ Đà, bị đánh đập bốn mươi ngày mới được giải cứu.

Cũng nên biết, trong suốt bốn mươi ngày chùa Phổ Đà cũng đã trở thành một lò mổ heo, bò để nuôi ăn cho Quân Đoàn Vạn Hạnh hàng ngày.

Vì thế, Giáo sư Trịnh Thể, Hiệu trưởng trường Trung học Nguyễn Công Trứ khi thấy nhà chùa trở thành lò mổ ông đã vào tận « chùa » để nói với « Thượng tọa » Thích Minh Chiếu, Tuyên Úy Vùng 1, Quân khu 1 là Tư Lệnh Quân Đoàn Vạn Hạnh rằng :

« Thưa Thượng Tọa về những việc khác tôi không biết phải nói được một điều gì; nhưng riêng về chuyện mổ bò, mổ heo trong chùa tôi xin Thượng tọa suy nghĩ lại, vì không nên biến chùa trở thành lò sát sinh ».

Nhưng Giáo sư Trịnh Thể đã không ngờ dược Thích Minh Chiếu đã trả lời :

« Mình đang làm chuyện đại sự thì sá gì những chuyện tiểu tiết ấy »

Nghe những lời của Thích Minh Chiếu đã nói như thế, Giáo sư Trịnh Thể và ông Phan Thuyết, Chủ sự phòng hành chánh Bệnh viện Toàn khoa ĐN, bởi quá thương các vị tù không tội này vì biết không làm điều gì khác hơn, nên ông đã đến chùa xin được thăm nuôi, các « thầy » đồng ý, nhưng không được gặp mặt, chỉ được gửi vào chùa những chiếc chiếu ( nhưng không được gửi chăn, màn…) và quần áo lót qua người cai tù là Trung sĩ quân cảnh Nguyễn Văn Sự, ngoài ra tù nhân không được nhận một vật dụng hay bất cứ thực phẩm nào cả . Vì số tù quá đông nên các nhân sĩ và đồng bào đã giúp đỡ mua những chiếc chiếu và đồ lót, nhưng chỉ có hai vị không thể mang vào chùa được, nên hai vị đã nghĩ ra một cách là dắt tôi đến chùa « xin các thầy cho con nhỏ này nó phụ anh em tôi mang chiếu và đồ lót vào chùa, các thầy hãy an tâm vì nó hiền như cục đất à. »

Tôi không biết mấy ông trong chùa thấy tôi hiền, hay chỉ là con gái vô hại, hay ý Trời cho tôi được chứng kiến những điều ấy, nên khiến cho họ bằng lòng cho tôi được cùng giáo sư Trịnh Thể và ông Phan Thuyết đi thăm tù nhân tại « chùa » Phổ Đà.

Sau đó, hai vị bảo tôi cùng đi tìm người, tìm xe để chở số chiếu và đồ lót đó đem đến trước cổng chùa giao cho Nguyễn Văn Sự, rồi những người đi thăm nuôi và tài xế tất cả đều phải đi ngay. Một điều ít khó khăn hơn những thân nhân của QCCVNCH trong các trại tù « cải tạo » của Việt Cộng, là khi vào thăm nuôi mỗi người có người thân khác nhau, phải qua kiểm sóat thăm nuôi, phải chờ đợi, còn các vị tù nhân Phật giáo này không được phép nhận bất cứ cái gì của ai kể cả cha, mẹ, vợ, con. Vì vậy, sau khi giao số chiếu và đồ lót cho cai tù Nguyễn Văn Sự, y cứ cho đem vào chùa rồi hàng trăm vị tù tự chia xẻ với nhau để dùng. Sau 30-04-1975, khi gặp tôi trong trại cải tạo T.154, giáo sư Trịnh Thể bảo : « Hồi xưa mấy ổng mà biết rõ em hiền như vậy thì đừng hòng mà đến gần được cái cổng chùa, chứ đừng có nói đến chuyện thăm nuôi.

Những diễn tiến của cuộc bạo loạn :

Như tôi đã nói về nguyên do và mục đích của cuộc bạo loạn. Bây giờ tôi xin trở lại từ những ngày đầu :

Sau khi tướng Nguyễn Chánh Thi trở về Đà Nẵng, nhưng chính phủ cương quyết không phục chức theo yêu sách của Phật giáo Ấn Quang. Thấy vậy, Phật giáo lại đòi phải thành lập chính phủ dân sự. Mặc dù biết những đòi hỏi của Phật giáo là quá đáng, nhưng Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, đã triệu tập Quốc dân đại hội và tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến trong vòng sáu tháng. Song, vì chưa đạt được mục đích nên Phật giáo lại tiếp tục biểu tình. Lần này với những biểu ngữ và dùng loa phóng thanh hô to những khẩu hiệu :

« Đả đảo Thiệu-Kỳ, Thiệu-Kỳ phải từ chức. »

Khi nhắc lại điều này, tôi muốn hỏi Phật giáo là tại sao từ sau ngày 30-4-1975, cho đến nay, Ấn Quang vẫn luôn kêu gào nào là từng bị Việt cộng bỏ tù, áp bức, pháp nạn… Như vậy, tại sao Phật giáo không tổ chức biểu tình đả đảo cộng sản, không đem bàn phật xuống đường như mùa hè 1966, không đòi bạo quyền Hà Nội phải từ chức, trong khi vẫn ca rằng Việt Nam có tới 90% là Phật tử ?

Trở lại cuộc nổi loạn, khi chính phủ không từ chức, vì từ chức rồi giao chính quyền cho ai ? Chẳng lẽ giao cho Thầy chùa ? Vì vậy, Phật giáo bắt đầu cuộc bạo loạn bằng việc công khai tuyên bố đã thành lập « Quân đoàn Cách mạng Vạn Hạnh », Thích Minh Chiếu là Tư lệnh Quân đoàn. Tổng hành dinh được đặt tại chùa Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh Đà Nẵng như tôi đã viết ở trên.

Lúc này, Thích Đôn Hậu đã kéo một đám đệ tử từ Huế vào Đà Nẵng. Trong số này, có những tên cũng đã từng chỉ huy «Đoàn Thanh niên Phật tử Cứu quốc » trong cuộc tấn công hai phường Thanh Bồ và Đức Lợi vào ngày 24-8-1964, như các tên sau đây :

Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Tuyên …và hơn hai ngàn thanh niên, hợp lại cùng với đám đệ tử tại Đà Nẵng cũng đã từng sát cánh với nhau trong cuộc thảm sát Thanh Bồ như: Phan Xuân Huy, Phan Chánh Dinh, Vĩnh Kha, Hồ Công Lộ, Hà Xuân Kỳ …

Sau khi vào Đà Nẵng, Thích Đôn Hậu và đám đệ tử tập hợp tại chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng, là cơ quan chỉ đạo chính trị ở số 500 đường Ông Ích Khiêm. Chính tại chùa Pháp Lâm, Thích Đôn Hậu đã nhân danh Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Miền Vạn Hạnh ( tức miền Trung ) dùng truyền đơn và loa phóng thanh phát lời kêu gọi :

« …Các quân nhân Phật tử hãy mau mau quay về gia nhập Quân Đoàn Cách Mạng Vạn Hạnh, các Phật tử trong mọi nghành cảnh sát, công tư chức, sinh viên học sinh, thanh niên và đồng bào Phật tử hãy gia nhập lực lượng đấu tranh để lật đổ chính phủ Thiệu-Kỳ. »

Và kể từ ngày ấy, cho đến hôm nay, đã bao nhiêu năm qua rồi. Nhưng khi nhắc lại lời kêu gọi này của Thích Đôn Hậu, chắc những ai đã từng chứng kiến cuộc nổi loạn này cũng thấy rằng : Quả thật, lời kêu gọi ấy có hiệu quả, bởi lúc ấy đã có không ít một số sĩ quan, binh lính, công tư chức rời bỏ hàng ngũ và nhiệm sở đế gia nhập « Quân Đoàn Vạn Hạnh » Riêng sinh viên, học sinh, thanh niên Phật tử đã được «Thượng tọa » Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo vùng 1 chiến thuật trang bị súng đạn đủ loại, một số em học sinh nhỏ tuổi thì được trang bị bằng gậy gộc, gạch, đá để gia nhập « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » Thích Minh Chiếu hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ như tôi đã viết ở bài trước.

Lực lượng biểu tình từ đâu ra ?

Trong suốt thời gian nổi loạn, tại thành phố Đà Nẵng ai cũng thấy con số người đi biểu tình rất đông đảo, nhưng chỉ có người dân Đà Nẵng mới biết rõ trong đoàn người đó có phải họ đều tự nguyện đi biểu tình hay không ?

Và đây là sự thật : Quý vị đã đọc qua bài 30-4-1975 : Máu và nước mắt, quý vị đã biết về số người đi « diễn hành » vào ngày 19-5-1975, để « mừng » sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm, thì quý vị ắt đã biết có một số đông đồng bào đi biểu tình trong cuộc bạo loạn này đã không phải là tự nguyện.

Để biết rõ hơn, tôi xin ghi lại những sự gì mà chính tôi đã chứng kiến. Tôi vẫn nhớ như in, vào thời gian đầu của cuộc nổi loạn chỉ có một số ít phật tử đi theo tiếng gọi của…thầy chùa. Vì vậy, « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » tay cầm gậy gộc đến từng khu chợ, tay vung gậy, mồm la hét, đe dọa, bắt buộc đồng bào phải bãi thị để đi biểu tình, ai phản đối thì bị đánh đập, và Đoàn Thanh niên Phật Tử Quyết Tử đã đạp đổ những sạp hàng, những gánh bún… Cuối cùng, đồng bào phải nuốt nước mắt để đi biểu tình. Điều này, nhà văn Nguyễn Mộng Giác chắc có biết, nên đã viết qua trong « Mùa Biển Động » nhưng có thể vì để bán sách nên ông không viết đầy đủ.

Bàn Phật xuống đường.

Trước khi nói đến chuyện bàn Phật xuống đường. Tôi phải nói rõ xuất xứ từ hơn ba ngàn cái bàn Phật đã nằm la liệt trên khắp đường phố Đà Nẵng. Nên biết, trong hơn ba ngàn cái bàn Phật đó, có rất nhiều cái bàn Phật dã chiến. Vì không có đủ bàn Phật, nên chỉ ở các cổng chùa mới có những bàn Phật trang nghiêm, còn ở các nơi khác thì các « thầy » ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » ( từ đây xin tôi xin viết tắt là ĐTNPTQT) tay cầm búa, gậy ngang nhiên vào nhà Phật tử khiêng bàn Phật của họ ra đường, cũng nên biết trong nhà của đồng bào Đà Nẵng chỉ có một cái bàn thờ, họ thường để tượng, ảnh Phật ở trên và thờ chung với Tổ tiên, ông bà, có gia đình nghèo họ để bàn thờ trên mặt tủ. Khi ĐTNPTQT, đến khiêng bàn thờ họ nhất định không cho, vì biết đem bàn thờ, đem tủ ra đường phơi nắng, dầm mưa thì chắc chắn sẽ bị hư, bị gãy. Nhưng rồi họ cũng không ngăn cản được, bởi trên tay ĐTNPTQT, toàn là búa, gậy, gạch, đá. Nhưng thấy cũng chưa đủ, ĐTNPTQT đã đi vào các chợ khiêng những chiếc bàn vốn là của bà bán hàng xén, ông bán thịt, cô bán bún, chị bán tôm, tép, cá khô …đã bị bắt buộc phải bãi thị. Vì thế, khi đem ra đường trên mặt bàn còn dính đủ loại mặt hàng như : Đường, bột, tiêu, ớt, dầu, muối, mắm, thịt, vãy cá nhầy nhụa. Nhưng đã được ĐTNPTQT phủ lên một tấm nylon có in hình hoa lá đủ mầu sắc ( loại dùng để trải bàn) Rồi đem tượng Phật, có cái chỉ là một tấm ảnh Phật được lồng vào khung gỗ. Tiếp theo, ĐTNPTQT dùng những chiếc lon sữa bò hoặc những cái hộp đựng thịt, nhặt ở những nơi mà các xe thầu rác của sở Mỹ đổ ra, đem rửa sạch, đổ gạo và cắm nhang (hương) vào. Bên cạnh cũng là những chiếc lon như đã nói, nhưng khác hơn là nó được úp xuống, gắn đèn sáp đỏ lên. Tất cả được thượng lên bàn dưới chân tượng, ảnh Phật. Sau cùng là đốt nhang đèn.

Như thế, từ cái bàn bán hàng, bán thịt, bán bún …ngoài chợ, tất cả chúng đều nghiễm nhiên trở thành những cái bàn Phật, nhang, đèn, khói hương nghi ngút.

Có người nói, quân chính phủ đã đạp, đổ bàn Phật, nhang, đèn. Nên tôi cũng xin nói rõ là điều đó không hề có; mà các chiến sĩ dẹp loạn chỉ khiêng các bàn Phật để lên trên lề đường cho xe cộ lưu thông mà thôi.

Nhưng vì hơn bốn tháng các chợ tại Đà nẵng đã bị QĐVH của Phật Giáo Ấn Quang dùng bạo lực để bắt buộc phải bãi thị, không ai bán gạo hay thức ãn, nên những người hành khất và các em thiếu thi hè phố cũng phải chịu đói theo đồng bào. Bởi thế, nên cứ chờ khi các chiến sĩ dẹp loạn quay lưng, thì các vị khất sĩ này liền tới ngay các bàn Phật, tay này rút nhang vứt xuống đất, tay kia bưng những lon gạo trút vào các túi cái bang. Cùng lúc các chủ nhân của những chiếc bàn cũng nhanh chân đi thu hồi lại những chiếc bàn, để còn đem ra chợ buôn bán sau một thời gian dài chịu đói khát. Và tất nhiên, những người này họ phải đem nhang đèn để xuống đất, vì họ chỉ lấy lại những chiếc bàn của họ mà thôi.

Trở lại chuyện bàn Phật xuống đường.

Trong suốt thời gian Bàn Phật Xuống Đường, người dân Đà Nẵng đã chứng kiến và gánh chịu những khốn khổ vì hơn bốn tháng trời bàn Phật nằm đầy đường, Đà Nẵng trở thành thành phố chết, xe cộ không thể lưu thông, người phải đi bộ, các chợ vắng hoe, dân chúng không làm ăn buôn bán gì được, quân nhân, công chức, lao công không có lương, nhiều gia đình bị đói vì họ là những người dân từ các quận xa xôi như : Trà Mi, Tiên Phước, Hậu Đức, Khâm Đức, Quế Sơn …chạy về Đà Nẵng để lánh nạn cộng sản.

Hành quân Đinh Bộ Lĩnh :

Giữa lúc Phật giáo đã cướp chính quyền toàn thành phố Đà Nẵng, trong đó có Đài phát thanh. Chỉ trừ phi trường, mặc dù có dự tính nhưng không dám tấn công vì sợ Hoa Kỳ. Người dân Đà Nẵng đang khốn khổ và giữa lúc sinh mạng của các vị QCCVNCH là những tù nhân Phật giáo trong chùa Phổ Đà đang như sợi chỉ mành treo chuông. Như ông Lê Nguyên Long Trưởng ty Thông tin Quảng Nam đã kể :

« Tui không biết con số chính xác là tại chùa có bao nhiêu người, nhưng tui biết chúng tui mỗi phòng có bảy mươi người, mà các phòng của nhà tăng tại chùa Phổ Đà thì nhiều, vì chùa này là Phật Học Viện Trung Phần mà, nên nó lớn lắm mà đều kín chỗ hết, chúng tui nằm sát nhau rất chật chội, vì mùa hè nên nóng lắm, ai cũng đều phải trải chiếu nằm trên nền xi măng, lại bị muỗi đốt kinh khủng vì không có mùng, không được mặc áo quần dài, không có dép, không có khăn tắm, khăn mặt, không có xà phòng, không có kem và bàn chải đánh răng, không có cái gì cả ngoài bộ đồ lót trên người và chiếc chiếu, nghĩa là chúng tui đã sống như người ở thời tiền sử. Còn cách hỏi cung của mấy ổng thì ghê gớm lắm, vì mỗi lần hỏi cung là mỗi lần chúng tui đều bị tụi nó oánh, mà tụi nó có hỏi cung chi mô, nó kêu từng người ra các phòng khác để nó oánh cho đã thôi, khi về phòng người nào cũng giống như cái mền rách. Trời ôi ! tụi nó tàn ác lắm, nó oánh, nó oánh tụi tui, nó oánh ( nó đánh) từ trái sang phải, chúng tui tưởng đã bỏ xác trong chùa Phổ Đà rồi chớ. Nhưng chưa hết mô còn thêm một nỗi kinh hoàng hơn nữa là trước các cửa sổ các phòng đều có treo lựu đạn với lời tuyên bố của Quân Đoàn Vạn Hạnh : Đ.M, nếu Thiệu-Kỳ mà đưa quân vào đây là chúng tao bung lựu đạn cho chúng mầy chết tan xác hết. »

Tưởng cũng nên nhắc lại ông Lê Nguyên Long bị bắt trong lúc đang lái chiếc Vespa chở giáo sư Nguyễn Hữu Chi, Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam, trên đường từ Quảng Nam về Đà Nẵng, vừa đi đến ngã ba Duy Tân ĐN, thì bị Phật giáo chặn bắt cả hai vị. Sau đó Giáo sư Nguyễn Hữu Chi và ông Lê Nguyên Long bị đưa vào nhà tù Phổ Đà là nơi giam giữ nhiều tù nhân nhất, ngoài ra cũng có nhiều chùa cũng đã trở thành nhà tù như « chùa » Tam Bảo Tự ở số 323 đường Phan Châu Trinh ĐN.

Ngày 16-4-1966, « Phật giáo » đã vây bắt Thiếu tá Mai Xuân Hậu, quận trưởng quận Hòa Vang, và đồng loạt tấn công các trụ sở đảng phái, bắt hàng trăm viên chức chính quyền và các cán bộ của VNQDĐ do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo (ông Lê Nguyên Long cũng là VNQDĐ) đồng thời Phật giáo cũng tấn công Trụ sở Liên hiệp Nghiệp đoàn Lao công ở số 15 B đường Thống Nhất bắt ông Trần Hòa Tổng thư ký Liên hiệp Nghiệp đoàn và các nhân viên đem giam vào chùa Phổ Đà và còn quá nhiều người mà tôi không làm sao kể hết.

Cũng trong thời gian ấy, Phật giáo đã tấn công quân nhân và đốt các xe của quân đội Hoa Kỳ. Một trường hợp đã có rất nhiều biết đó là tại đầu đường Bạch Đằng, trước Cổ viện Chàm nhìn sang Trường Trung Học Sao Mai, khi đó một chiếc xe Jeep nhà binh trên xe có hai Sĩ quan, một Hoa Kỳ và một Đại Hàn vừa chạy trờ đến, thì « Đòan Thanh niên Phật tử Quyết tử » xông ra chặn đường và lôi hai Sĩ quan này xuống đất, hai Sĩ quan này hốt hoảng kêu cứu thì liền bị đám này túm cổ áo và đánh hội đồng, cùng lúc tưới xăng vào xe và châm lửa đốt. Khi ngọn lửa bốc cháy thì có nhiều người là nhân viên và khách trọ từ khách sạn Moderne do Phu nhân Trung tá Trần Nguyên An làm chủ đã chạy ra giải vây, lợi dụng lúc đó Phu nhân Trung tá Trần Nguyên An đã kéo cả hai Sĩ quan này chạy vào khách sạn che giấu. Sau đó bà đã tìm cách đưa họ trở về đơn vị.

Trong hoàn cảnh đó, ở dưới đất thì diễn ra cảnh đốt phá, vây bắt, đánh người thì trên không máy bay của quân đội đồng minh lượn quanh không phận Đà Nẵng không ngớt phát lời kêu gọi :

« Chúng tôi quân đội đồng minh, chỉ giúp đỡ và bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi không có đụng chạm đến Phật giáo cũng như chính phủ. Vậy chúng tôi thiết tha kêu gọi quý vị hãy chấm dứt việc hành hung và đốt xe của các quân sĩ đang thi hành công vụ. »

Nhưng « Lực lượng Tranh đấu Phật giáo » chẳng ai thèm nghe cả. Chính vì thế, tại Quảng Nam Việt cộng đã lợi dụng cảnh hỗn loạn ở thành phố để tấn công, nên các đoàn xe của quân đội Việt –Mỹ phải lên đường tiếp viện. Nhưng khi đoàn xe chạy qua khỏi ngã ba Huế thì từ trong chùa Phổ Quang do « Thượng tọa »Thích Từ Mẫn trụ trì đã ra lệnh cho « Phật tử » đông đảo sẵn có ra nằm la liệt trên mặt đường, ngăn cản đoàn quân viện không cho tiến vào Quảng Nam để cùng các đơn vị bạn chiến đấu với cộng quân.( Thích Từ Mẫn là chủ nhà sách Văn Nghệ tại Cali, Hoa Kỳ).

Mặt khác, các thầy đã ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » đến nhà ông Nguyễn Bá Sáu, ông Sáu là người Bắc di cư ở số 19 đường Lý Thái Tổ, là nơi cung cấp củi cho toàn thành phố và nói với ông Nguyễn Bá Sáu là cho mượn hết số củi đó chở về các chùa để các thầy tự thiêu. Ông Nguyễn Bá Sáu không cho mượn, ông nói :

« Tự thiêu củi cháy hết rồi lấy cái gì trả cho tôi. »

Nhưng ĐTNPTQT cứ xông vào khiêng hết số củi của ông bỏ lên xe đem về chất trước các sân chùa, chùa nào cũng có một đống củi, rồi các « thầy » tuyên bố :

« Nếu Thiệu-Kỳ đem quân vào chùa sẽ có người tự thiêu. »

Song quân chính phủ không hề động đến một cái chùa nào cả, chẳng phải quân đội sợ các « thầy » tự thiêu, vì ai cũng biết các « thầy » sợ chết lắm, mà vì sinh mạng của hàng trăm con tin là Quân-Cán-Chính-Việt Nam Cộng Hòa đang ở trong chùa.

Đến lúc quân chính phủ đã kiểm soát gần hết thành phố ; ông Nguyễn Bá Sáu vội đem xe đến các chùa đòi củi lại, ông nói :

« Các thầy nói mượn củi của tôi để tự thiêu, nhưng đến giờ này cũng không thấy ai tự thiêu cả, thì trả củi lại cho tôi, để tôi bán lấy tiền nuôi vợ con tôi. Còn nếu thầy nào muốn tự thiêu thì cho tôi biết, tôi sẽ cúng dường bằng xăng và nếu cần thuốc mê, thuốc tê, thuôc ngủ thì tôi cũng xin cúng dường luôn (ông Nguyễn Bá Sáu còn có tiệm thuốc Tây nữa) vì tự thiêu bằng xăng sạch sẽ hơn. »

Song đó là màn cuối cùng của các « thầy », bởi thấy quân của chính phủ không nhượng bộ thì « Quân Đoàn Vạn Hạnh » một số đã « đào ngũ » khi biết rõ các thầy là cộng sản, một số không trốn được nhưng cũng xuống tinh thần, nên các thầy còn cần đến những đống củi chất trước chùa để hù dọa chính phủ. Vì thế, các thầy không cho ông Sáu chở củi về . Nhưng ông Sáu thì cương quyết thu hồi số củi của ông, ông liền cho người khiêng hết củi bỏ lên xe chở về chất trước nhà. Lúc này, « Quân đoàn Vạn Hạnh » đang rầu thúi ruột vì quân chính phủ đã kiểm soát gần hết thành phố nên chẳng có ai ngăn cản.

Nhưng sau khi ông Sáu chở hết củi về rồi, các « thầy » mới thấy lo, vì không có củi lấy cái gì để hù tự thiêu với quân chính phủ. Vì thế, các thầy lại ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » tay cầm gậy gộc đến nhà ông Nguyễn Bá Sáu đánh ông một trận cho đỡ tức.

Phần ông Sáu, khi thấy đám côn đồ này xông vào nhà ông sợ quá liền chui vào đống củi, đám này bảo ông phải ra cho chúng đánh, ông không dám chui ra. Chúng biết ông trốn trong đống củi, nhưng củi nhiều quá chúng không biết ông trốn ở chổ nào. Tức quá, chúng liền tưới xăng vào đống củi và châm lửa đốt. Khi ngọn lửa bốc cháy, vợ con ông kêu cứu, đồng bào trong xóm nhiều người la lớn kêu cứu. Trong đó có ông Trương Quang Bông, lúc đó đang ở trên lầu bốn của Khách sạn Tao Nhã do vợ ông làm chủ ở số 172, đường Lý Thái Tổ. Vì ở gần nhà ông Nguyễn Bá Sáu, nên khi thấy ngọn lữa bốc cháy và nghe những tiếng kêu cứu của đồng bào, nên ông Trương Quang Bông đã gọi điên thoại cho sở cứu hỏa. Vì thế, lính cứu hỏa đã kịp thời dập tắt ngọn lửa, cứu ông Sáu ra khỏi đống củi và đưa ông đến bệnh viện. Ông chỉ bị bỏng nhẹ nên thoát chết, nhưng chưa thoát được bàn tay của các «thầy », nên sau ngày 30-4-1975, ông Sáu lại bị các « thầy » đem ra « Tòa án nhân dân » đấu tố đủ thứ « tội » cuối cùng tôi lại gặp ông tại Trại cải tạo T.154, và ông cũng ở gần mười năm mới được trở về.

Qua những hành động như đã kể. Chúng ta ai chũng thấy rằng các « thầy » quả thật quá ngang ngược, đã lấy củi của ông Nguyễn Bá Sáu trong lúc ông không đồng ý, đến khi muốn thu hồi củi ông Sáu phải tự thuê xe chở về, rồi cũng không yên thân, các thầy lại cho lũ côn đồ tới nhà đánh ông, lại còn chuẩn bị cả xăng mang theo để đốt sống ông Sáu nữa. Nhưng, nếu sở cứu hỏa không cấp cứu kịp thời thì chẳng phải một mình ông Sáu và gia đình ông chịu chết, mà nhà cửa và sinh mạng của đồng bào ở lân cận nhà ông Sáu tại đường Lý Thái Tổ cũng phải cùng chung số phận !!!.

Quân chính phủ có gây thương vong cho nhân mạng hay không ?

Vừa qua, trên mạng lưới toàn cầu tôi thấy cả hai ông tướng Tôn Thất Đính và Nguyễn Chánh Thi đã phát biểu hoàn toàn bịa đặt, như nói là « …trong cuộc tranh đấu của Phật giáo quân chính phủ đã làm thiệt mạng cho 240 người tại Đà Nẵng »

Nên biết, suốt thời gian ấy ông Thi đã trốn ngoài Huế nên không biết hay thấy những gì đã xãy ra tại Đà Nẵng. Bây giờ ông Thi đã chết, nhưng cách đây mười năm, sau khi đọc cuốn hồi ký của ông tôi có một bài viết trên Văn Nghệ Tiền Phong số 556, trong đó có một đoạn, nay tôi xin viết lại đoạn đó như sau : Tôi đã đọc cuốn hồi ký ấy, ngay từ trang đầu tiên ông đã viết :

« Vì lòng yêu nước tôi đã gia nhâp quân đội 1940… ».

Tôi muốn hỏi tướng Thi : Vào thời điểm đó Trung tướng nói yêu nước là yêu nước nào ? Gia nhập quân đội nào ? Cầm súng của ai và để bắn giết ai ?

Và những câu hỏi trên cho đến chết tướng Thi vẫn không trả lời được.

Riêng tướng Tôn Thất Đính. Trong cuộc bạo loạn của Phật giáo tại Đà Nẵng. Sau bốn mươi ngày « Phật giáo bắt giam nhiều vị QCCVNCH, chính phủ đưa ông ra Miền Trung để điều đình với phe nỗi loạn để giải cứu số tù nhân Phật giáo

Ngày 26-5-1966, khi tướng Đính đến chùa Phổ Đà gặp các tù nhân Phật giáo, chính ông đã nói với các vị tù nhân câu này tôi xin nhắc lại nguyên văn :

« Tôi đến để trả tự do cho các anh, để các anh trở về chiến đấu với cộng sản. »

Với câu nói này tướng Đính đã bị hai ông Lê Nguyên Long và ông Ngô Hải Quảng phản đối đến rất nặng lời. Riêng ông Lê Nguyên Long vì ức quá ông đã vung cả hai tay chỉ ngay sát vào ngực áo cà sa của từng ông Sư la lớn tôi xin ghi lại nguyên văn như sau đây :

« Trung tướng bảo chúng tôi đi đánh cộng sản hả ? Đánh cộng sản đâu cần phải đi xa. Cộng sản là thầy chùa đây nì, thầy chùa là cộng sản đây nì. »( đây nì: đây này).

Tôi không muốn nhắc lại dài dòng, tôi chỉ nói thêm là khi đó có nhiều người không chịu ra khỏi chùa, họ đòi phải đưa Thích Đôn Hậu, Thích Minh Chiếu và các thầy chùa cùng nội vụ ra tòa, đòi thầy chùa phải trả lời tại sao bắt họ ? Họ có tội gì ? Thầy chùa lấy tư cách gì để bắt giam, đánh đập họ bốn mươi ngày ? Nhưng họ đã không đòi được công đạo, vì chính quyền lúc ấy khiếp nhược, cầu an.

Cho đến bây giờ, tôi cũng không hiểu tại sao tướng Đính lại nói : « Tôi đến để trả tự do cho các anh … » Phải chăng chính tướng Đính đã ra lệnh cho « Quân đoàn Vạn Hạnh » bắt giam các vị ấy ? Vì chỉ có người ra lệnh và người bắt giam mới có tư cách « để trả tự do ». Và cả hai ông tướng đều nói đến hàng trăm người đã thiệt mạng, nhưng tại sao không đưa ra được một bằng chứng cụ thể ? Còn tôi, tôi có đủ bằng chứng và nhân chứng sống cũng như tên, họ, chánh, trú quán của những nạn nhân còn sống cũng như thân nhân của người đã chết.

Còn một điều khác nữa là không ai biết được những diễn biến bên trong giữa Phật giáo và tướng Đính, vì sau đó Tôn Thất Đính chẳng những không giúp chính phủ mà còn đứng về phe nổi loạn. Vì vậy, chính phủ phải gấp rút đưa quân ra Trung để dẹp loạn, khi thấy sự quyết liệt của chính phủ thì những người cầm đầu của loạn quân trong cái gọi là « Quân đoàn Vạn Hạnh » đã rút vào sào huyệt cuối cùng là « chùa » Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng.

Khi quân chính phủ đã kiểm soát toàn thành phố ĐN trừ chùa Pháp Lâm. Vì để hoàn tất kế hoạch hành quân mà không gây đổ máu, quân đội đã bao vây chùa Pháp Lâm, dùng loa phóng thanh kêu gọi tất cả hãy ra đầu hàng. Lúc này mọi người đều thấy những người này tuần tự bước ra khỏi chùa, hai tay đều giơ cao khỏi đầu và xin đầu hàng quân chính phủ, trong những người ra đầu hàng này người ta đã thấy những tên quen thuộc như sau đây :

1- Trung tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh quân đoàn 1, Vùng 1 chiến thuât, kiêm Đại biểu chính phủ tại vùng 1.

2- Đại tá Nguyễn Văn Mô, Tham mưu trưởng Quân đoàn 1

3- Đại tá Đàm Quang Yêu, Tư lệnh Biệt khu Quảng-Đà

4- Bác sĩ Nguyễn Vãn Mẫn, Thị trưởng Đà Nẵng

5- Lưu Văn Ngộ, Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia ĐN

6- Âu Quang Minh, Trưởng ty cảnh sát Quốc gia Quảng Nam.

Tiếp theo sau là những thuộc hạ của những người này, trong « Quân đoàn Vạn Hạnh »

Sau đó, Quân chính phủ đã ra lệnh buộc sáu ông Đính-Mô-Yêu-Mẫn-Ngộ- Minh và thuộc hạ phải leo lên xe bít bùng và chở lên phi trường đưa về Sài Gòn tống giam.

Nhưng tiếc rằng, chính phủ lúc ấy đã không làm hết việc. Tại sao chỉ bắt tướng Đính và năm người cầm đầu cùng loạn quân còn lại trong « chùa » mà không bắt thầy chùa. Nên nhớ, là chính phủ có quyền bắt tất cả những kẻ đã gây ra cuộc bạo loạn để đưa ra Tòa án Quân sự Mặt trận và bỏ tù, cũng như buộc hoàn tục, vì họ có tu thật đâu, họ chỉ núp dưới chiếc áo cà sa để làm giặc. Vì các « thầy » đều có mang lon sĩ quan Tuyên úy, như Thích Minh Chiếu, Thiếu tá trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1 Chiến thuật, Thích Như Huệ mang lon Đại úy Biệt động quân đi dụ dỗ trẻ em vị thành niên đến có bầu, bị gia đình các bé gái ở Hội An kiện ra tòa, và còn rất nhiều nữa.

Chính vì việc làm nửa vời này của chính phủ nên mới di họa cho đến 30-4-1975, và không biết sẽ còn đến bao lâu nữa ???!!!

Để trả lời tướng Tôn Thất Đính và trên hết là tôi muốn trân trọng gửi đến quý độc giả những sự kiện đã xãy ra thật chính xác như sau đây :

Trước hết, tướng Tôn Thất Đinh vì đã trốn trong các chùa. Sau cùng là Chùa Pháp Lâm nên không bao giờ thấy hay biết những gì xảy ra ở bên ngoài. Vì vậy, tôi khẳng định lại một lần nữa là những gì tướng Đính nói là hoàn toàn bịa đặt.

Thảm cảnh của đồng bào tại Thành Phố Đà Nẵng :

Sau hơn bốn tháng, người dân thành phố Đà Nẵng đang đối mặt với tử thần, thì Chiến dịch Hành quân Đinh Bộ Lĩnh được ban hành. Khi bộ chỉ huy lực lượng hành quân ĐBL đã chiếm được Đài phát thanh Đà Nẵng thì đã phát lời kêu gọi của Đại tá Nguyễn Thanh Yên, Chỉ huy trưởng Thủy quân Lục chiến kiêm Quân Trấn Trưởng Đà Nẵng như sau :

« … Nghiêm cấm quân sĩ không được xâm phạm chốn tôn nghiêm, tuyệt đối không được nổ súng bắn trả lại quân phản loạn cho dù có bị thương vong. Đồng thời kêu gọi đồng bào hãy tiếp tay quân đội chính phủ, khiêng các bàn thờ Phật tổ để tạm yên trên lề đường cho xe cộ lưu thông, vãn hồi an ninh trên lãnh thổ Quãng Nam-Đà Nẵng. Nhưng nhớ phải cẩn thận không được làm ngã đổ tắt nhang đèn. »

Vì bị đói khổ nhiều ngày tháng, nên đồng bào ĐN rất vui mừng hưởng ứng lời kêu gọi và đã hăng hái tiếp tay với các chiến sĩ dẹp loạn, trong đó có em Lê Quang San 16 tuổi, học sinh lớp Đệ tứ trường Trung học An Hải quận 3, con của ông bà Lê Quang Khâm, chánh quán thôn Bát Nhị, xã Kỳ Ngọc, quận Điện Bàn, Quảng Nam, lánh nạn cộng sản tại An Cư1, phường An Hải Đông, quân 3 ĐN.

Lúc đó, những kẻ cầm đầu của cuộc bạo loạn miền Trung đã rút vào sào huyệt cuối cùng là chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng, tại số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để phòng thủ.

Nhưng họ vẫn không chịu ngưng tiếng súng, mà từ trong chùa « Quân đoàn Vạn Hạnh » cứ bắn xả từng loạt đạn ra đường, những người khiêng dọn bỏ chạy, riêng em Lê Quang San vì sợ quá không chạy được nên đã chui xuống bàn Phật để tránh đạn thì bị lính của Quân đoànVạn Hạnh lôi vào cổng chùa Pháp Lâm, rồi giáng cho em những trận đòn thừa sống thiếu chết, sau đó nổ súng bắn em San chết gục tại phía trong cổng chùa Pháp Lâm; mặc dù đã chết, thân thể quắt queo bởi những cú đấm, đá của Quân Đoàn Vạn Hạnh; nhưng đôi mắt em Lê Quang San vẫn mỡ to nhìn vào nơi Phật Tự!!!

Sau đó, nghe điện báo của quân sĩ trấn thủ vùng này, Đại tá Nguyễn Thanh Yên đích thân đến tận nơi chứng kiến xác chết của em San. Rồi Đại tá Nguyễn Thanh Yên ra lệnh đưa thi thể em lên Quân Y Viện Duy Tân, chờ tìm thân nhân nhận xác.

Sau đó, qua tường trình của các viên chức an ninh, biết được gia đình em nghèo, cha làm nghề đạp xích lô, mẹ làm công việc nội trợ, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia, đã gửi đến gia đình em 20.000 đồng để giúp đỡ việc an táng cho em San.

Mặc dù chính phủ đưa quân ra Trung vào ngày 27-6-1966, nhưng cho đến hết tháng bảy các binh sĩ và đồng bào mới thu dọn sạch sẽ trên đường phố, đầu tháng tám các chợ mới đông, thành phố Đà Nẵng mới hồi sinh.

Về con số thương vong, ai cũng biết có người chết và rất nhiều người bị thương do đạn của « Quân đoàn Vạn Hạnh » từ trong các chùa bắn ra để giết chết đồng bào và quân chính phủ làm công việc dọn dẹp trên đường phố. Một số người bị thương vì bị « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » đánh đập và dùng gậy gộc, gạch, đá tấn công, bởi họ không chịu bãi thị, không chịu đi biểu tình, không cho khiêng bàn thờ Phật của họ ra đường. Còn quân chính phủ không dám nỗ súng vì trong các chùa còn có hàng trăm con tin là QCCVNCH. Nên biết, nếu đúng như lời của hai ông Thi-Đính thì còn loạn hơn như thế nữa. Bởi, chỉ cần có một người của loạn quân mà chết, dù là trúng gió chết hay bị chó cắn mà chết , thì chắc chắn quân bạo loạn sẽ khiêng cái xác ấy đi biểu tình và nói là quân chính phủ giết họ. Nhưng may mắn là trong suốt thời gian bạo loạn gió cũng hiền, chó cũng biết sợ nên « lực lượng tranh đấu » chẳng có ai trầy sướt gì cả.

Khi tình hình Đà Nẵng đã ổn định ông bà Lê Quang Khâm đã đến Đặc Khu Quân Trấn gặp Đại tá Nguyễn Thanh Yên, yêu cầu đưa ra pháp lý để làm sáng tỏ cái chết của em Lê Quang San thì được Đại tá trả lời :

« Tôi cũng là người Đà Nẵng, xin thành thật chia xẻ nỗi đau thương của ông bà, nếu cần gì tôi sẽ đề nghị ông Thị trưởng giúp đỡ. Còn điều ông bà yêu cầu, tôi xin lỗi không làm được, vì như mọi người đều biết các trụ sở đảng phái, nghiệp đoàn cũng bị tấn công, hàng trăm QCCVNCH đã bị bắt giam trong chùa Phổ Đà. Vì thế, trước mắt mọi người Phật giáo đã không còn tính chất của tôn giáo nữa. Song, không có cách nào khác hơn vì vũ khí của quân đội thì mang bên ngoài bộ quân phục, nhưng vũ khí của các thầy lại nằm bên trong chiếc áo cà sa ! Không phải một mình cháu San mà còn rất nhiều nạn nhân, trong đó có rất nhiều binh sĩ đã mất mạng ! Nếu tôi có làm điều gì hơn nữa thì chỉ tạo nhân tố cho họ dùng biển người trấn áp, mà không biết chừng lại nỗi loạn lên nữa, bởi dù là cọp trên rừng mà đã lạc xuống đồng thì cũng đành chịu vậy !

Vì hưởng ứng lời kêu gọi của quân đội mà ra nông nỗi, vậy tôi thành thật xin lỗi ông bà cũng như tất cả các gia đình của những nạn nhân xin hãy thấy được nỗi khó khãn của tôi mà dành cho tôi một sự cảm thông. »

Trước những lời chí tình của Đại tá Nguyễn Thanh Yên, ông Lê Quang Khâm đã nói :« Chúng tôi xin cám ơn Đại tá, nhưng ngoài việc muốn làm sáng tỏ về cái chết oan uổng của con tôi, chúng tôi không cần gì khác hơn nữa cả. »

Tôi cũng muốn nói thêm rằng, ngoài số người đã bị bắt còn có một số cán bộ đảng phái đã chạy thoát, bị Phật giáo truy đuổi, một số chạy lên được phi trường, một số chạy xuống khu Nội Hà, phường Thanh Bình thì được đồng bào miền Bắc di cư nuôi giấu trong nhà. Đặc biệt một số đông cùng đường đã chạy vào nhà thờ nhờ Cha Bề trên Nguyễn Văn Phương che chở, nhưng Cha Nguyễn Văn Phương nói :

« Nhà Chúa luôn luôn rộng mỡ, nhưng tiếc rằng không thể để quý vị trong nhà thờ được, vì như thế nhà thờ sẽ bị tấn công. »

Khi nghe vị Linh Mục nói như thế, các vị định quay lưng, và các vị đã có ý định mỡ đường máu để thoát thân. Nhưng, thật bất ngờ khi nghe Cha Phương nói:

« Thôi các vị hãy vào đây, nếu có chết thì cùng chết với nhau. Bởi các vị mà chết hết thì tôi sống làm sao yên, mà cũng không đáng sống ».

Nói xong Cha Nguyễn Văn Phương đã đưa tất cả các vị vào trong nhà thờ. Nhưng để bảo toàn cho sinh mạng của các vị này, đồng thời cũng để cho nhà thờ khỏi bị tấn công, nên Cha Phương đã cho người gọi ông Trần Văn Tuyên đến đón các vị ấy về nhà nuôi giấu, và vợ con ông bà Trần Văn Tuyên đã cơm bưng, nước rót hầu các vị ấy hơn hai tháng.

Ai cũng biết hơn bốn tháng trời Đà Nẵng là thành phố chết, có tiền không mua gạo được, mà số người ẩn trốn lại quá đông. Vì thế, Cha Phương đã kêu gọi đồng bào miền Bắc di cư đóng góp để nuôi họ. Riêng ông Trần Văn Tuyên vì nhà ông nuôi giấu người đông nhất, nên các vị ấy đã chứng kiến hàng ngày cảnh ông Tuyên đã mang bị đi xin từng lon gạo, từng tí mắm « của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn trùng » để đem về nuôi họ.

Và cũng nên biết, khi chạy đến nhà thờ của Cha Nguyễn Văn Phương, rồi đến trốn ở nhà ông bà Trần Văn Tuyên; tất cả các vị chỉ có một bộ áo quần trên người, ngoài ra không có một vật dụng nào khác. Ví thế, Linh Mục Nguyễn Văn Phương đã kêu gọi tất cả giáo dân đóng góp từng bộ áo quần, từng chiếc khăn, đôi dép cho đến những vật dụng cá nhân như kem, bàn chải răng …

Nhưng, đến khi sóng lặng, gió êm các vị này ai cũng có chức cả, nào là Chủ tịch, bí thư, nghị sĩ, dân biểu, nghị viên …Lúc này « vị » nào cũng đi đứng hiên ngang nên đa số không còn nhớ đến cái lúc cùng đường xông đại vào nhà người ta cầu cứu, cũng như lúc từ nhà thờ Thanh Bình đến nhà ông bà Trần Văn Tuyên « quý vị » đã vừa lết vừa bò vì sợ « Phật giáo » phát giác. Hơn ai hết, là đồng bào miền Bắc di cư họ thừa hiểu nếu « Phật giáo » biết được họ đã nuôi giấu « quý vị » trong nhà thì cả phường Thanh Bình cũng cùng số phận như Thanh Bồ trước đó; song họ đã bất chấp mọi thứ bởi thấy nguy là phải cứu, thế nhưng, làm người cái lịch sự tối thiểu là phải biết nói lời cám ơn khi được người khác cứu giúp. Nhưng « quý vị » ấy kể từ lúc rời khỏi Thanh Bình, trước 1975, « quý vị » ai cũng có quyền, có chức vậy mà đa số không hề có một lần ghé lại nhà ông bà Trần Văn Tuyên nói lời cám ơn. Ngày ông Trần Văn Tuyên mất cũng không có nữa lời chia buồn cùng gia đình.

Hiện nay, bà Trần Văn Tuyên và các con vẫn còn ở nguyên căn nhà cũ ở đường Cao Thắng, nơi mà ngày xưa « quý vị » từng ăn trốn ngủ lén hơn hai tháng ở đó.

Trước ngày vượt biển, tôi có đến nhà bà Trần Văn Tuyên nhiều lần, bà nói cười rất vui vẻ khi nhắc lại những ngày nuôi giấu các vị ấy trong nhà. Lúc ấy, các con của ông bà cũng như tất cả thiếu nhi phường Thanh Bình, theo sự hướng dẫn của bố mẹ, chúng đã trở thành đội canh phòng quanh phường để giữ an ninh cho các vị. Tôi nhớ tên từng « vị » đấy.

Khi nhắc lại điều này, tôi không sánh « quý vị » với Hàn Tín xưa. Tôi chỉ nhớ trong truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du có đoạn nàng Kiều của lầu xanh, khi thoát cơn bĩ cục đã mượn oai của Từ Hải để ân đền, oán trả. Trong truyện Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu, có nói đến tên tiểu đồng hàng ngày đi xin cơm về cúng mộ Lục Vân Tiên :

« … Sáng đi khuyên giáo tối về cúng đơm,

Dốc lòng trả nợ áo cơm,

Sống mà trọn nghĩa, thác thơm danh hiền. »

Lúc thi ân, ông bà Trần Văn Tuyên không hề mong « quý vị » đền đáp, nhưng là những kẻ đã thọ ân mà suốt bao nhiêu năm qua « quý vị » đã thực sự quên đi những ngày tháng ấy thì rõ ràng là « quý vị » đã không xứng danh là quân tử.

Trên đây, là những lời tôi muốn nhắc lại cái tình người với các « vị chính khách ». Còn nói đến cuôc bạo loạn bàn Phật xuống đường vào mùa hè 1966, thì còn quá nhiều nhưng bài viết đã dài. Tôi xin tạm dừng lại ở nơi đây. Xin tái ngộ quý độc giả với những tài liệu về Thích Thiện Hào, Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Minh và rất nhiều « ông » Thích nữa của Phật Giáo Ấn Quang cũng trên trang báo này; và về Cuộc Thảm Sát Thanh Bồ-Đức Lợi, Đà Nẵng 24-8-1964.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_CuocBaoLoanBanThoPhatXuongDuongTaiMienTrung_Muahe1966.htm

Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm sát Mậu Thân: 1968-2008

http://vimeo.com/19278268

http://vimeo.com/hochiminhancut

LTS.- Lịch sử cận đại của nước nhà đã bị bọn việt-gian cộng-sản làm tay sai, tuân lệnh Nga, Tàu đem súng đạn về bắn phá quê hương, trong đó đã không ít kẻ lợi dụng dưới nhiều chiêu bài, hình thức của đảng phái, tổ chức, tôn giáo… để tiếp tay cho việt-gian cộng sản giết dân hại nước.

Một trong những biến cố bi thảm nhất mà bọn việt-gian cộng-sản đã tàn sát, chôn sống tập thể hàng ngàn người dân Việt tại cố-đô Huế vào dịp Tết Mậu Thân 1968.

Hồn Việt trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc bài viết dưới đây của tác giả Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm sát Mậu Thân: 1968-2008

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Bây giờ là những ngày cuối năm; chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa là Xuân Mậu Tý lại trở về trên đất nước. Nhìn vào các trang báo, nhất là trên mạng lưới toàn cầu đã xuất hiện rất nhiều những bài viết về Tết Mậu Thân, 1968. Tại quốc nội, đã có rất nhiều những bài viết để ca tụng cuộc thảm sát là: « Kỷ Niệm Bốn Mươi Năm Chiến Thắng Mậu Thân »; hoặc « Kỷ Niêm Bốn Mươi Năm Cuộc Tổng Công Kích và Nỗi Dậy của Đồng bào Miền Nam ». Qua những bài viết ấy, các tác giả đã viết trong niềm vui và kiêu hãnh được gọi là « chiến thắng ».

Nhưng, đối với những người dân của Miền Nam Tự Do cái mà CSVN gọi là « Cuộc Tổng Công Kích… Tổng Nỗi Dậy … » là một cuộc thảm sát, là nỗi đau đớn khôn cùng và mãi mãi không bao giờ có thể quên được; khi nhìn lại những hình ảnh, qua những đoạn phim với những bộ xương trắng lạnh vừa được quật lên từ những hố, hầm tập thể, những vành khăn tang phủ trắng mái đầu, những tiếng nấc nghẹn, những dòng huyết lệ chảy dài trên má của những người mẹ, người vợ, khóc chồng, khóc con; những tiếng khóc làm đau xé đến tận tâm can, những tiếng khóc như thấu đến Trời cao! Những nỗi đau mà ngôn ngữ của nhân loại không thể nào diễn đạt!!!

Trong những đớn đau trùng trùng chất ngất ấy, kể từ Tết Mậu Thân: 1968- 2008, suốt bốn mươi năm qua, đáng lẽ chính những người đã gây ra, đã gieo rắc tang thương trên khắp mọi miền của đất nước; chính họ phải nói lên những lời tạ tội. Nhưng không, bởi mù lòa tận trong tâm trí, nên họ đã không biết được những hành vi tội ác của chính họ đã gây ra. Chẳng những thế, mà họ còn công khai viết lại những hành vi tàn ác, bất nhân của bốn mươi năm về trước.

Nhân dịp tưởng niệm bốn mươi năm cuộc thảm sát Mậu Thân. Trước khi viết lại những tội ác của những kẻ đã nhúng tay vào máu của đồng bào vô tội; tôi xin phép các bậc phụ huynh, để xin được có lời thành kính chia xẻ muộn màng đến các gia đình và các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968, kể cả những gia đình và cũng là nạn nhân của miền Bắc Việt Nam; bởi chính họ hay người thân cũng đã là nạn nhân của cái gọi là « Sinh Bắc tử Nam » đã bị Hà Nội đẩy vào Nam, để rồi đã phải bỏ mình hoặc trở thành tàn phế trong trận chiến Mậu Thân. Một trận chiến đáng lẽ không nên để xảy ra, nếu Cộng sản Hà Nội không có một quyết định sai lầm để rồi nó đã trở thành một đại tội đối với dân tộc, mà đời đời khó xóa nhòa trong tâm khảm của người dân Việt.

Người Cộng sản Việt Nam thường biện minh rằng: « Quyết định cuộc Tổng công kích Mậu Thân của chúng ta cũng như quyết định của vua Quang Trung … ». Tôi không biết cái đầu của những người Cộng Sản Việt Nam nó chứa những thứ gì mà họ lại đem so sánh như vậy. Bởi, ngày xưa vua Quang Trung đánh quân nhà Thanh, quân Tàu, là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc; vì thế, người Việt Nam có quyền tận dụng tất cả những thủ đoạn hầu để chiến thắng quân thù, vì giặc Tàu là đội quân xâm lăng. Còn « Cuộc tổng công kích tết Mậu Thân » là CSVN đã quyết định xuống tay giết hại đồng bào miền Nam trong những ngày thiêng liêng là Tết cổ truyền của dân tộc, chưa nói đến chuyện vi phạm Hưu Chiến trong ba ngày tết.

Những kẻ đã nhúng tay vào máu của đồng bào trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968:

* Tại Sài Gòn – Hòa Thượng Thích Trí Dũng:

Và bây giờ, tôi xin phép quý độc giả để trở lại với những tên đồ tể trong cuộc thảm sát kinh hoàng này:

Trước hết, phải kể rõ cho mọi người cùng biết đến những hành vi làm giặc của một «Vị Cao Tăng » của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ( Ấn Quang) đó là « Hòa thượng » Thích Trí Dũng, hiện đương còn sống tại Việt Nam, qua những lời kể của chính « Hòa thượng » Thích Trí Dũng về những công lao từng nuôi giấu Lực lượng Biệt động Sài Gòn-Gia Định, thuộc Lữ đoàn 316, trong đó có Thiếu tướng Việt Cộng Trần Hải Phụng và một số lượng vũ khí lớn lao được chính Thích Trí Dũng đã cạy nắp mộ của ông Ngô Đình Cẩn, một người yêu nước và chống cộng, rồi đem bỏ tất cả súng đạn vào, để bắt cái xác chết của ông Ngô Đình Cẩn phải giữ súng đạn của Việt cộng từ năm 1964 cho đến ngày 30-4-1975. Đặc biệt, trong cuộc thảm sát tết Mậu Thân, Thích Trí Dũng đã là một tên đồ tể, đã từng xuống tay sát hại dân lành. Tôi xin mời quý vị cùng đọc những lời giới thiệu của « nhà báo » Việt Nhân cùng lời kể của chính Thích Trí Dũng bằng giấy trắng mực đen trên tờ Thế Giới Mới số 220, xuất bản ngày thứ hai 20-1-1997 tại Sài Gòn, nơi trang 66-67 và 68. Sau đó in thành sách: « Tài Trí Việt Nam: Người Dựng Chùa Một Cột ở Miền Nam ». Tôi xin trích lại nguyên văn như sau:

* « Hòa Thượng Thích Trí Dũng đã đóng góp cho cách mạng rất nhiều, ông là nhà sư được Hồ Chủ Tịch viếng thăm và mời cơm… Tên tuổi ông được gắn liền với quá trình xây dựng Chùa Một Cột ( Nam Thiên Nhất Trụ) ở miền Nam …. Chùa Nam Thiên Nhất Trụ ( NTNT) hiện tọa lạc tại số 1/90 đường Nguyễn Du, thị Trấn Thủ Đức, ( TP Hồ Chí Minh), được khởi công xây dựng theo mẫu chùa Một Cột tức chùa Diên Hựu- một công trình văn hóa nỗi tiếng có từ thời Lý, ở thủ đô Hà Nội.

Hòa Thượng Thích Trí Dũng kể lại:

« Khi xây dựng chùa Nam Thiên nhất Trụ ( Chùa Một Cột tại miền Nam) chính quyền Ngô Đình Diệm đã nhiều lần ngăn cản vì sợ chùa sẽ khơi dậy trong lòng người dân đang sống ở nữa miền đất nước bị người Mỹ chiếm đóng, ý thức dân tộc, sự mong muốn đấu tranh cho nước nhà thống nhất, độc lập và tự do. Lúc đó, đại diện văn phòng phủ Tổng Thống Sài Gòn bảo rằng: Hòa thượng muốn làm gì thì làm nhưng không được xây Chùa Một Cột. Tôi hỏi tại sao, họ trả lời: « Nếu Chùa Một Cột được xây dựng thì sau này cộng sản Bắc Việt sẽ vào cư ngụ ở đây ». ( Ôi! Tổng Thống Ngô Đình Diệm là vị đã Tiên Tri được tất cả mọi sự, lời người viết). Nhưng bất chấp tất cả, chùa Nam Thiên Nhất Trụ vẫn được xây dựng. Chính trong quá trình đào hồ Long Nhẫn để định móng xây chùa, những người thợ đã phát hiện ra tảng đá lớn dài 1,3m, dày 0,2m. Nhờ mãnh vỡ, mọi người mới biết đây không phải là đá, khi đập ra, họ thấy bên trong có một cổ vật bằng bạch kim, hình tròn, đường kính 0,38m, dày hơn 1cm, nặng 6,2kg, trên mặt khắc 4 chữ Hán « Ngũ Tử Đăng Khoa » và 21 hoa văn đặc sắc, cổ vật này được nhà tư sản người Hoa là Lý Long Thân đòi mua với giá 4 triệu đồng ( bốn triệu đồng) và 200 lượng vàng (hai trăm lượng vàng) thời giá lúc đó. Người Mỹ khi khảo sát cổ vật cũng đã ngõ ý được đổi bằng một bệnh viện 3 tầng với 600 giường, có đầy đủ dụng cụ Y khoa. Cả Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi biết cũng đã cử người xuống thương lượng xin được lấy cổ vật ấy, hứa sẽ đáp ứng mọi yêu cầu, nhưng tôi ( HT Thích Trí Dũng) là người chủ trì việc xây cất chùa vẫn một mực chối từ và đem giấu cổ vật đi. Cho đến khi nước nhà thống nhất tôi đã tình nguyện hiến cổ vật cho nhà nước: Ngày 25-8-1988, Phó Thủ tướng Phan Văn Khải, Thượng tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Trần Hải Phụng, giáo sư Trần Văn Giàu cùng các nhà nghiên cứu khảo cổ đã đến tiếp nhận cổ vật đem vế trưng bày ở phòng « Sài Gòn xưa » của Bảo tàng cách mạng TP. Hồ Chí Minh.

* Hòa Thượng Thích Trí Dũng kể về những thành tích cách mạng:

« Năm 1947, hơn 2000 nhân sĩ, trí thức yêu nước bị phái Công Giáo phản động bắt giam ở nhà hầm Phát Diệm. Lúc đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Hồ Tử Du với lá thư riêng của Hồ Chủ Tịch đã đến Đồng Đắc ủy nhiệm cho tôi- trên cương vị Đại diện Phật giáo Cứu quốc Trung ương- bằng mọi cách phải giải thoát. Nhờ sự hậu thuẫn của cách mạng, việc giải thoát đã thành công. Với thành tích này, tôi được Hồ Chủ Tịch khen thưởng và được tướng Nguyễn Sơn mời làm cố vấn. Sau khi giải thoát cho 2000 nhân sĩ, trí thức, tôi bị bọn Công Giáo phản động tuyên án tử hình. Để tránh sự trả thù và thể theo yêu cầu của một số Phật tử Nam Kỳ, năm 1953 tôi vào miền Nam.

Từ khi vào Nam tôi đã xây chùa Linh Giác ở Đà Lạt, chùa Phổ Chiếu, Phổ Minh ở Gò Vấp, chùa Phổ Quang ở Tân Bình, tôi quyết đinh xây dựng Chùa Một Cột tại làng Đại Học Thủ Đức, phỏng theo mô hình Chùa Diên Hựu (Một Cột) ở Hà Nội. Bị chính quyền Ngô Đình Diệm cản ngăn, tôi về mướn người rào kín khu đất định xây chùa lại, thuê thợ đến làm từ 4 giờ chiều đến 11 giờ đêm. Biết được sự kiện tôi lén xây dựng chùa, chính quyền Diệm sai người đến yêu cầu tôi phá ngay vì lý do chính trị. Tôi nói với họ: Tôi chỉ biết xây chứ không biết phá. Cản ngăn không được, họ lại đưa tiền cho tôi để tôi xây dựng chùa khác, nhưng tôi không chịu. Thế là họ đành để tôi xây dựng chùa mà không lấy tiền lại.

Năm 1964, tại Chùa Một Cột ( Nam Thiên Nhất Trụ) Thủ Đức qua trung gian là anh Bùi Kỳ Vân, anh Nguyễn Đức Lộc là Chính trị viên đội Biệt động Thủ Đức, tôi gặp anh Nguyễn Văn Bá, ông Nguyễn Văn Thăng hiện đều là anh hùng Quân đội Nhân dân Việt Nam và đều ở Đội Biệt động Sài Gòn-Gia Định ngày ấy. Họ đã nhờ tôi tạo điều kiện cho Lực lượng Biệt động Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316 xây dựng cơ sở bí mật tại Chùa Một Cột và Chùa Phổ Quang ở gần sân bay Tân Sơn Nhất-là hai ngôi chùa do tôi kiến tạo và trụ trì. Tôi đồng ý, thế là hai ngôi chùa này trở thành hai cơ sở hoạt động bí mật của Biệt động Sài Gòn-Gia Định cho đến ngày 30-4-1975.

· Trong cuộc Tổng công kích Mậu Thân 1968, Chùa Phổ Quang là điểm khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất; ở đây tôi đã qua mắt địch, để che giấu một số lượng lớn vũ khí và Lực lượng Biệt động Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316. Chùa Phổ Quang cũng là nơi ở của Thiếu tướng Trần Hải Phụng và anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Bá, chùa thường xuyên bị địch để ý. Để che mắt địch, chúng tôi đã cạy nắp mồ Ngô Đình Cẩn em ruột Ngô Đình Diệm, chôn trong chùa Phổ Quang để giấu vũ khí. Chính vì vậy, địch không ngờ tới. Còn sự di chuyển của các chiến sĩ Lực lượng Biệt động thì đích thân tôi đã lái xe hơi chở họ nên địch không thể ngờ được. Vì thế, vũ khí và con người được giữ gìn cho đến giờ chót. »

Quý vị vừa đọc qua những lời kể của chính « Hòa Thượng » Thích Trí Dũng, từng là thành viên lãnh đạo Trung ương Phật giáo cứu quốc từ năm 1946; với những thành tích thâm niên làm cộng sản. Đặc biệt trong cuộc thảm sát Mậu Thân 1968, như đã trích ở trên, là một bằng chứng không thể chối cãi, tôi nghĩ rằng không cần phải viết thêm điều gì nữa cả.

Tuy nhiên, có một điều đáng nói là trước đây vào tháng 4 năm 1998, Thích Trí Dũng sang Hoa Kỳ để làm công tác ngoại vận, khi đến các chùa Thích Trí Dũng đã bị đông đão Phật tử phản đối thì tất cả các hàng tăng lữ có mặt tại Hoa Kỳ đã ra « Thông bạch-Bạch thư » gồm có nhiều chữ ký của các sư sãi nội dung nguyên văn như sau:

Thông Bạch của hàng Giáo Phẩm Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Chúng tôi ký tên dưới đây là hàng giáo phẩm đứng đầu các tổ chức Phật giáo Việt Nam đang hành đạo tại Hoa Kỳ minh định rằng:

Đại lão Hòa thượng Thích Trí Dũng, là một bậc đạo hạnh chân tu, ấu niên xuất gia, đã đi hành đạo tại miền Nam Việt Nam từ năm 1954. Đại lão Hòa thượng luôn luôn hướng về Phật sự, từ thiện, xã hội, lập chùa mở cảnh. Ngài đã tạo một ngôi chùa « Nam Thiên Nhất Trụ » tại làng Đại Học Thủ Đức từ năm 1972. Hiện nay ngôi chùa này là một danh lam mang sắc diện Văn Hóa Lịch Sử Phật Giáo hưng thịnh từ thời nhà Lý. Đại lão Hòa thượng Thích Trí Dũng trong chuyến viếng thăm Phật Giáo các nước Á Châu do cộng đồng Phật Giáo thỉnh mời; Ngài có ghé thăm các Pháp hữu Sơn Môn tại các tu viện, Phật cảnh Già Lam tại Hoa Kỳ. Ngài không hề tham gia bất cứ tổ chức chính trị nào từ năm 1954. Chúng tôi luôn luôn tôn kính Ngài là bậc Trưởng Thượng Cao Tăng.

Ngày 27 tháng 5 năm 1998.

Đồng ký tên:

– HT Thích Thanh Cát: Tăng thống Giáo hội Liên Tông Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

– HT Thích Mãn Giác: Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

– HT Thích Hộ Giác: Tăng Thống Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam hải ngoại- Chủ tịch Hội đồng điều hành Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ.

– HT Thích Giác Nhiên: Pháp chủ Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới.

– HT Thích Minh Thông: Tổng thư ký Hội đồng Phật giáo Á Châu tại Hoa Kỳ.

Một lần nữa quý độc giả lại đọc thêm những lời lẽ của các « cao tăng » trong cái « Thông Bạch của hàng giáo phẩm đứng đầu các tổ chức Phật giáo Việt Nam đang hành đạo tại Hoa Kỳ minh định » như trên đây; tôi nghĩ rằng quý độc giả đã thấy mọi vấn đề đều chẳng có một tí nào minh bạch cả. Bởi thế, nên tôi thấy không cần phải viết thêm điều gì mà xin dành sự phán xét cho quý vị. Ngoài ra, Thích Trí Dũng cũng cho biết: Cả Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi biết cũng đã cử người xuống thương lượng xin được lấy cổ vật ấy, hứa sẽ đáp ứng mọi yêu cầu, sau khi không ngăn cản được việc xây chùa, nên đành phải đưa tiền cho Thích Trí Dũng xây chùa Nam Thiên Nhất Trụ. Như vậy, ngay từ đầu Thích Trí Dũng đã ngang nhiên chiếm đất rồi tự ý làm chùa và Nam Thiên Nhất Trụ đã do chính tiền bạc của Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà có. Nhưng không riêng chùa Nam Thiên Nhất Trụ mà tất cả các chùa từ ba miền Nam-Trung-Bắc, kể từ thưở xa xưa là do các Triều đình, các Chúa Nguyễn … các quan, đến hàng lý trưởng, trùm trưởng đã xây dựng. Rồi đến hai nền Cộng Hòa Việt Nam cũng đã do tiền bạc của chính phủ, của các Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Quận trưởng, xă trưởng… cung cấp để xây dựng và Phật giáo cũng đã ngang nhiên chiếm dụng đất làm chùa, chứ chẳng có một tờ giấy gì để làm bằng chứng là chủ quyền-sỡ hữu. Như thế, những ngôi chùa tại Việt Nam hết thảy đều vĩnh viễn thuộc về di sản của Quốc Gia. Vì vậy, không một phe phái nào có thể tranh giành được cả.

Riêng Hòa thượng Thích Tâm Châu không ký vào cái « Thông Bạch » này mà chỉ nói: « Chỉ biết trước kia Hòa thượng Thích Trí Dũng có tham gia vào Hội đồng Liên tôn và Trung ương Phật giáo cứu quốc » ngoài ra không nói gì thêm. Mặc dù vậy, nhưng nhiều người đã nói rằng Hòa thượng Thích Tâm Châu biết rõ nhưng không chịu nói.

Nhưng, bất cứ kẻ nào ngoại cuộc muốn nói bất kể điều gì, cũng không bằng những lời của chính « Hòa thượng » Thích Trí Dũng bằng giấy trắng mực đen công khai trên sách- báo với cái tựa đề: « Tài Trí Việt Nam: Người dựng Chùa Một Cột ở Miền Nam ».

* Thượng Tọa Thích Trí Quang:

Ttriquang

Khi nhắc đến « Thượng tọa » Thích Trí Quang, là nói đến một « nhà sư » đã vi phạm hết tất cả những điều mà trong « Ngũ Giới » của nhà Phật đã nghiêm cấm. Thích Trí Quang đã từng gieo máu lữa trong các cuộc bạo loạn trên khắp Miền Nam Tự Do; nhưng kinh hoàng nhất vẫn là cuộc « đấu tranh bàn Phật xuống đường » tại miền Trung. Đã có quá nhiều những bài viết về Thích Trí Quang. Song có nhiều điều tôi không thấy vị nào nhắc đến, tôi có nhiều tài liệu chứng minh. Vì thế, nhân đây tôi chỉ nói đến một điều như sau:

Khi hay tin Hồ Chí Minh chết, « Thượng tọa »Thích Trí Quang đã tổ chức lễ cầu siêu-lễ truy điệu ngay tại chùa Ấn Quang, có nhiều « phật tử » tham dự. Trong buổi lễ truy điệu này Thích Trí Quang đã sữ dụng những bông hoa màu đỏ, và bông hoa màu vàng đặt ở giữa, tượng trưng cho cờ đỏ sao vàng của đảng cộng sản, làm thành một vòng hoa, hai bên treo đôi câu đối:

· « Nam-Bắc toàn dân quy thượng chính;

· Á-Âu thế giới kính tu mi ».

Hai chữ cuối của hai câu đối là chữ « Chính » và chữ « Mi », đọc lái hay ngược lại là Chí Minh. Và trong bài điếu văn Thích Trí Quang đã đọc trong lễ truy điệu có đoạn như sau:

· « Nhớ đến Bác càng thương càng khóc, thấy bọn giặc thêm hận thêm thù. Khóc là khóc đấng thiên tài lỗi lạc, đuổi xâm lăng đòi độc lập tự do, trọn đời mãi âu lo cho dân tộc, quê hương đó, nước non còn đó, uất hận thay, vật đổi sao dời. Thương tiếc bấy! Hoa trôi nước chảy. Nghĩ mấy đoạn lệ tràn chan chứa, nhớ công ơn cảm động can tràng … Thù là thù bọn tàn bạo dã man, mong cướp nước hại người, làm những việc bất lương vô nghĩa … »

Trên đây, chỉ là một trong những việc làm của Thích Trí Quang. Chỉ chừng ấy thôi, mọi người chắc không một ai kể cả Thích Trí Quang có thể chối cãi được. Vì không thể ghi chép hết, nên tôi đành phải xin gác lại để viết tiếp về những « cao tăng » khác.

* Cuộc Thảm Sát Tại Huế và Hòa Thượng Thích Đôn Hậu:

HTDonHau_2

Trước đây, tôi đã nói qua về Thích Đôn Hậu, bởi những hành vi cộng sản, đăc biệt là trong cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường tại thành phố Đà Nẵng; vì thế, dân Đà Nẵng đã thường gọi là « Thích Đâm Hậu-Thích Đoản Hậu ».

Tại miền Trung, đặc biệt là tại Đà Nẵng, từ trước ngày 30/4/1975, đã có rất nhiều sư sãi Ấn Quang từng gieo rắc tang thương, máu lữa cho đồng bào vô tội; song có lẽ ít ai biết được những “tăng sĩ” đó gần hết là người Quảng Trị- Huế, đã được Thích Đôn Hậu đưa vào Đà Nẵng để “xây dựng cơ sở”, đã tìm mọi cách để nắm giữ những chức vụ quan trọng để chuẩn bị cho những cuộc nỗi loạn cướp chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, trong số này có những tên nỗi tiếng sắt máu quen thuộc như: Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Vùng 1, Quân khu 1.Kiêm Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo Đà Nẵng… Tôi sẽ viết đầy đủ về những hành vi độc ác của những sư sãi cộng sản này ở một bài khác. Riêng Thích Minh Chiếu hiện nay đương là chủ:

“Chùa Phật GiáoViệt Nam” tại 1651 S. King St. Seattle, WA. 98144, USA. Điện thoại số: (206) 323-2269. ( Địa chỉ và số điện thoại này cho đến nay vẫn không thay đổi).

trai

TT Thích Minh Chiếu Trưởng Ban HDPT tỉnh phát biểu khai mạc

gdp3

Thích Minh Chiếu đã đứng đầu hầu hết các cuộc thảm sát tại Đà Nẵng; từ cuộc thảm sát tại Thanh bồ-Đức Lợi- 24/8/1964- Cuộc “đấu tranh” bàn Phật xuống đường mùa hè 1966 và Tết Mậu Thân, 1968, trong cuộc tấn công của cộng quân vào thành phố Đà Nẵng … Sau ngày 30/4/1975, Thích Minh Chiếu sang Hoa Kỳ cũng liên tục được “suy cử” vào “Viện Hóa Đạo II ”. Ngoài ra còn nhiều “tăng sĩ” nữa như : Thích Minh Tuấn: Hiệu trưởng trường Trung học Bồ Đề, Đà Nẵng, Phó Đại diện Tỉnh hội Đà Nẵng. Ngày 30/4/1975, Thích Minh Tuấn đã cùng một số sư sãi Phật giáo Ấn Quang đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng để rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố Đà Nẵng như tôi đã từng viết và sẽ tiếp tục viết thêm vì chưa đầy đủ.

ht7

Đại đức Thích Minh Tuấn

Nói đến cuộc thảm sát tại Huế, tôi biết có nhiều vị nào còn lưu giữ được những tài liệu về Huế. Riêng tôi, hiện vẫn có trong tay những tài liệu và hình ảnh chính xác về những tên đồ tể trong cuộc thảm sát này. Đứng đầu là một « cao tăng » của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất:Hòa thượng Thích Đôn Hậu, người nắm giữ nhiều chức tước trong hàng giáo phẩm của Ấn Quang và là người nắm tất cả quyền sinh sát trong trận chiến Mậu Thân tại Huế; đồng thời HT Thích Đôn Hậu còn có một số đông đồ đệ nỗi tiếng có máu lạnh, giết người không biết gớm tay; những kẻ đó gần hết là dân Quảng Trị-Huế, sống tại Huế, hoặc gốc Quảng Trị-Huế nhưng đã được Thích Đôn Hậu đưa vào Thành phố Đà Nẵng để hoạt động cộng sản và xây dựng cơ sở, đa số hiện vẫn còn đương sống ở trong và ngoài nước.

Trước đây, tôi đã có viết qua về Thích Đôn Hậu; song đây là một bài viết để tưởng niệm bốn mươi năm cuộc thảm sát Mậu Thân, 1968-2008. Vì vậy, một lần nữa, tôi tự thấy cần phải nêu lên tất cả những chứng tích và cũng là những tội ác của Thích Đôn Hậu như sau đây:

· Hòa thượng Thích Đôn Hậu, tên thật là Diệp Trương Thuần, sinh năm Ất Tỵ ( 16/2/1905) tại làng Xuân An, xã Thiện Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

· Năm 1945: Chủ tịch Hội Phật giáo cứu quốc Trung Bộ, kiêm Chủ tịch Hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên, trụ trì chùa Thiên Mụ (Huế).

· Năm 1947: Cố vấn Đạo hạnh Hội Phật giáo Trung phần.

· Năm 1949: Chánh Hội trưởng Tổng trị sự Hội Phật giáo Trung Việt.

· Năm 1952: Tại Đại hội giáo hội Tăng già toàn quốc được « suy cử » làm Giám luật Giáo hội Tăng già toàn quốc.

· Năm 1963: « Cố vấn Phong trào đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm ».

· Năm 1968 ( Tết Mậu Thân ): Với những chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam – Ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam- Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Miền Vạn Hạnh ( tức miền Trung) Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho những đồ đệ như: Lê Văn Hảo, hiện có mặt tại Paris ( Pháp quốc), Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Xuân Huy … và cả lũ cộng sản nằm vùng tại Huế đã mở « Tòa án nhân dân » ở trong « chùa » Tường Vân và « chùa » Quang Tự, để lần lượt bắt hàng trăm người ra « xử tội »bằng cách chém, giết vô cùng dã man và tàn ác, rồi chôn xác của đồng bào ngay tại sân chùa. Sau đó, đã tiếp tục mở thêm những phiên tòa khác để chỉ tuyên án tử hình hàng ngàn đồng bào vô tội ở nhiều nơi khác, trong đó có bốn vị giáo sư ngoại quốc, Linh Mục Bửu Đồng cùng đông đảo giáo dân; nhưng tuyệt đối không hề có một sư sãi nào của Phật giáo Ấn Quang bị trầy sướt một tí gì cả. Khi Quân đội VNCH tái chiếm thành phố Huế, Thích Đôn Hậu đã cùng Việt công chạy ra chiến khu. Sau đó, Thích Đôn Hậu ra Bắc và đã được và « lấy làm vinh dự vì đã được gặp, được ngồi ăn chung và chụp hình chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh » (chúng tôi đang có trong tay những tấm hình đó, chúng tôi sẽ lần lượt đưa những tấm hình của những tên thầy chùa đầu trọc, mặc áo cà sa, nhưng trên ngực lại đeo lủng lẳng những tấm Huân chương, Huy chuong do cộng sản Hà Nội trao gắn). Trở lại với Thích Đôn Hậu, mặc dù ra chiến khu; nhưng Thích đôn Hậu đã để lại hai « nhà sư » thân cận vì nghĩ rẵng chính phủ không biết, hoặc không thể nghi ngờ gì về họ; bởi đã nhiều năm hai « nhà sư » này là người được Đức Từ Cung vì không biết họ là cộng sản, nên đã giao cho công việc hàng ngày lo chăm sóc các lăng mộ của Hoàng tộc, đó là Hòa thượng Thích Như Ý, tọa chủ chùa Trà Am và là Phụ tá Pháp sự Chánh Đại diện miền Vạn Hạnh; và Thượng tọa Thích Quảng Lợi là Tùy viên của Chánh Đại diện miền Vạn Hạnh ( Thích Đôn Hậu) cùng hơn hai trăm cơ sở nằm vùng; mục đích để hoạt động cộng sản hợp pháp. Nhưng, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã bắt được quả tang và tịch thu rất nhiều tài liệu quan trọng. Vì vậy, cả hai người này đã bị bắt giam. Sau đó, được Đức Từ Cung vì nghĩ đến công lao của hai « vị sư » đã nhiều năm chăm sóc các lăng mộ của Hoàng tộc, nên đã nhờ đến một người lãnh đạo chính trị tại miền Trung can thiệp với Đại tá Lê Văn Thân tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên, kiêm thị trưởng Huế. Vì vậy, hai « vị sư » này không bị đưa ra Tòa án Quân sự Mặt trận mà chỉ bị xử phạt hành chánh.

HTNhuY

Hòa Thượng Thích Như Ý
(Khai Sơn Tổ Đình Linh Sơn Pháp Bảo, TP Nha Trang)

htp2

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Lợi, Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích.

thichducnhuan

HT. THÍCH ĐỨC NHUẬN

HTThichTriThu

Đại Lão Hòa Thượng THÍCH TRÍ THỦ

· Tuy nhiên, vì những bằng chứng làm cộng sản quá lớn nên chính quyền không thể tha bỗng được; vì thế, sau những lần truy xét, Ủy ban An ninh tỉnh Thừa Thiên-Huế đã kết án « Thượng tọa » Thích Quảng Lợi: « An trí và lưu đày Côn Đảo »; khi ra Côn Đảo Thích Quảng Lợi đã ở chung với « Hòa thượng » Thích Minh Nguyệt tại chùa Sơn Hòa Tự. Thích Minh Nguyệt sau năm 1975, trở về Sài Gòn là một nhân vật sát cánh, kề vai với Hòa thượng Thích Đức Nhuận trong « Giáo hội Phật giáo Việt Nam », nhìn vào tấm hình của « Hòa thượng » Thích Minh Nguyệt mặc áo cà sa, đầu trọc lóc, với những tấm Huân chương-Huy chương đỏ chói đã được Hà Nội trao gắn trên ngực, ai mà không khiếp đảm trước những « vị cao tăng » ngày nay!!!

· Năm 1973, Thích Quảng Lợi được trao trả nhân viên dân sự tại Lộc Ninh; song Thích Quảng Lợi đã xin ở lại trên lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa theo thủ tục Chiêu Hồi.

· Riêng « Hòa thượng » Thích Như Ý, chỉ bị xử phạt 10 năm đồ lưu; không bị ngồi tù nhưng phải ra khỏi Thừa Thiên-Huế và ngược lại không được trở lại Thừa Thiên-Huế. Trong thời gian chịu án đồ lưu Thích Như Ý khi thì vào Sài Gòn ở chùa Già Lam cùng Hòa thượng Thích Trí Thủ, lúc ra Đà Nẵng thì ở trong chùa Pháp Lâm với Hòa thượng Thích Quang Thể. Cho đến năm 1974, cả hai « vị sư » Thích Như Ý và Thích Quảng Lợi đã được sự vận động của vị ân nhân đã nói ở trên để cả hai được về chùa Khuôn hội Phật giáo Sơn Trà, phường Thọ Quang, quận 3, Đà Nẵng. Tại đây, Thích Quảng Lợi là Trụ trì, Thích Như Ý là cố vấn pháp sự.

· Trở lại với những « công lao » của Thích Đôn Hậu cả đạo lẫn đời như đã kể, Thích Đôn Hậu đã từng nắm giữ những chức vụ quan trọng như nhiều người đã biết, nên ngày 28/2/1969: Thích Đôn Hậu đã nhân danh « Đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam » ra Bắc gặp Hồ Chí Minh và Tôn Đức Thắng, nhìn vào những tấm hình chụp trong buổi « tiếp kiến » này cho thấy Thích Đôn Hậu ngồi đối diện Hồ Chí Minh, bên cạnh là Tôn Đức Thắng, tất cả có mặt 12 người, trong đó có Phùng Văn Cung.

· Do những « công lao » to lớn đối với « cách mạng » Thích Đôn Hậu đã được Hà Nội đưa đi thăm nhiều nước như: Nga, Tiệp Khắc, Mông Cổ …và đi dự nhiều hội nghị quốc tế cộng sản.

· Năm 1975: Như một hung thần, Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho đồ đệ khắp nơi đưa xe ra tận núi rừng để rước bộ đội miền Bắc vào miền Nam. Tại Đà Nẵng ngày 18/5/1975, Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho Phật tử và đồng bào: « Mỗi gia đình phải có ít nhất một người đi diễn hành, khi đi mọi người phải cầm đèn gió trên tay để đốt sáng trong đêm cho thêm hồ hởi, phấn khởi và vừa đi vừa hô khẩu hiệu,đến sáng ngày 19/5/1975, tất cả phải tập trung về chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng để mừng lễ sinh nhật của Hồ chủ tịch vĩ đại ». Tôi sẽ viết về cuộc diễn hành tại Đà Nẵng trong một bài khác; và Thích Đôn Hậu đã chủ trì lễ sinh nhật của Hồ Chí Minh tại « chùa » Pháp Lâm ở số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng.

· Năm 1976: Đắc cử đại biểu Quốc hội cộng sản khóa VI đơn vị Bình-Trị-Thiên, và là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

ht08

Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh và Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ

ht02

Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh và Hòa thượng Thích Thanh Tứ tại phiên họp của Hai Hội đồng trước Đại hội

HTThichThienSieu

htts

htthanhtu0254

HT.Thích Thanh Từ

cxl0833

Chân dung cố HT.Thích Thiện Hào

· Năm 1981: Tại Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Trí Thủ, Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Thanh Từ, Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Hòa thượng Thích Thiện Hào … Thích Đôn Hậu đã được « suy cử » vào Hội đồng chứng minh và giữ chức Phó pháp chủ kiêm giám luật. Đã được Hà Nội trao tặng những phần thưởng như sau:

· Huân chương Hồ Chí Minh- Huân chương Độc lập- Huy chương vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân …

· Ngày 23/4/1992, lúc 19 giờ 55 phút ( nhằm ngày 21-3 âm lịch ) Thích Đôn Hậu đã chết tại chùa Thiên Mụ, Huế. Chấm dứt một kiếp người chỉ biết gieo tai họa, đau thương, tang tóc cho đồng bào vô tội.

Tại Đà Nẵng:

Theo như các bài viết trên các trang báo ở trong nước như tờ An ninh Thế giới thì «… Cuộc tổng công kích tết Mậu Thân 1968 là phải đánh chiếm các thành phố Sài Gòn-Đà Nẵng-Huế … »; nhưng lại không cho biết tại sao khi đánh vào Đà Nẵng thì quân Bắc Việt đã phải thất bại ngay từ đầu, không chiếm nỗi thành phố Đà Nẵng, dù chỉ một giờ. Mặc dù, Thích Minh Chiếu đã trang bị vũ khí cho « Phật tử » sẵn sàng tiếp ứng tại « chùa » Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Nhưng rồi cả thầy trò Thích Minh Chiếu không thể hành động được vì Quân Đội đã bám sát chùa Phổ Đà cũng như các chùa khác. Vì thế, sau một trận giao tranh thì một số tàn quân đã phải bỏ chạy, một số đông cán binh Bắc Việt đã chết nằm dọc theo cầu Trình Minh Thế và phía Đồ Xu; hai cánh quân này đã tấn công vào Trại Nguyễn Tri Phương: Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Quân Khu 1.

small_1196441073_nv

Chùa Phổ Đà

Tuy nhiên, dù cộng quân đã thất bại, nhưng cũng gây thương vong cho một số đồng bào vô tội, như tôi đã nói là trên đường chạy loạn, bà chị dâu tôi đã bảo tôi « phải chạy vào chùa Phổ Đà vì gần và an toàn nhất ».Nhưng khi vào đến sân chùa Phổ Đà chị em tôi đã thấy Thích Minh Chiếu mang súng, nên quá hoảng sợ phải quay trở về nhà. Trên đường về tôi đã nhìn thấy những xác bé thơ nằm rãi rác bên cầu Trình Minh Thế, dù đã chết, nhưng trên tay vẫn còn đôi viên pháo chưa kịp đốt!!!

Trở lại với các bài báo trong nước, theo tôi, không phải khi người ta không nói có nghĩa là không biết, mà vì không muốn nói hay không được nói. Chính vì vậy, nên nhân đây tôi xin nói giúp về những nguyên nhân đã khiến cho cuộc tấn công của cộng quân vào thành phố Đà Nẵng đã phải thất bại một cách thê thảm:

Tại sao Cộng Sản không chiếm nỗi thành phố Đà Nẵng dù chỉ một giờ?.

Sau khi Nền Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ, ấp chiến lược bị phá bỏ. Vì thế, cộng quân dễ dàng đánh chiếm những quận miền núi, cũng như dễ dàng xâm nhập vào những thôn làng đã có sẵn những cán bộ cộng sản nằm vùng hoạt động hợp pháp. Tại Quảng Nam- Đà Nẵng trên tuyến đường Tam Kỳ-Đã Nẵng hàng ngày các loại xe chở khách chạy ngang qua Duy Xuyên và Điện Bàn là hai quận bị mất an ninh, và cũng là hang ổ của Việt cộng nằm vùng. Đặc công cộng sản thường xuyên đặt mìn, làm nỗ tung các loại xe chở khách, hoặc núp ở hai bên đường để nhắm bắn vào những chiếc xe chạy trên đường, gây thương vong cho rất nhiều hành khách. Vì vậy, chính quyền đã có lệnh các loại xe chỉ được chạy từ 9 giờ sáng sau khi quân đội đồng minh đã rà mìn và có cảnh sát kiểm soát; và đến 4 giờ chiều các loại xe phải ngưng không được chạy nữa để bảo toàn sinh mạng cho đồng bào. Nhưng, những biện pháp ấy vẫn không có hiệu quả; bởi cảnh sát không bao giờ dám kiểm soát những chiếc xe của các ông « nghị viên » và « tăng sĩ ». Đặc biệt tại thôn Thanh Quýt, quận Điện Bàn ( quê hương của Nguyễn Văn Trỗi), tại đấy có một vùng đất rộng lớn là nghĩa địa của chùa Khuôn hội Phật giáo Thanh Quýt, thường được gọi là « Gò Phật », nằm sát phía trái Quốc lộ 1. Nhưng vô cùng ác hại là cái nghĩa địa này không phải chỉ chôn những người chết mà lại còn được « chôn » những « người sống ». Nhưng những người sống này « bị chôn » mà không chết. Vì họ không phải là dân thường mà là những đặc công- du kích Việt Cộng đã tự đào những hầm, hố, rồi tự « chôn » mình để ôm mìn, chất nỗ TNT nằm chờ cơ hội thuận tiện là đem đặt xuống mặt đường để làm nỗ tung tan xác cả xe lẫn người.

Tôi xin nhắc lại để các vị mà ngày xưa từng biết đến một vụ ám sát tại Gò Phật hồi tưởng về một cái chết vô cùng thương tâm. Tôi không nhớ được ngày tháng; nhưng tôi nhớ vào cuối năm 1967, và biết nạn nhân đó là Trung tá Lê Bá Trừng, Trưởng ty An ninh Quân đội Đà Nẵng. Trong lúc về thăm quê tại làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam. Trên đường trở về Đà Nẵng trước 4 giờ chiều nhưng ông đã bị VC bắn bể bánh xe rồi dùng dao găm đâm nát bấy cả thân thể, Trung tá Lê Bá Trừng đã chết ngay giữa Gò Phật. Sau đó, chính cuộc hành quân để lấy xác của Trung tá Lê Bá Trừng mà quân đội VNCH đã khám phá ra Gò Phật là sào huyệt của đăc công-du kích Việt cộng và đã bắt sống nhiều « Phật tử » đang nằm dưới những hầm, hố để chờ cơ hội giết người.

Ấy thế mà có một «ông Nghị viên » tại Đà Nẵng, hàng ngày cứ ra vào Gò Phật rồi về Đà Nẵng có nhiều đêm ngủ luôn tại Thanh Quýt mà vẫn bình an vô sự. Đó là « Nghị viên » Nguyễn Hiếu « ông » này có lai lịch và những thành tích như sau:

Nguyễn Hiếu có một người em ruột tên Nguyễn Để, người Huế, đệ tử của Thích Đôn Hậu, mồ côi cha từ nhỏ, mẹ tái giá, vào Đà Nẵng lúc còn thiếu niên học nghề may. Sau đó lập gia đình, rồi chẳng biết làm sao cả hai anh em trở nên giàu to, cả hai mỗi người làm chủ một nhà may lớn nỗi tiếng tại Đà Nẵng. Nguyễn Hiếu làm chủ nhà may Đồng Tân, đường Độc Lập, đối diện chùa Long Thơ, sinh hoạt tại chùa, rồi làm Ủy viên trong Ban đại điện Tỉnh hội Đà Nẵng, được Phật giáo đưa ra tranh cử Nghị viên và đắc cử, còn Nguyễn Để làm chủ nhà may Bảo Toàn tại đường Đồng Khánh, cả hai đều là Phật tử đều làm công việc « Phật sự » rất đắc lực tại « chùa » Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm, tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Quảng Nam-Đà Nẵng.

Được sự sắp xếp của đồng hương là Thượng tọa Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1- Quân khu 1. Kiêm Chánh Đại điện tỉnh Giáo hội Phật giáo Đà Nẵng. Nghị viên Nguyễn Hiếu trở thành người tình của Nguyễn Thị Thùy Trang là chủ nhà may Thùy Trang, chuyên may áo dài nỗi tiếng tại đường Khải Định. Thùy Trang quê quán ở Thanh Quýt là chị họ của Nguyễn Văn Trỗi, sinh hoạt tại chùa Pháp Lâm. Có điều lạ là ai cũng biết Thùy Trang là nhân tình của Thích Minh Chiếu lại bỗng nhiên trở thành tình nhân của Nguyễn Hiếu. Điều này dân Đà Nẵng thường suy luận như sau:

« Cái con Thùy Trang là bồ của Thích Minh Chiếu, nó chỉ đóng vai bồ thằng Hiếu theo sự chỉ đạo của Minh Chiếu, chứ thằng Hiếu không dám đụng cái lông chân của con Thùy Trang đâu ».

Nhưng có người lại nói: « Cho dù có đóng vai bồ của thằng Hiếu đi nữa, thì bắt buộc con Thùy Trang cũng phải cho thằng Hiếu « tí xíu » chứ, thì thằng Hiếu nó mới chịu tự tay lái xe chở súng đạn cho con Thùy Trang một thời gian dài, rồi những đêm chúng nó chở nhau về ngủ lại ở gia đình con Thùy Trang ở Gò Phật, chẳng lẽ thằng Hiếu nó chịu « ngủ chay » hay sao? Có thằng nào ngu mà chịu vậy ».

Song ai cũng biết về vụ án nỗi tiếng này. Sau khi Hiếu được trả tự do, và cho đến năm 1975, Thùy Trang đã ở tù được 8 nãm mới được ra tù, trở về Đà Nẵng làm « Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng », lúc này Thích Minh Chiếu thì đã sang Hoa Kỳ, mà Thùy Trang vẫn không « nối lại tình xưa » với Hiếu. Chuyện Hiếu- Thùy Trang có « tí xíu » hay không, có lẽ Thích Minh Chiếu cũng không biết được, chỉ có hai người là Thùy Trang tại Đà Nẵng, và Nguyễn Hiếu đương có mặt tại Hoa Kỳ mới biết được mà thôi.

Trở lại với vụ án trên, tôi xin thuật lại vụ án Nguyễn Hiếu-Thùy Trang, để quý độc giả cùng suy gẫm. Tôi không nhớ chính xác ngày giờ; song nhớ thời gian này là vào cuối năm 1967, cận Tết Mậu Thân 1968, bởi thời gian này tình hình an ninh trên tuyến đường Đà Nẵng-Tam Kỳ mỗi ngày càng bất an. Vì thế, nên nút chặn tại ngã ba Huế, ở đấy giữa tuyến đường Tam Kỳ-Đà nẵng lại giáp với tuyến đường chạy ra đèo Hải Vân để đi Huế; nút chặn sinh tử này đã được giao cho Liên Đoàn Biệt Động Quân, Bộ chỉ huy đặt tại Phú Lộc, Đà Nẵng kiểm soát thay cho cảnh sát, nhưng Nguyễn Hiếu không hề hay biết nên vẫn an nhiên như thường lệ, cứ hàng ngày Hiếu chở Thùy Trang trên xe của Hiếu về quê Thùy Trang ở Gò Phật, Thanh Quýt có khi ngủ lại hôm sau mới về Đà Nẵng để chở thuốc lá cho Thùy Trang. Một điều ít có là chủ một nhà may áo dài lớn nỗi tiếng lại có nhan sắc, giàu có mà đi buôn thuốc lá, ( loại thuốc lá chỉ mới vừa thu hoạch, bó lại từng bó, còn nguyên cả cuống và lá, có mùi hôi nồng nặc) chẳng biết Hiếu có hiểu được chuyện ngược đời này đã khiến cả hai sa vào lưới hay không?

Thực ra, Nguyễn Hiếu và Thùy Trang đã ỷ vào ba lá bùa hộ mệnh đã có trong tay đó là: Sự vụ lệnh của Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1- Quân khu 1- Kiêm Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tại Đà Nẵng; Sự vụ lệnh thứ hai là của ông Ngô Đức Đường, Chủ tịch Hội đồng Thành phố Đà Nẵng cấp cho Nghị viên Nguyễn Hiếu để đi lại và sự vụ lệnh thứ ba là của Đại tá Lê Chí Cường, Thị trưởng Đà Nẵng. Bởi vậy, nên mỗi lần có cảnh sát chặn xe thì Hiếu cứ đưa ba cái Sự vụ lệnh đó ra, thì chẳng có cảnh sát nào dám kiểm soát xe của Hiếu cả. Nhưng « đi đêm có ngày gặp ma ». Hiếu đã không dè cái nút chặn ngã ba Huế đã thuộc quyền kiểm soát của Biệt Động Quân, để rồi một chiều cuối năm 1967, khi ông nghị viên Nguyễn Hiếu đang cùng Thùy Trang trên một chiếc xe tải chạy về Đà Nẵng, lúc xe vừa trờ đến ngã ba Huế thì bất ngờ có một Trung đội Biệt Động Quân, trong Quân phục chỉnh tề, súng gươm lấp lánh với tiếng hô: « Dừng xe lại ». Không còn cách nào khác hơn là theo lệnh của Quân đội;song Hiếu vẫn xuất trình ba cái sự vụ lệnh đã nói ở trên. Nhưng,« Biệt Động Quân- Sát » mà. Vì vậy, Hiếu và Thùy Trang đã hồn vía lên mây khi nghe các chiến sĩ Biệt Động Quân hét:

« Chúng tôi không cần xem giấy tờ gì cả, chỉ cần lục xét tất cả những gì đang có trên chiếc xe này mà thôi ».

Có lẽ đây là lần đầu tiên Hiếu và Thùy Trang biết thế nào là Quân lệnh; nên cả hai chỉ biết bước xuống xe để cho các chiến sĩ thi hành nhiệm vụ, và các chiến sĩ đã mở xét từng bao thuốc lá được bỏ trong những chiếc bao gạo loại sọc xanh 100 ký. Sau khi dỡ những bao thuốc lá xuổng khỏi xe, thì trước mắt các chiến sĩ Biệt Động Quân là cả trăm cây súng đủ loại đang nằm phía dưới. Bị bắt quả tang chở súng cho Việt cộng, cả hai không còn chạy chối vào đâu được nữa.

Sau khi thẩm cung, cả hai bị giam tại nhà giam Kho Đạn, chợ Cồn, Đà Nẵng. Nguyễn Thị Thùy Trang bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận, và đã bị kết án 10 năm tù ở, thụ án tại nhà giam Thủ Đức, cho đến 30/4/1975, Thùy Trang mới được trở về làm « Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng ».

Riêng « nghị viên » Nguyễn Hiếu chỉ ở nhà giam Kho đạn, Đà Nẵng, chưa đầy 6 tháng thì được trả tự do, không bị đưa ra tòa, không bị kết tội chánh hay tòng phạm, không hiểu vì lý do gì? Nhưng người dân Đà Nẵng thì thường nói với nhau rằng:

« Vì thằng cha Hiếu nó giàu, có nhiều tiền nó chạy cho những ông- bà lớn mới khỏi ra tòa, nên không bị ở tù ».

Bởi tại Đà Nẵng khi nghe đến Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Vùng 1, thì ai cũng biết hai vị nỗi tiếng Thanh – Liêm, khiến cho người dân Đà Nẵng rất quý trọng. Hai vị không bao giờ nhận tiền hối lộ, tôi nhớ đó là Luật sư Võ Nhất Minh. Chánh án Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I; và Thiếu tá Hồ Minh, Ủy viên Chính Phủ ( Công tố ủy viên Tòa Quân Sự Mặt Trận) Hai vị này chẳng những không bao giờ nhận tiền mà còn không bao giờ tha thứ cho bất cứ ai làm cộng sản, hễ đưa ra tòa thì chắc chắn bản án không bao giờ dưới mười năm tù ở. Vì thế, nhiều người nghĩ là phải có việc chạy tiền, bởi ai cũng biết Biệt Động Quân đã bắt quả tang Nguyễn Hiếu lái xe chở Thùy Trang trên xe chứa đầy cả trăm súng đạn của Việt cộng vào Đà Nẵng, mà tại sao Nguyễn Hiếu không bị đưa ra tòa, bởi dù không phải chánh phạm thì cũng là tòng phạm?

Ngoài ra, cũng có nhiều người cho rằng chính quyền sợ Thích Đôn Hậu nên không đưa Hiếu ra tòa, mà cũng chẳng dám đụng đến chính kẻ dẫn lối đưa đường mà ai cũng biết là Thích Minh Chiếu. Điều đáng nói là bởi chính phủ đã ban cho Thích Minh Chiếu cái chức Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1, Quân khu 1; là tạo cơ hội cho Thích Minh Chiếu ra tay thảm sát đồng bào Thanh Bồ-Đức Lợi vào ngày 24/08/1964, rồi đến cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường, mùa hè 1966, tại Đà Nẵng và làm giặc trong Tết Mậu Thân, 1968. Nhưng chính phủ càng khiếp nhược hơn nữa là sau khi biết rõ những hành vi của Thích Minh Chiếu rồi, trong khi Thích Minh Chiếu đang mang lon Thiếu tá, mà chỉ cách chức chứ không dám đưa Y ra Tòa án Quân sự Mặt trận, để Thích Minh Chiếu được sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Sau 1975, Thích Minh Chiếu lại sang Hoa Kỳ để làm chủ « Chùa Việt Nam ». Riêng Nguyễn Văn Để em ruột Nguyễn Văn Hiếu chủ nhà may Bảo Toàn, sau 1975, Để có bị giam tại Hội An, Quảng Nam, vì tội vượt biển cũng chưa đầy 6 tháng thì được trả tự do. Hiện cả Hiếu và Để đều đương định cư tại Hoa Kỳ để cùng Thích Minh Chiếu làm công việc « Phật sự ».

Nhà Chùa chứa súng đạn dưới hầm ngay dưới Chánh điện, tượng Phật tổ ngụy trang nắp hầm bí mật:

Và cũng qua điều tra bởi vụ án này mà chính quyền đã huy động một lực lượng gồm An Ninh Quân Đội-Ban II Đặc Khu Quân Trấn- Biệt Động Quân, đột nhập vào ngôi chùa của Khuôn hội Nại Hiên Tây, ( vì cảnh sát không bao giờ dám khám xét chùa) sau lưng Cổ Viện Chàm, trước trường Trung học Sao Mai, phía trái có nhiều kho chứa xăng, bên cạnh có cầu tàu thuộc Quân Cảng dùng để tiếp nhận chiến cụ, thường được gọi là Cầu Đạn, phía trên là cầu Trình Minh Thế, nối liền một quãng đường ngắn khoảng hơn 100 mét là Trại Nguyễn Tri Phương, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Quân Khu 1. Và đã khám phá ra được một căn hầm bí mật ngay dưới Chánh điện thờ Phật, phía trên được ngụy trang bằng một pho tượng Phật to lớn là nắp hầm để che giấu hơn hai trăm khẩu súng đạn đủ loại và chất nỗ TNT. Người quản nhiệm ngôi chùa này là một Khuôn hội trưởng- Giáo sư Nguyễn Đình Liệu dạy tại trường Trung học Bồ Đề do « Thượng tọa » Thích Minh Tuấn làm Hiệu trưởng;( ngày 29/3/1975, Thích Minh Tuấn đã công khai đưa cả đoàn xe ra tận núi rừng để rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố Đà nẵng). Sau đó ông Nguyễn Đình Liệu bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận và bị kết án 10 năm tù ở, thụ án tại Chí Hòa. Năm 1973, ông Liệu được trao trả nhân viên dân sự tại Lộc Ninh.

Cũng theo đấu vết của hai vụ án trên, các chiến sĩ cũng đã tiếp tục khám xét ngôi chùa của Khuôn hội Tân Ninh nằm gần Đặc Khu Quân Trấn, Đà Nẵng; tại ngôi « chùa » này cũng giống như « chùa » Nại Hiên Tây, cũng hơn hai trăm khẩu súng đạn đủ loại và chất nỗ TNT, nằm dưới hầm bí mật ngay dưới chánh điện; phía trên cũng ngụy trang bằng một pho tượng Phật to lớn. Nhưng may mắn hơn là bắt được hai tên đặc công Việt cộng người Quảng Trị đang ở trong chùa này. Khi thẩm cung hai tên này đã khai là đệ tử của Thích Đôn Hậu từ Quảng Trị vào Đà Nẵng bởi được Lê Thanh Bình là chủ của một chiếc xe vận tải, vợ chết, ngoại hình không được dễ coi, tuổi đời đã già ( nhưng cái đầu không già) có ba người con đã lớn, giàu có, nhà ở tại ngã tư đường Thống Nhất-Khải Định, Đà Nẵng. Lê Thanh Bình lại cũng có trong tay hai lá bùa hộ mệnh, đó là: Sự vụ lệnh của Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng I, Quân Khu I; và một «Lộ Trình Thư » của Thích Đôn Hậu, Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo miền Vạn Hạnh cấp, để trên danh nghĩa là chuyên chở thực phẩm cho Ban Đại diện Phật giáo miền Vạn Hạnh; nhưng thực ra là chuyên chở súng đạn cho Việt cộng, mà đã nhiều năm tháng do Lê Thanh Bình và Lê Thị Dưa, một cô gái trẻ, nhan sắc mặn mà, cả hai đều là người Triệu Phong, Quảng Trị, đệ tử của Thích Đôn Hậu và cũng trên danh nghĩa là tình nhân, nên thường xuyên đi với nhau cùng xe, giống như cặp Hiếu-Thùy Trang và đều là Phật tử sinh hoạt tại chùa Pháp Lâm với Hiếu-Thùy Trang; song khác hơn là Lê Thị Dưa sống chung nhà với Lê Thanh Bình. Và cũng bởi chính lời khai của hai đặc công mà An Ninh Quân Đội- Ban II Đặc Khu Quân Trấn và các chiến sĩ Biệt Động Quân đã vào tận nhà của Lê Thanh bình để lục soát; sau một hồi soát xét, các chiến sĩ đã khám phá ra một căn hầm cũng chứa đầy những súng đạn, nằm ngay dưới giường ngủ của Lê Thanh Bình và Lê Thị Dưa; và đến khi mở tủ áo dài của Lê Thị Dưa thì các chiến sĩ đã phát giác thêm phía sau một lớp áo dài chật ních là những khẩu B.40 được dựng khít dựa vào thành tủ đứng. Trong khi các chiến sĩ lôi những khẩu súng ra thì Lê Thanh Bình bỏ chạy, nhưng không thoát nỗi vòng vây của các chiến sĩ. Cuối cùng, Lê Thanh Bình phải chịu đầu hàng, bị bắt, bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận và đã bị kết án chung thân. Nhưng chẳng hiểu tại sao Lê Thanh Bình không bị đưa đi Chí Hòa hoặc Côn Đảo, như những trường hợp khác bị kết án nhiều năm? Khi thẩm cung cũng như lúc ra tòa nhờ có ông quân tử Tàu Lê Thanh Bình khai nhận hết tội: « Mọi việc làm này do một mình tôi làm, một mình tôi chịu, cô Lê thị Dưa không hề dính dáng, không hề hay biết ». Bởi thế, nên Dưa đã được tha bỗng. Có điều tội nghiệp cho Lê Thanh Bình là khi bị tuyên án chung thân phải ở tù tại nhà giam Kho Đạn, Đà Nẵng; mặc dù từng chung sống với nhau, cùng chở súng cho Việt cộng, nhưng suốt thời gian Lê Thanh Bình ở tù, chỉ có các con của Bình đi thăm cha, còn Dưa không một lần vào nhà giam thăm viếng. Cho đến năm 1975, Lê Thanh Bình được trả tự do, còn Lê Thị Dưa được làm Phó Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng bên cạnh Chủ tịch Nguyễn Thị Thùy Trang; lúc này ông quân tử Tàu Lê Thanh Bình vẫn nhớ đến « tiền cũ vàng xưa » nên có tìm đến với Lê Thị Dưa, song « bà » phó chủ tịch đã ca bài « Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi ». Và Lê Thanh Bình đã âm thầm, xót xa trở về cùng với các con; bởi « Thấp cơ (nên) thua trí đàn bà ».

Qua những vụ án đã kể ở trên. Theo tôi, không phải chỉ có ở chuyện ngày xưa, mà hiện nay và cả sau này nữa; các « thầy » luôn luôn có rất nhiều những chiếc bẫy Nguyễn Thị Thùy Trang- Lê Thị Dưa; và chắc chắn cũng có vô số những con nai « già » Nguyễn Hiếu –Lê Thanh Bình, hầu để thực hiện cho bằng được cái cuồng vọng tái lập Lý triều. Song tôi nghĩ có rất nhiều người đã hiểu, đã biết cái cuồng vọng này của Phật Giáo Ấn Quang mà tại sao tất cả đều im lặng?; nên tôi, bởi không muốn đất nước phải hứng chịu thêm những cảnh đau thương, tang tóc nào nữa. Vì thế, mười mấy năm về trước, dù chỉ là một phụ nữ bất tài,; nhưng được sự khuyến khích của ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ nhiệm Bán Nguyệt San Văn Nghệ Tiền Phong, tôi đã nhiều lần lên tiếng và tôi sẽ còn tiếp tục viết lại tất cả những gì tôi đã biết với những tài liệu vô cùng chính xác, để mong được góp một phần nhỏ bé vào trong công cuộc ngăn chặn những thảm họa đừng xảy ra cho đồng bào yêu quý của tôi.

Đọc qua những vụ án tại Đà Nẵng vào những ngày cuối cùng của năm 1967, cận tết Mậu Thân 1968. Chắc quý vị đã hiểu: Bởi vì mấy ngày cận Tết Mậu Thân các Lực lượng an ninh và quân đội đã tịch thu hàng ngàn khẩu súng và bắt giam hơn một ngàn Đặc công, Biệt động thành và Quân báo của Việt Cộng, trong đó có Hà Kỳ Ngộ và Bác sĩ Lê Minh Triết ông này làm việc tại Bệnh Viện Giải Phẩu ở đường Nguyễn Hoàng Đà Nẵng. Sau khi bị bắt, trong thời gian thẩm cung BS lê Minh Triết đã khai nhận chính ông ta là « Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Đà Nẵng » của Việt Cộng; nếu cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, 1968, thành công thì ông ta sẽ công khai ra làm việc với chức vụ này. Ngoài ra, còn một số cán bộ trực thuộc, đám này hoạt động hợp pháp; tất cả những tên Việt cộng này đều trú ngụ ở trong các « chùa » của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ( Ấn Quang), đồng thời cũng đã khám phá và tịch thu nhiều súng đạn ở trong nhiều nhà của « Phật tử » là đồng hương với Thích Đôn Hậu tại Đà Nẵng; vì quá nhiều vụ án làm cộng sản, nên tôi sẽ viết về những tên thuộc hạ của Hà Kỳ Ngộ và những « Phật tử » này trong một bài khác. Vì giới hạn của một bài viết, nên tôi chỉ nói về Hà Kỳ Ngộ tức Lê Thanh, quê ở Điện Bàn, Quảng Nam là Bí thư Thành ủy Đảng cộng sản tại Đà Nẵng, là người trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công thành phố Đà Nẵng,; và Bác Sĩ Lê Minh Triết người Duy Xuyên, Quảng Nam là « Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Đà Nẵng » Sau đó Hà Kỳ Ngộ và BS Lê Minh Triết đều bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận. Hà Kỳ Ngộ bị kết án chung thân. Bác sĩ Lê Minh Triết bị kết án 10 năm. Sau đó, Hà Kỳ Ngộ thọ hình tại Trại An Dưỡng, Côn Sơn, còn ông Ác sĩ Lê Minh Triết thì được làm việc tại Bệnh Viện tại Côn Sơn.

Với những chiến công to lớn của các Chiến Sĩ Biệt Động Quân đã bắt cả ngàn tên Đặc công, Biệt Động Thành và Quân báo của Việt Cộng; vì thế cộng quân mất liên lạc, nên vào đêm Giao Thừa Tết Mậu Thân, khi tấn công vào Đà Nẵng, ngay từ lúc đầu, Việt cộng đã lãnh nhận một thất bại quá nặng nề; và như đã nói là cộng quân không thể chiếm nỗi thành phố Đà Nẵng dù chỉ một giờ. Tôi thiễn nghĩ, tại Huế, vào trước Tết Mậu Thân, nếu cũng được sự kết hợp chặt chẻ của các lực lượng An Ninh và Quân Đội để theo dõi và kiểm soát mọi sự di chuyển của các loại xe, vì là thời chiến; và cũng đưa quân đội vào lục xét các chùa như ở Thành phố Đà Nẵng, thì biết đâu mọi sự có thể đã khác.

Tạm thay Lời Kết:

Viết đến đây, tôi bỗng hồi tưởng lại những cuộc thảm sát tại Việt Nam từ bao nhiêu năm qua: Cứ mỗi lần có một biến cố nào đó xãy ra bất cứ ở nơi đâu, là cũng đều có những bàn tay của sư sãi Ấn Quang nhúng vào. Một bằng chứng không thể chối cãi là trong cuộc tấn công của cộng quân vào Tết Mậu Thân, 1968. Tại Sài Gòn thì Thích Trí Dũng đã nuôi giấu « Lực lượng Biệt động thành Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316 của Việt cộng trong hai ngôi « chùa » Nam Thiên Nhất Trụ -Phổ Quang; và « chùa Phổ Quang đã là nơi khai hỏa để đánh sân bay Tân Sơn Nhất » như lời kể công khai của chính Thích Trí Dũng; rồi đến trước và sau ngày 30/4/1975, Phật Giáo Ấn Quang đã từng đưa xe ra tận núi rừng để rước bộ đội Bắc Việt vào các thành phố trên khắp lãnh thổ của miền Nam tự do. Rồi sau đó, Ấn Quang lại cũng lập « Tòa án nhân dân » ở các chùa tại Đà Nẵng cũng giống như những cái « Tòa án nhân dân » ở chùa Tường Vân và chùa Quang Tự tại Huế vào Tết Mậu Thân,1968, để chỉ xử tử tất cả những Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa. Nên biết, là trong đám bộ đội Bắc Việt, có tên miệng còn hôi sữa, khi vào các thành phố của miền Nam, nhìn thấy cảnh giàu sang, đẹp đẽ với những tiện nghi mà chúng chưa hề thấy bao giờ, chúng như từ trên cung trăng lạc xuống cõi trần, chúng không biết đường nào mà đi cả; nhưng chúng đã được chính các « thầy » đưa đường, dẫn lối và các « chùa » là những nơi trú đóng của cộng quân. Bởi thế, đám bộ đội Bắc Việt chúng không hề biết ai là Quân-Cán-Chính của Việt Nam Cộng Hòa. Chỉ có Thích Đôn Hậu và những tên đồ đệ đã tưởng rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ không bao giờ tái chiếm nỗi thành phố Huế; nên đã công khai làm cộng sản trước mặt đồng bào, trong đó có trẻ em đã nhìn thấy những hành vi cộng sản của Thích Đôn Hậu và những tên đệ tử. Cho đến lúc Việt cộng và Thích Đôn Hậu biết chắc sẽ thua trận, bắt buộc phải rút lui, nên trước khi cùng Việt cộng chạy ra chiến khu, Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho những tên đồ đệ phải ra tay chặt đầu, cắt cổ những chứng nhân này; nhằm để diệt khẩu, để trả thù và để lập công với đảng cộng sản.

Chính vì thế, cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968, tại Huế, với gần 7000 người đã bị giết chết; với những cách hành quyết vô cùng dã man và tàn ác, cộng thêm với không biết bao nhiêu người đã bị chết oan uổng trong trận chiến này trên khắp mọi miền của đất nước. Vì vậy, đối với cuộc sát hại thảm khốc, kinh hoàng này, dù là bốn mươi năm, bốn trăm năm, hay bốn nghìn năm nữa và cho đến ngày tận thế; thì những tội ác ngập Trời này cũng phải được chia đều cho Phật Giáo Ấn Quang và Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Chùa Phổ Đà

Tuy nhiên, dù cộng quân đã thất bại, nhưng cũng gây thương vong cho một số đồng bào vô tội, như tôi đã nói là trên đường chạy loạn, bà chị dâu tôi đã bảo tôi « phải chạy vào chùa Phổ Đà vì gần và an toàn nhất ».Nhưng khi vào đến sân chùa Phổ Đà chị em tôi đã thấy Thích Minh Chiếu mang súng, nên quá hoảng sợ phải quay trở về nhà. Trên đường về tôi đã nhìn thấy những xác bé thơ nằm rãi rác bên cầu Trình Minh Thế, dù đã chết, nhưng trên tay vẫn còn đôi viên pháo chưa kịp đốt!!!

Trở lại với các bài báo trong nước, theo tôi, không phải khi người ta không nói có nghĩa là không biết, mà vì không muốn nói hay không được nói. Chính vì vậy, nên nhân đây tôi xin nói giúp về những nguyên nhân đã khiến cho cuộc tấn công của cộng quân vào thành phố Đà Nẵng đã phải thất bại một cách thê thảm:

Tại sao Cộng Sản không chiếm nỗi thành phố Đà Nẵng dù chỉ một giờ?.

Sau khi Nền Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ, ấp chiến lược bị phá bỏ. Vì thế, cộng quân dễ dàng đánh chiếm những quận miền núi, cũng như dễ dàng xâm nhập vào những thôn làng đã có sẵn những cán bộ cộng sản nằm vùng hoạt động hợp pháp. Tại Quảng Nam- Đà Nẵng trên tuyến đường Tam Kỳ-Đã Nẵng hàng ngày các loại xe chở khách chạy ngang qua Duy Xuyên và Điện Bàn là hai quận bị mất an ninh, và cũng là hang ổ của Việt cộng nằm vùng. Đặc công cộng sản thường xuyên đặt mìn, làm nỗ tung các loại xe chở khách, hoặc núp ở hai bên đường để nhắm bắn vào những chiếc xe chạy trên đường, gây thương vong cho rất nhiều hành khách. Vì vậy, chính quyền đã có lệnh các loại xe chỉ được chạy từ 9 giờ sáng sau khi quân đội đồng minh đã rà mìn và có cảnh sát kiểm soát; và đến 4 giờ chiều các loại xe phải ngưng không được chạy nữa để bảo toàn sinh mạng cho đồng bào. Nhưng, những biện pháp ấy vẫn không có hiệu quả; bởi cảnh sát không bao giờ dám kiểm soát những chiếc xe của các ông « nghị viên » và « tăng sĩ ». Đặc biệt tại thôn Thanh Quýt, quận Điện Bàn ( quê hương của Nguyễn Văn Trỗi), tại đấy có một vùng đất rộng lớn là nghĩa địa của chùa Khuôn hội Phật giáo Thanh Quýt, thường được gọi là « Gò Phật », nằm sát phía trái Quốc lộ 1. Nhưng vô cùng ác hại là cái nghĩa địa này không phải chỉ chôn những người chết mà lại còn được « chôn » những « người sống ». Nhưng những người sống này « bị chôn » mà không chết. Vì họ không phải là dân thường mà là những đặc công- du kích Việt Cộng đã tự đào những hầm, hố, rồi tự « chôn » mình để ôm mìn, chất nỗ TNT nằm chờ cơ hội thuận tiện là đem đặt xuống mặt đường để làm nỗ tung tan xác cả xe lẫn người.

Tôi xin nhắc lại để các vị mà ngày xưa từng biết đến một vụ ám sát tại Gò Phật hồi tưởng về một cái chết vô cùng thương tâm. Tôi không nhớ được ngày tháng; nhưng tôi nhớ vào cuối năm 1967, và biết nạn nhân đó là Trung tá Lê Bá Trừng, Trưởng ty An ninh Quân đội Đà Nẵng. Trong lúc về thăm quê tại làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam. Trên đường trở về Đà Nẵng trước 4 giờ chiều nhưng ông đã bị VC bắn bể bánh xe rồi dùng dao găm đâm nát bấy cả thân thể, Trung tá Lê Bá Trừng đã chết ngay giữa Gò Phật. Sau đó, chính cuộc hành quân để lấy xác của Trung tá Lê Bá Trừng mà quân đội VNCH đã khám phá ra Gò Phật là sào huyệt của đăc công-du kích Việt cộng và đã bắt sống nhiều « Phật tử » đang nằm dưới những hầm, hố để chờ cơ hội giết người.

Ấy thế mà có một «ông Nghị viên » tại Đà Nẵng, hàng ngày cứ ra vào Gò Phật rồi về Đà Nẵng có nhiều đêm ngủ luôn tại Thanh Quýt mà vẫn bình an vô sự. Đó là « Nghị viên » Nguyễn Hiếu « ông » này có lai lịch và những thành tích như sau:

Nguyễn Hiếu có một người em ruột tên Nguyễn Để, người Huế, đệ tử của Thích Đôn Hậu, mồ côi cha từ nhỏ, mẹ tái giá, vào Đà Nẵng lúc còn thiếu niên học nghề may. Sau đó lập gia đình, rồi chẳng biết làm sao cả hai anh em trở nên giàu to, cả hai mỗi người làm chủ một nhà may lớn nỗi tiếng tại Đà Nẵng. Nguyễn Hiếu làm chủ nhà may Đồng Tân, đường Độc Lập, đối diện chùa Long Thơ, sinh hoạt tại chùa, rồi làm Ủy viên trong Ban đại điện Tỉnh hội Đà Nẵng, được Phật giáo đưa ra tranh cử Nghị viên và đắc cử, còn Nguyễn Để làm chủ nhà may Bảo Toàn tại đường Đồng Khánh, cả hai đều là Phật tử đều làm công việc « Phật sự » rất đắc lực tại « chùa » Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm, tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Quảng Nam-Đà Nẵng.

Được sự sắp xếp của đồng hương là Thượng tọa Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1- Quân khu 1. Kiêm Chánh Đại điện tỉnh Giáo hội Phật giáo Đà Nẵng. Nghị viên Nguyễn Hiếu trở thành người tình của Nguyễn Thị Thùy Trang là chủ nhà may Thùy Trang, chuyên may áo dài nỗi tiếng tại đường Khải Định. Thùy Trang quê quán ở Thanh Quýt là chị họ của Nguyễn Văn Trỗi, sinh hoạt tại chùa Pháp Lâm. Có điều lạ là ai cũng biết Thùy Trang là nhân tình của Thích Minh Chiếu lại bỗng nhiên trở thành tình nhân của Nguyễn Hiếu. Điều này dân Đà Nẵng thường suy luận như sau:

« Cái con Thùy Trang là bồ của Thích Minh Chiếu, nó chỉ đóng vai bồ thằng Hiếu theo sự chỉ đạo của Minh Chiếu, chứ thằng Hiếu không dám đụng cái lông chân của con Thùy Trang đâu ».

Nhưng có người lại nói: « Cho dù có đóng vai bồ của thằng Hiếu đi nữa, thì bắt buộc con Thùy Trang cũng phải cho thằng Hiếu « tí xíu » chứ, thì thằng Hiếu nó mới chịu tự tay lái xe chở súng đạn cho con Thùy Trang một thời gian dài, rồi những đêm chúng nó chở nhau về ngủ lại ở gia đình con Thùy Trang ở Gò Phật, chẳng lẽ thằng Hiếu nó chịu « ngủ chay » hay sao? Có thằng nào ngu mà chịu vậy ».

Song ai cũng biết về vụ án nỗi tiếng này. Sau khi Hiếu được trả tự do, và cho đến năm 1975, Thùy Trang đã ở tù được 8 nãm mới được ra tù, trở về Đà Nẵng làm « Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng », lúc này Thích Minh Chiếu thì đã sang Hoa Kỳ, mà Thùy Trang vẫn không « nối lại tình xưa » với Hiếu. Chuyện Hiếu- Thùy Trang có « tí xíu » hay không, có lẽ Thích Minh Chiếu cũng không biết được, chỉ có hai người là Thùy Trang tại Đà Nẵng, và Nguyễn Hiếu đương có mặt tại Hoa Kỳ mới biết được mà thôi.

Trở lại với vụ án trên, tôi xin thuật lại vụ án Nguyễn Hiếu-Thùy Trang, để quý độc giả cùng suy gẫm. Tôi không nhớ chính xác ngày giờ; song nhớ thời gian này là vào cuối năm 1967, cận Tết Mậu Thân 1968, bởi thời gian này tình hình an ninh trên tuyến đường Đà Nẵng-Tam Kỳ mỗi ngày càng bất an. Vì thế, nên nút chặn tại ngã ba Huế, ở đấy giữa tuyến đường Tam Kỳ-Đà nẵng lại giáp với tuyến đường chạy ra đèo Hải Vân để đi Huế; nút chặn sinh tử này đã được giao cho Liên Đoàn Biệt Động Quân, Bộ chỉ huy đặt tại Phú Lộc, Đà Nẵng kiểm soát thay cho cảnh sát, nhưng Nguyễn Hiếu không hề hay biết nên vẫn an nhiên như thường lệ, cứ hàng ngày Hiếu chở Thùy Trang trên xe của Hiếu về quê Thùy Trang ở Gò Phật, Thanh Quýt có khi ngủ lại hôm sau mới về Đà Nẵng để chở thuốc lá cho Thùy Trang. Một điều ít có là chủ một nhà may áo dài lớn nỗi tiếng lại có nhan sắc, giàu có mà đi buôn thuốc lá, ( loại thuốc lá chỉ mới vừa thu hoạch, bó lại từng bó, còn nguyên cả cuống và lá, có mùi hôi nồng nặc) chẳng biết Hiếu có hiểu được chuyện ngược đời này đã khiến cả hai sa vào lưới hay không?

Thực ra, Nguyễn Hiếu và Thùy Trang đã ỷ vào ba lá bùa hộ mệnh đã có trong tay đó là: Sự vụ lệnh của Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1- Quân khu 1- Kiêm Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tại Đà Nẵng; Sự vụ lệnh thứ hai là của ông Ngô Đức Đường, Chủ tịch Hội đồng Thành phố Đà Nẵng cấp cho Nghị viên Nguyễn Hiếu để đi lại và sự vụ lệnh thứ ba là của Đại tá Lê Chí Cường, Thị trưởng Đà Nẵng. Bởi vậy, nên mỗi lần có cảnh sát chặn xe thì Hiếu cứ đưa ba cái Sự vụ lệnh đó ra, thì chẳng có cảnh sát nào dám kiểm soát xe của Hiếu cả. Nhưng « đi đêm có ngày gặp ma ». Hiếu đã không dè cái nút chặn ngã ba Huế đã thuộc quyền kiểm soát của Biệt Động Quân, để rồi một chiều cuối năm 1967, khi ông nghị viên Nguyễn Hiếu đang cùng Thùy Trang trên một chiếc xe tải chạy về Đà Nẵng, lúc xe vừa trờ đến ngã ba Huế thì bất ngờ có một Trung đội Biệt Động Quân, trong Quân phục chỉnh tề, súng gươm lấp lánh với tiếng hô: « Dừng xe lại ». Không còn cách nào khác hơn là theo lệnh của Quân đội;song Hiếu vẫn xuất trình ba cái sự vụ lệnh đã nói ở trên. Nhưng,« Biệt Động Quân- Sát » mà. Vì vậy, Hiếu và Thùy Trang đã hồn vía lên mây khi nghe các chiến sĩ Biệt Động Quân hét:

« Chúng tôi không cần xem giấy tờ gì cả, chỉ cần lục xét tất cả những gì đang có trên chiếc xe này mà thôi ».

Có lẽ đây là lần đầu tiên Hiếu và Thùy Trang biết thế nào là Quân lệnh; nên cả hai chỉ biết bước xuống xe để cho các chiến sĩ thi hành nhiệm vụ, và các chiến sĩ đã mở xét từng bao thuốc lá được bỏ trong những chiếc bao gạo loại sọc xanh 100 ký. Sau khi dỡ những bao thuốc lá xuổng khỏi xe, thì trước mắt các chiến sĩ Biệt Động Quân là cả trăm cây súng đủ loại đang nằm phía dưới. Bị bắt quả tang chở súng cho Việt cộng, cả hai không còn chạy chối vào đâu được nữa.

Sau khi thẩm cung, cả hai bị giam tại nhà giam Kho Đạn, chợ Cồn, Đà Nẵng. Nguyễn Thị Thùy Trang bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận, và đã bị kết án 10 năm tù ở, thụ án tại nhà giam Thủ Đức, cho đến 30/4/1975, Thùy Trang mới được trở về làm « Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng ».

Riêng « nghị viên » Nguyễn Hiếu chỉ ở nhà giam Kho đạn, Đà Nẵng, chưa đầy 6 tháng thì được trả tự do, không bị đưa ra tòa, không bị kết tội chánh hay tòng phạm, không hiểu vì lý do gì? Nhưng người dân Đà Nẵng thì thường nói với nhau rằng:

« Vì thằng cha Hiếu nó giàu, có nhiều tiền nó chạy cho những ông- bà lớn mới khỏi ra tòa, nên không bị ở tù ».

Bởi tại Đà Nẵng khi nghe đến Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Vùng 1, thì ai cũng biết hai vị nỗi tiếng Thanh – Liêm, khiến cho người dân Đà Nẵng rất quý trọng. Hai vị không bao giờ nhận tiền hối lộ, tôi nhớ đó là Luật sư Võ Nhất Minh. Chánh án Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I; và Thiếu tá Hồ Minh, Ủy viên Chính Phủ ( Công tố ủy viên Tòa Quân Sự Mặt Trận) Hai vị này chẳng những không bao giờ nhận tiền mà còn không bao giờ tha thứ cho bất cứ ai làm cộng sản, hễ đưa ra tòa thì chắc chắn bản án không bao giờ dưới mười năm tù ở. Vì thế, nhiều người nghĩ là phải có việc chạy tiền, bởi ai cũng biết Biệt Động Quân đã bắt quả tang Nguyễn Hiếu lái xe chở Thùy Trang trên xe chứa đầy cả trăm súng đạn của Việt cộng vào Đà Nẵng, mà tại sao Nguyễn Hiếu không bị đưa ra tòa, bởi dù không phải chánh phạm thì cũng là tòng phạm?

Ngoài ra, cũng có nhiều người cho rằng chính quyền sợ Thích Đôn Hậu nên không đưa Hiếu ra tòa, mà cũng chẳng dám đụng đến chính kẻ dẫn lối đưa đường mà ai cũng biết là Thích Minh Chiếu. Điều đáng nói là bởi chính phủ đã ban cho Thích Minh Chiếu cái chức Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1, Quân khu 1; là tạo cơ hội cho Thích Minh Chiếu ra tay thảm sát đồng bào Thanh Bồ-Đức Lợi vào ngày 24/08/1964, rồi đến cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường, mùa hè 1966, tại Đà Nẵng và làm giặc trong Tết Mậu Thân, 1968. Nhưng chính phủ càng khiếp nhược hơn nữa là sau khi biết rõ những hành vi của Thích Minh Chiếu rồi, trong khi Thích Minh Chiếu đang mang lon Thiếu tá, mà chỉ cách chức chứ không dám đưa Y ra Tòa án Quân sự Mặt trận, để Thích Minh Chiếu được sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Sau 1975, Thích Minh Chiếu lại sang Hoa Kỳ để làm chủ « Chùa Việt Nam ». Riêng Nguyễn Văn Để em ruột Nguyễn Văn Hiếu chủ nhà may Bảo Toàn, sau 1975, Để có bị giam tại Hội An, Quảng Nam, vì tội vượt biển cũng chưa đầy 6 tháng thì được trả tự do. Hiện cả Hiếu và Để đều đương định cư tại Hoa Kỳ để cùng Thích Minh Chiếu làm công việc « Phật sự ».

Nhà Chùa chứa súng đạn dưới hầm ngay dưới Chánh điện, tượng Phật tổ ngụy trang nắp hầm bí mật:

Và cũng qua điều tra bởi vụ án này mà chính quyền đã huy động một lực lượng gồm An Ninh Quân Đội-Ban II Đặc Khu Quân Trấn- Biệt Động Quân, đột nhập vào ngôi chùa của Khuôn hội Nại Hiên Tây, ( vì cảnh sát không bao giờ dám khám xét chùa) sau lưng Cổ Viện Chàm, trước trường Trung học Sao Mai, phía trái có nhiều kho chứa xăng, bên cạnh có cầu tàu thuộc Quân Cảng dùng để tiếp nhận chiến cụ, thường được gọi là Cầu Đạn, phía trên là cầu Trình Minh Thế, nối liền một quãng đường ngắn khoảng hơn 100 mét là Trại Nguyễn Tri Phương, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Quân Khu 1. Và đã khám phá ra được một căn hầm bí mật ngay dưới Chánh điện thờ Phật, phía trên được ngụy trang bằng một pho tượng Phật to lớn là nắp hầm để che giấu hơn hai trăm khẩu súng đạn đủ loại và chất nỗ TNT. Người quản nhiệm ngôi chùa này là một Khuôn hội trưởng- Giáo sư Nguyễn Đình Liệu dạy tại trường Trung học Bồ Đề do « Thượng tọa » Thích Minh Tuấn làm Hiệu trưởng;( ngày 29/3/1975, Thích Minh Tuấn đã công khai đưa cả đoàn xe ra tận núi rừng để rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố Đà nẵng). Sau đó ông Nguyễn Đình Liệu bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận và bị kết án 10 năm tù ở, thụ án tại Chí Hòa. Năm 1973, ông Liệu được trao trả nhân viên dân sự tại Lộc Ninh.

Cũng theo đấu vết của hai vụ án trên, các chiến sĩ cũng đã tiếp tục khám xét ngôi chùa của Khuôn hội Tân Ninh nằm gần Đặc Khu Quân Trấn, Đà Nẵng; tại ngôi « chùa » này cũng giống như « chùa » Nại Hiên Tây, cũng hơn hai trăm khẩu súng đạn đủ loại và chất nỗ TNT, nằm dưới hầm bí mật ngay dưới chánh điện; phía trên cũng ngụy trang bằng một pho tượng Phật to lớn. Nhưng may mắn hơn là bắt được hai tên đặc công Việt cộng người Quảng Trị đang ở trong chùa này. Khi thẩm cung hai tên này đã khai là đệ tử của Thích Đôn Hậu từ Quảng Trị vào Đà Nẵng bởi được Lê Thanh Bình là chủ của một chiếc xe vận tải, vợ chết, ngoại hình không được dễ coi, tuổi đời đã già ( nhưng cái đầu không già) có ba người con đã lớn, giàu có, nhà ở tại ngã tư đường Thống Nhất-Khải Định, Đà Nẵng. Lê Thanh Bình lại cũng có trong tay hai lá bùa hộ mệnh, đó là: Sự vụ lệnh của Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng I, Quân Khu I; và một «Lộ Trình Thư » của Thích Đôn Hậu, Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo miền Vạn Hạnh cấp, để trên danh nghĩa là chuyên chở thực phẩm cho Ban Đại diện Phật giáo miền Vạn Hạnh; nhưng thực ra là chuyên chở súng đạn cho Việt cộng, mà đã nhiều năm tháng do Lê Thanh Bình và Lê Thị Dưa, một cô gái trẻ, nhan sắc mặn mà, cả hai đều là người Triệu Phong, Quảng Trị, đệ tử của Thích Đôn Hậu và cũng trên danh nghĩa là tình nhân, nên thường xuyên đi với nhau cùng xe, giống như cặp Hiếu-Thùy Trang và đều là Phật tử sinh hoạt tại chùa Pháp Lâm với Hiếu-Thùy Trang; song khác hơn là Lê Thị Dưa sống chung nhà với Lê Thanh Bình. Và cũng bởi chính lời khai của hai đặc công mà An Ninh Quân Đội- Ban II Đặc Khu Quân Trấn và các chiến sĩ Biệt Động Quân đã vào tận nhà của Lê Thanh bình để lục soát; sau một hồi soát xét, các chiến sĩ đã khám phá ra một căn hầm cũng chứa đầy những súng đạn, nằm ngay dưới giường ngủ của Lê Thanh Bình và Lê Thị Dưa; và đến khi mở tủ áo dài của Lê Thị Dưa thì các chiến sĩ đã phát giác thêm phía sau một lớp áo dài chật ních là những khẩu B.40 được dựng khít dựa vào thành tủ đứng. Trong khi các chiến sĩ lôi những khẩu súng ra thì Lê Thanh Bình bỏ chạy, nhưng không thoát nỗi vòng vây của các chiến sĩ. Cuối cùng, Lê Thanh Bình phải chịu đầu hàng, bị bắt, bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận và đã bị kết án chung thân. Nhưng chẳng hiểu tại sao Lê Thanh Bình không bị đưa đi Chí Hòa hoặc Côn Đảo, như những trường hợp khác bị kết án nhiều năm? Khi thẩm cung cũng như lúc ra tòa nhờ có ông quân tử Tàu Lê Thanh Bình khai nhận hết tội: « Mọi việc làm này do một mình tôi làm, một mình tôi chịu, cô Lê thị Dưa không hề dính dáng, không hề hay biết ». Bởi thế, nên Dưa đã được tha bỗng. Có điều tội nghiệp cho Lê Thanh Bình là khi bị tuyên án chung thân phải ở tù tại nhà giam Kho Đạn, Đà Nẵng; mặc dù từng chung sống với nhau, cùng chở súng cho Việt cộng, nhưng suốt thời gian Lê Thanh Bình ở tù, chỉ có các con của Bình đi thăm cha, còn Dưa không một lần vào nhà giam thăm viếng. Cho đến năm 1975, Lê Thanh Bình được trả tự do, còn Lê Thị Dưa được làm Phó Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng bên cạnh Chủ tịch Nguyễn Thị Thùy Trang; lúc này ông quân tử Tàu Lê Thanh Bình vẫn nhớ đến « tiền cũ vàng xưa » nên có tìm đến với Lê Thị Dưa, song « bà » phó chủ tịch đã ca bài « Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi ». Và Lê Thanh Bình đã âm thầm, xót xa trở về cùng với các con; bởi « Thấp cơ (nên) thua trí đàn bà ».

Qua những vụ án đã kể ở trên. Theo tôi, không phải chỉ có ở chuyện ngày xưa, mà hiện nay và cả sau này nữa; các « thầy » luôn luôn có rất nhiều những chiếc bẫy Nguyễn Thị Thùy Trang- Lê Thị Dưa; và chắc chắn cũng có vô số những con nai « già » Nguyễn Hiếu –Lê Thanh Bình, hầu để thực hiện cho bằng được cái cuồng vọng tái lập Lý triều. Song tôi nghĩ có rất nhiều người đã hiểu, đã biết cái cuồng vọng này của Phật Giáo Ấn Quang mà tại sao tất cả đều im lặng?; nên tôi, bởi không muốn đất nước phải hứng chịu thêm những cảnh đau thương, tang tóc nào nữa. Vì thế, mười mấy năm về trước, dù chỉ là một phụ nữ bất tài,; nhưng được sự khuyến khích của ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ nhiệm Bán Nguyệt San Văn Nghệ Tiền Phong, tôi đã nhiều lần lên tiếng và tôi sẽ còn tiếp tục viết lại tất cả những gì tôi đã biết với những tài liệu vô cùng chính xác, để mong được góp một phần nhỏ bé vào trong công cuộc ngăn chặn những thảm họa đừng xảy ra cho đồng bào yêu quý của tôi.

Đọc qua những vụ án tại Đà Nẵng vào những ngày cuối cùng của năm 1967, cận tết Mậu Thân 1968. Chắc quý vị đã hiểu: Bởi vì mấy ngày cận Tết Mậu Thân các Lực lượng an ninh và quân đội đã tịch thu hàng ngàn khẩu súng và bắt giam hơn một ngàn Đặc công, Biệt động thành và Quân báo của Việt Cộng, trong đó có Hà Kỳ Ngộ và Bác sĩ Lê Minh Triết ông này làm việc tại Bệnh Viện Giải Phẩu ở đường Nguyễn Hoàng Đà Nẵng. Sau khi bị bắt, trong thời gian thẩm cung BS lê Minh Triết đã khai nhận chính ông ta là « Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Đà Nẵng » của Việt Cộng; nếu cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, 1968, thành công thì ông ta sẽ công khai ra làm việc với chức vụ này. Ngoài ra, còn một số cán bộ trực thuộc, đám này hoạt động hợp pháp; tất cả những tên Việt cộng này đều trú ngụ ở trong các « chùa » của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ( Ấn Quang), đồng thời cũng đã khám phá và tịch thu nhiều súng đạn ở trong nhiều nhà của « Phật tử » là đồng hương với Thích Đôn Hậu tại Đà Nẵng; vì quá nhiều vụ án làm cộng sản, nên tôi sẽ viết về những tên thuộc hạ của Hà Kỳ Ngộ và những « Phật tử » này trong một bài khác. Vì giới hạn của một bài viết, nên tôi chỉ nói về Hà Kỳ Ngộ tức Lê Thanh, quê ở Điện Bàn, Quảng Nam là Bí thư Thành ủy Đảng cộng sản tại Đà Nẵng, là người trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công thành phố Đà Nẵng,; và Bác Sĩ Lê Minh Triết người Duy Xuyên, Quảng Nam là « Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Đà Nẵng » Sau đó Hà Kỳ Ngộ và BS Lê Minh Triết đều bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận. Hà Kỳ Ngộ bị kết án chung thân. Bác sĩ Lê Minh Triết bị kết án 10 năm. Sau đó, Hà Kỳ Ngộ thọ hình tại Trại An Dưỡng, Côn Sơn, còn ông Ác sĩ Lê Minh Triết thì được làm việc tại Bệnh Viện tại Côn Sơn.

Với những chiến công to lớn của các Chiến Sĩ Biệt Động Quân đã bắt cả ngàn tên Đặc công, Biệt Động Thành và Quân báo của Việt Cộng; vì thế cộng quân mất liên lạc, nên vào đêm Giao Thừa Tết Mậu Thân, khi tấn công vào Đà Nẵng, ngay từ lúc đầu, Việt cộng đã lãnh nhận một thất bại quá nặng nề; và như đã nói là cộng quân không thể chiếm nỗi thành phố Đà Nẵng dù chỉ một giờ. Tôi thiễn nghĩ, tại Huế, vào trước Tết Mậu Thân, nếu cũng được sự kết hợp chặt chẻ của các lực lượng An Ninh và Quân Đội để theo dõi và kiểm soát mọi sự di chuyển của các loại xe, vì là thời chiến; và cũng đưa quân đội vào lục xét các chùa như ở Thành phố Đà Nẵng, thì biết đâu mọi sự có thể đã khác.

Tạm thay Lời Kết:

Viết đến đây, tôi bỗng hồi tưởng lại những cuộc thảm sát tại Việt Nam từ bao nhiêu năm qua: Cứ mỗi lần có một biến cố nào đó xãy ra bất cứ ở nơi đâu, là cũng đều có những bàn tay của sư sãi Ấn Quang nhúng vào. Một bằng chứng không thể chối cãi là trong cuộc tấn công của cộng quân vào Tết Mậu Thân, 1968. Tại Sài Gòn thì Thích Trí Dũng đã nuôi giấu « Lực lượng Biệt động thành Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316 của Việt cộng trong hai ngôi « chùa » Nam Thiên Nhất Trụ -Phổ Quang; và « chùa Phổ Quang đã là nơi khai hỏa để đánh sân bay Tân Sơn Nhất » như lời kể công khai của chính Thích Trí Dũng; rồi đến trước và sau ngày 30/4/1975, Phật Giáo Ấn Quang đã từng đưa xe ra tận núi rừng để rước bộ đội Bắc Việt vào các thành phố trên khắp lãnh thổ của miền Nam tự do. Rồi sau đó, Ấn Quang lại cũng lập « Tòa án nhân dân » ở các chùa tại Đà Nẵng cũng giống như những cái « Tòa án nhân dân » ở chùa Tường Vân và chùa Quang Tự tại Huế vào Tết Mậu Thân,1968, để chỉ xử tử tất cả những Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa. Nên biết, là trong đám bộ đội Bắc Việt, có tên miệng còn hôi sữa, khi vào các thành phố của miền Nam, nhìn thấy cảnh giàu sang, đẹp đẽ với những tiện nghi mà chúng chưa hề thấy bao giờ, chúng như từ trên cung trăng lạc xuống cõi trần, chúng không biết đường nào mà đi cả; nhưng chúng đã được chính các « thầy » đưa đường, dẫn lối và các « chùa » là những nơi trú đóng của cộng quân. Bởi thế, đám bộ đội Bắc Việt chúng không hề biết ai là Quân-Cán-Chính của Việt Nam Cộng Hòa. Chỉ có Thích Đôn Hậu và những tên đồ đệ đã tưởng rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ không bao giờ tái chiếm nỗi thành phố Huế; nên đã công khai làm cộng sản trước mặt đồng bào, trong đó có trẻ em đã nhìn thấy những hành vi cộng sản của Thích Đôn Hậu và những tên đệ tử. Cho đến lúc Việt cộng và Thích Đôn Hậu biết chắc sẽ thua trận, bắt buộc phải rút lui, nên trước khi cùng Việt cộng chạy ra chiến khu, Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho những tên đồ đệ phải ra tay chặt đầu, cắt cổ những chứng nhân này; nhằm để diệt khẩu, để trả thù và để lập công với đảng cộng sản.

Chính vì thế, cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968, tại Huế, với gần 7000 người đã bị giết chết; với những cách hành quyết vô cùng dã man và tàn ác, cộng thêm với không biết bao nhiêu người đã bị chết oan uổng trong trận chiến này trên khắp mọi miền của đất nước. Vì vậy, đối với cuộc sát hại thảm khốc, kinh hoàng này, dù là bốn mươi năm, bốn trăm năm, hay bốn nghìn năm nữa và cho đến ngày tận thế; thì những tội ác ngập Trời này cũng phải được chia đều cho Phật Giáo Ấn Quang và Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_TuongNiemBonMuoiNamCuocThamSatMauThan1968_2008.htm