CHUYỂN LỬA ĐI ANH!

CHUYỂN LỬA ĐI ANH!

TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net)

Sinh hoạt kinh tế và thương mại ở các nước Tây Phương đa dạng, mang tính cạnh tranh nhưng cũng phải tuân theo luật pháp; cho nên bất cứ ai cũng có quyền làm ra cơ sở thương mại, dịch vụ và họ cũng có quyền đóng cửa khi bị lổ lả, nợ nần. Từ đó, tình trạng đóng cửa hãng, dịch vụ là điều thường tình và cũng có nhiều người khai khánh tận ( bankrupcy) vì không kham nổi những món nợ, đương nhiên là những người nầy bị pháp luật chế tài: như cấm không được làm ăn, giám đốc một thời gian, vay tiền ngân hàng ( Bad credit), là những điều mà bất cứ người nào làm ăn cũng ngán, khai bankrupt là coi như tàn đời, mang thành tích suốt đời còn lại. Tuy nhiên, một số kẻ gian, lợi dụng khe hở thương mại để đóng cửa hãng cũ, rồi sau đó thành lập hãng mới, sau khi đuổi một số công nhân, thay đổi ban điều hành, quịt các món tiền chi trả cho công nhân:

“ Ai buôn bán mà không hề thất bại?

Ai kinh thương mà chẳng vay nợ bao giờ?

Dậy mà đi, dậy mà đi…

Để thành lập hãng mới, thay bình mới rượu cũ, tiếp tục công việc làm ăn, nếu cần thì cũng thay tên thương nghiệp khác, cho người thân đứng tên làm chủ và bên trong là những tay gian hùng điều hành.

Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam do phó đề đốc Hoàng Cơ Minh, cùng với anh em, người thân tín thành lập, đây là” hãng Kháng Chiến”, chủ trương lấy lừa đảo lòng tin của mọi người Việt Nam yêu nước làm” mục tiêu, đối tượng hái ra tiền”, nên hãng loại” đầu tư chống Cộng” nầy làm ăn không cần bỏ vốn, mà lời vô kẻ, biến anh em Hoàng Cơ Minh thành triệu phú trong thời gian ngắn, thật là:

” Không lao động lại vinh quang.

Ở không huy hoàng.

Dùng kháng chiến hốt bạc

Lừa đảo lòng tin, dối gạt.

Thật là lũ đốn mạt.”

Hãng kháng chiến Hoàng Cơ Minh tung ra nhiều mặt hàng như: Đông Tiến, đồng bạc cho kháng chiến, lon tiền ủng hộ kháng chiến, vỉ thuốc cho kháng chiến, lon gạo cho kháng chiến…..có nghĩa là tất cả đều dồn cho KHÁNG CHIẾN nên khi dân chúng hiểu ra sự thật, thì nhiều người KHIẾN CHÁN, từ bỏ Mặt Trận, vạch mặt bọn” gian thương giả danh chống Cộng, mang mộng làm giàu, làm màu kháng chiến, là lũ làm biếng, lấy tiếng thương nòi, thứ giòi tỵ nạn, lại kết bạn Cộng Sản, làm nản lòng dân, là bọn bất nhân, canh tân cách mạng, lạng quạng hai hàng, nói một đàng làm một nẻo”.

Thời hãng kháng chiến còn” đi vào hoạt động lừa đảo”, ở hải ngoại có thành lập vài” phân xưỡng chống Cộng”, nổi bật là Liên Minh Việt Nam Tự Do, với ông tổng thư ký là kỷ sư Nguyễn Ngọc Đức ở Pháp và Hội Chuyên Gia Việt Nam do một số khoa bảng bình vôi, chiêu mộ thêm khoa bảng hậu duệ, cùng dắt tay ” cả đám trí thức” đi theo tấm bản chỉ đường ” lộn” của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh từ đó đến nay mà những người có học chưa nhìn thấy mình sai đường, quả là ngủ mê khá lâu, nên trở thành” trí ngủ hải ngoại”. Trong khi hãng chánh ở đất Thái hỳ hục chiến khu dỏm, với hơn 10 ngàn kháng chiến quân ma, thì các phân xưởng chống Cộng hải ngoại phát hành ra một số mặt hàng dỏm, nhằm đánh lừa quần chúng, nên có những chiến dịch ruồi bu, kiến đậu, như” con sáo sậu sang sông”, thật là uổng công, cà nhỏng chống Cộng, thật là” mơ mộng”, nhưng lại được lũ người lật lọng phát động…rộng; thế những người của Mặt Trận gọi là” chuyển lửa về nước” như:

– Gọi điện thoại về gia đình ở Việt Nam để nói về tình hình dân chủ, kích thích lòng yêu nước, để từ đó gia đình mình đem chuyện dân chủ nói lại cho nhiều người khác, cứ thế mà” phát huy” cho đến khi nào toàn quốc dật dậy tinh thần yêu nước, bắt chước Đông Âu, đánh Trâu Việt Cộng, hành động cứu nước, từng bước dân chủ. Nhưng liệu gia đình của những người hải ngoại có dám” mạn đàm, rỉ tay, rỉ sét..” với những người khác để” chuyển lửa”? Khi mà mạng lưới” công an mắc khóm tai bèo” khắp nơi, rình rập, nhất là những gia đình có thân nhân nước ngoài. Cho nên người chuyển lửa về, nhưng người cầm lửa lại sợ bi phỏng tay, có ai dám tham gia? Đây là bài toán cộng mà thời Mao Trạch Đông ở bên Tàu đã làm, khi chiết tính hàng tỷ chim sẻ, hàng năm ăn biết bao nhiêu triệu tấn gạo, thế là Mao chủ tịch phát động chiến dịch” diệt chim sẻ”, mỗi người dân Tàu cầm một cạy sào, đuổi chim, khiến chúng không có chỗ đậu, bay mỏi cánh và rớt xuống, dân bắt, chở bằng xe vận tải, lập công dâng đảng. Nhưng than ôi! Chim sẻ bị diệt, thì sâu bọ lợi dụng” âm mưu diễn biến hòa bình” mà tấn công ruộng lúa, làm hao hơn số lượng chim ăn, nên mới có hàng chục triệu người chết đói.

– Gởi thư về Việt Nam để cổ động đứng lên giành lấy chính quyền về tay nhân dân. Thời đó, các cơ sở Mặt Trận đi quyên tiền, lất danh nghĩa mau TEM gởi về nước, nhưng mà:

” Thơ gởi nhiều, mà người hưởng ứng chẳng bao nhiêu.

Khi dân chúng vẫn thờ ơ, im lặng”.

– Gởi tiền ủng hộ các nhà dân chủ cuội trong nước như Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, tướng Trần Độ, Trần Khuê, giáo sư Đoàn Viết Hoạt, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Hộ….hể ai lên tiếng chống đảng” thiệt giả” không cần biết, đều được Mặt Trận và các phân xưỡng” ôm trọn vào vòng tay thân thương” và được trưng bày với danh hiệu:” những nhà dân chủ, tù nhân lương tâm, tù nhân lương thức….trong nước”. Ngoài ra, nếu nơi cộng đồng Người Việt Tự Do nào do những người của Mặt Trận khống chế, họ lợi dụng tư thế đại diện cộng đồng, thì có thêm chiến dịch vận động các chánh khách dân cử đứng ra” yểm trợ một nhà dân chủ trong nước” là lối mà các hội từ thiện như Auscare, Oxfam, Lion club hay các nhà thờ, đứng ra tài trợ cho một gia đình, em nhỏ ở các nước chậm tiến ở Phi, Á Châu vậy.

Từ nhiều chiến dịch ruồi bu, kiến đậu phát động, khiến những người hưởng ứng chán, vì không thấy kết quả, mà lại hao tốn thì giờ, tiền bạc. Kèm theo là những chiến dịch ủng hộ rất cao kiến:” XIN CHỮ KÝ” dài dài, ký đến mỏi tay mà không biết danh sách xin chữ ký gởi đi đâu? Có người còn nghi ngờ là danh sách được gởi về Việt Nam để bộ chính trị” điều nghiên” tình hình chống Cộng của người Việt hải ngoại, hầu có những bước” chiến lược” đánh phá thích hợp?.

– Tùy theo” triều cường chính trị” mà băng đảng Việt Tân khai thác lòng yêu nước để trục lợi và đương nhiên là” đặt quyền lợi của đảng Việt Cộng cùng dính với băng đảngViệt Tân”. Thời gian sau nầy, vụ Việt Cộng bán nước, thì những tổ chức” bảo vệ đất tổ, vẹn toàn lãnh thổ, tổ chức luật sư….ra đời, thi đua” bàn cải”, viết tuyên cáo, lếu láo yêu nước…nhưng thật ra thì chỉ là:” tuyên cáo như nói láo, thảo luận như nói chơi”, hơi đâu mà nghe đồng bọn một phe lừa đảo.

Lợi dụng tình hình nầy, chúng muốn nhập chung người Việt hải ngoại vào đảng cướp Việt Cộng, để xóa hết tội ác của đảng và Hồ Chí Minh, với chiêu bài:” cùng nhau chống Trung Cộng để đòi lại đất, đảo, vùng biển”, nhưng lại phớt lờ kẻ bán nước là Việt Cộng, cũng là lối” né tránh” có chính sách. Nên cần phân biệt rõ ràng: kẻ thù gần là Việt Cộng, kẻ thù xa là Trung Cộng…. đánh trúng mục tiêu, mới có tác dụng.

Sau khi bị bể về vụ hãng kháng chiến chánh ở Thái Lan bị dời về đất Lào và chủ hãng kiêm sáng lập ( founder) Hoàng Cơ Minh bị chết như tai nạn” sinh nghề tử nghiệp” vào năm 1987, nhưng các phân xưỡng ở nước ngoài dấu nhẹn, đến 14 năm sau mới công bố, thế là hãng nầy tuyên bố giải tán sau đó, đoạn thành lập hãng mới, mang tên” Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng”, tên tắt là Việt Tân, cũng là bình cũ rượu mới, có nghĩa là cũng lừa đảo như cũ, chớ nào” cách mạng, canh tân” hay” canh tân, cách mạng” gì và nay thì cái hãng Việt Tân chia hai, đúng là” con rận nhân hai” là” quân hại nhân dân”, tiếp tục làm cho hải ngoại rối ren, khi mà chung quanh đây, có mặt của bọn lừa đảo, cũng giống như trong một thị trấn, có mặt băng đảng cướp, trộm, thì người dân nào cảm thấy” an cư lạc nghiệp”.

Do đó, nơi nào có băng đảng Việt Tân hoạt động thì dân chúng không đưọc yên, do chúng tìm đủ mọi cách mở đường, mở cửa cho Việt Cộng xâm nhập vào cộng đồng tỵ nạn ( khuyến khích kết thân với du sinh, như vị bác sĩ Bùi Trọng Cường ở Queensland, Úc Châu, trong vụ Taste Vietnam), đưa những chính sách có lợi cho đảng Cộng Sản để áp dụng, nhưng núp dưới bình phong quốc gia, điển hình là” diễn hành cho tự do:” là cách biến ngày quốc hận 30 tháng 4 thành ngày” ăn mừng, diễn hành chiến thắng”.

Cũng cái màn cũ, sản phẩm cũ, người cũ, nên các mặt hàng dù có” cải tiến, cải thiện” cũng mang phẩm chất của thứ hàng dỏm” made in Việt Tân”, là thương nghiệp lừa đảo, của bọn gian xảo, luôn tạo hỏa mù, là kẻ thù trước mắt. Tư tưởng lớn thường gặp nhau, như câu:” đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, nên hai đảng Việt gian” tuy rằng khác giống như chung một giàng” là đảng Cộng Sản Việt Nam và băng đảng Việt Tân cùng đều phải tôn thờ thần tượng:” Hồ Chí Minh là người có công với đất nước”; từ đó, băng đảng Việt Tân công nhận luôn” đồng nghiệp Việt Cộng” là:” thành phần dân tộc”, thật là nhịp nhàng và rõ ràng:” như đêm giữa ban ngày” là hai đảng đều Việt gian như một, dù sông có thể cạn, núi có thể mòn, song bản chất hai đảng không bao giờ thay đổi. Những ai còn mù mờ về Băng ĐảngViệt Tân thì hảy thức tỉnh để khỏi bị lầm lần nữa.

Hai hãng mới Băng Đảng Việt Tân cạnh tranh nhau, kẻ đúng hướng người” chệch hướng” nhưng cả hai cùng đều có chung một số mặt hàng” cơ bản”, đó là lý do dễ giải thích: khi hai kẻ cùng buôn một mặt hàng thường cạnh tranh, không ưa nhau. Các mặt hàng của Băng Đảng Việt Tân cũng không khác gì trước, vẫn là hàng giả, dỏm, nhưng dán nhản hiệu khác, có in màu mè hơn, đương nhiên là khó lừa được nữa, đó là lý do giải thích tại sao ở đâu có nhóm Băng Đảng Việt Tân hoạt động là có” phản ứng chống lại” và ở đó cũng có thêm hàng giả trưng bày.

Bất cứ người Việt tỵ nạn nào cũng là nạn nhân của Việt Cộng, ngoại trừ gián điệp nằm vùng; ngay cả thành phần đón gió, dù” tình trong như đã, mặt ngoài ngụy tranh” để làm ăn, du lịch, du hý, du dâm….cũng đều biết Việt Cộng là bất nhân, không ưa trong lòng, nên những ai chống Cộng là họ ủng hộ ngầm hay công khai, ai cũng mong Việt Cộng sớm” tiêu diêu nơi miền hỏa ngục” càng sớm càng tốt, để dân mình đỡ khổ, đất nước tiến lên. Tuy nhiên, cách” chống Cộng” theo kiểu Băng Đảng Việt Tân là ” đầu hàng, hợp tác, trong tinh thần tương kính với đảng cướp” núp dưới bình phong” dân chủ đa nguyên” và cách” phủi bụi” Việt Cộng qua sách lược” dùng đấu tranh bất bạo động để tháo gở độc tài”, nên tuyệt đại đa số dân hải ngoại chống Băng Đảng Việt Tân, là chống Cộng ở hải ngoại cũng có lý do chánh đáng, đánh giá sự sáng suốt và trình độ dân trí của người Việt, không dể bị lừa như ngày trước đâu nhé!. Những mặt hàng cũ của Mặt Trận được hãng mới Băng Đảng Việt Tân dán nhản hiệu khác và đã lưu hành, là những liều thuốc ngủ, thật nguy hiểm như:

Xưa là chuyển lửa về nước: bằng gởi thơ, điện thoại….mà những người” nhận lửa” sợ phỏng tay nên hổng ai dám” nhận lửa”, thế là những thượng sách chống Cộng trở thành” mười năm xây đắp, nay thành mây khói”. Ngày nay cũng có màng” Chuyển lửa đấu tranh” từ nước ngoài về, thế là Băng Đảng Việt Tân “móc nối” với các nhà dân chủ dỏm, ngầm được đảng Việt Cộng” nhất trí” nhưng ngoài miệng thì đàn áp lấy lệ, để chứng minh là” có cải thiện nhân quyền” hầu hưởng thêm cấp viện và lừa một số người tỵ nạn. Cho nên thời gian chuyển lửa đấu tranh, trong nước nở rộ một số tổ chức cò mồi như: phục hoạt đảng Dân Chủ, trước do Hoàng Minh Chính làm tổng thư ký, nay là Trân Khuê (đảng nầy co từ thời Hồ Chí Minh, chỉ định ông Nguyễn Xiển làm đảng trưởng, có gì là mới và cải thiện nhân quyền), đảng Thăng Tiến, khối 8406, 1706….nhìn kỷ đều có nhản hiệu cầu chứng” made in Việt Tân”, có những thứ phụ tùng lấp ráp từ hãng” Made in Việt Cộng”. Đây là sách lược ma lanh, gian xảo trong kế:” thanh đông kích tây” để cho người Việt hải ngoại tưởng trong nước là sắp có” thay đổi chính phủ” hay là hy vọng” từ từ Việt Nam có dân chủ, tự do” khi thấy trong nước có nhiều người, nhất là ở trong đảng, bộ đội, tướng tá, sinh viên du học trở về…..khắp nơi có những” tiếng nói dân chủ” rần rộ, như xe cộ trên đường chánh, nhưng” hành động để tiến tới dân chủ thì” không, không, không…trăm lần không, vạn lần không….những nhà dân chủ làm kiểng cho chế độ, được băng đảng Việt Tân ủng hộ mạnh về tuyên truyền, tài chánh và lại được đảng Cộng Sản” đánh bóng hầu đánh lừa” là những tổ chức” đe dọa an ninh chế độ”…nên cái lối” dùng bất bạo động để tháo gở độc tài” nghe như là” vở kịch LÓI vô duyên”, lại thêm hai màn kịch ngắn mới đây được trình diễn trước sân chùa là:” biểu tình tại gia và bất tuân dân sự”, cũng được băng đảng Việt Tân rần rộ quảng cáo tại hải ngoại.

Đó là những màn hỏa mù mà Việt Cộng, cùng với đồng bọn Băng Đảng Việt Tân tung ra” chuyển lửa”, chỉ là” phản ánh” của những” bóng lửa” không có thật, vì lửa nầy là dỏm, không thể” đốt cháy” cả chế độ như ở Liên Sô, Đông Âu. Thế nên lửa giả, lửa nhân tạo bằng ánh sáng rọi vào nhúm Plastic lung linh tưởng đâu lửa thật, thì làm sao phỏng tay Việt Cộng?. Nhưng đây là thứ lửa mà Việt Cộng rất cần để” trang trí” cho màng kịch lói” dân chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa” để nhận thêm nhiều viện trợ, vay tiền nhẹ lãi, cứu trợ….rất cần trong giai đoạn nầy.

Trong khi đó chiến trường chánh ở hải ngoại, là hậu phương sống còn của những người bỏ quê hương ra đi tìm tự do, thì lại bị BỎ NGÕ, lơ là phòng thủ, bị Việt Tân lái vài mục tiêu” trong nước” trong mặt trận dân chủ giả, do Việt Cộng dàn dựng và nuôi dưỡng, như nhà dân chủ phòng lạnh Nguyễn Khắc Toàn. Do sự canh phòng lơ là, thiếu cảnh giác, bị ru ngủ bởi những liều thuốc đấu tranh như” sân khấu về khuya” do băng đảng Việt Tân, gián điệp, tay sai, đón gió, tung lên, thành một màng sương mù” che kín cả kẻ thù đang núp bóng”, nên từ lâu, bọn du kích, đặc công, gián điệp, nằm vùng….ngụy trang dưới nhiều hình thức xâm nhập, tấn công, đánh tới sát nơi định cư, dùng đặc công lòn vào bên trong mà vẫn không quan tâm, chỉ lo đánh kể thù ở Việt Nam, ngăn biển, sách lục địa; chờ khi chúng treo cờ đỏ, là coi như quá trễ:

– Tu sĩ ( nhất là Phật giáo, chùa là nơi dễ xâm nhập) từ trước 1975 đến nay, nghe đâu có tới hơn 2,000 tên công an, cán bộ tôn giáo vận đã lòn lách qua luật di trú, bảo lãnh từ các” cơ sở” đã có sẵn tại hải ngoại, chúng đang hoạt động, ru ngủ, tuyên truyền dưới lớp áo cà sa và tượng Phật, xuyên tạc chuyện thật thành giả, rỉ rả thuyết pháp, bằng những thí dụ bá láp như Quảng Đức tự thiêu….

– Sinh viên du học tìm cách ở lại qua diện di dân tay nghề, hôn phối. Đó là thành phần” hạt giống đỏ” rất nguy hiểm, khi tiếp xúc với con cháu người tỵ nạn, làm ung thối cả thể hệ sau, như trường hợp của Brian Doan với triển lãm V.A.A.L.A, ở Hoa Kỳ; La Thảo Nhi, Hạnh Ngô…với Phở Chó ở Úc.

– Thành phần đảng viên được bảo lãnh qua diện đoàn tụ, do con cái lòn lỏi vào hàng ngũ tỵ nạn, nay lãnh thân nhân.

– Các cơ sở xanh vỏ đỏ lòng, từ dạng truyền thông ( báo, đài, có thể truyền hình) được mua lại hay tung tiền ra thành lập, là mạng lưới tuyên truyền thật tinh vi, với các bài viết, đọc hàng hai, gây ngộ nhận, lập lờ đánh lận con đen. Có khi các cơ quan truyền thông công cụ Việt Cộng, do nuốt tiền, phải làm theo lịnh, dùng truyền thông để đánh những người nào chống Cộng mạnh, các cơ quan truyền thông quốc gia….nếu cần để lấy lòng hầu có thêm quyền lợi, một số cơ quan truyền thông” ngoài có vẻ quốc gia, bên trong là ma Cộng Sản” sẵn sàng chụp mũ Việt Cộng, Công An….hầu gây rối loạn, mập mờ, có tác động tâm lý nếu người đọc, nghe thiếu hiểu biết, lười biếng suy luận.

Ngoài ra còn có hệ thống kinh tài Việt Cộng xâm nhập đủ dạng, len lõi, dùng tiền để khuynh đảo những người quốc gia ham tiền, buôn bán, mua thương nghiệp….tức là kẻ thù đã” sống cạnh bên ta” mà ta không cảnh giác, lo chống, lại cứ” mơ màng về đấu tranh dân chủ đa nguyên trong nước”, có ngày bị tiếp thu lần nữa.

Cho nên sách lược ru ngủ, chuyển lửa của băng đảng Việt Tân là nhằm tiếp tay cho Việt Cộng tiếp thu hải ngoại, khi mà lửa nhà mình đang cháy mà không lo chửa, cứ lo chửa đám cháy giả ở xa, mà trong nước lửa giả cứ cháy bập bùng qua” phản ánh” của ánh đèn màu, như ánh đèn ma, thế mà có người tưởng thật, nhắm mắt hả họng chạy theo lối đấu tranh của băng đảng Việt Tân, thì còn lâu dân trong nước mới có dân chủ, vì Việt Cộng, Băng Đảng Việt Tân đều là một lũ Việt gian.

Tuy nhiên, đây là kế ” cách ngạn quan hỏa” trong tam thập lục kế mà băng đảng Việt Tân cùng Việt Cộng tung ra để đánh lừa, dời ngọn lửa đấu tranh ở hải ngoại về Việt Nam, là nơi khó cháy và đang có tới hơn 86 triệu người sẵn sàng” nổi lửa lên đi” để giật sập chế độ, thì người dân trong nước đâu cần bàn tay của người Việt hải ngoại trở về” giải phóng đất nước” làm gì.

Trong khi đó cái chiến trường chánh là hậu phương ở hải ngoại, là bọn Việt Cộng nằm vùng, đồng đảng Việt Tân, cứ ung dung” tiến vào hải ngoại, trận cuối là trận nầy”, thì lại bị bỏ ngỏ, kẻ thù tha hồ xâm nhập, đánh phá, tuyên truyền, phá hoại và chờ ngày được băng đảng Việt Tân bàn giao trong vòng trật tự, lúc đó thì mới biết ai là Việt Cộng nằm sát bên ta, coi như” tình hình không còn đảo ngược được”.

Muốn sống an bình, lo tương lai con cháu, thì trước hết phải loại băng đảng Việt Tân ra khỏi bất cứ sinh hoạt nào của người Việt hải ngoại, chính là kẻ thù gần, là công cụ của Việt Cộng còn đấu tranh dân chủ, chuyển lửa, chuyễn xăng…gì đó, thì có 86 triệu người trong nước lo. Cần phải phân biệt, sáng suốt để biết đâu là chiến trường chánh để kịp thời đối phó. Băng đảng Việt Tân đã đánh lừa quá nhiều rồi, từ ngày thành lập đến nay, họ đã núp bóng quốc gia, thờ ma Cộng Sản. Một người bị giựt hụi chỉ một lần mà còn nhớ kẻ giựt hụi suốt đời, nay chẳng lẽ chưa tởn khi kẻ lừa đảo quá nhiều lần, nay tiếp tục bày thêm trò cũ?

” Giặc gần không đánh, mà đánh giặc xa.

Mai kia, nước mất, tan nhà.

Hải ngoại bỏ ngỏ, thật là nguy to”./.

TRƯƠNG MINH HÒA

06.06.2009

http://www.hon-viet.co.uk/TruongMinhHoa_ChuyenLuaDiAnh.htm

Advertisements

PHÉP VUA THUA LỆ ĐẢNG

PHÉP VUA THUA LỆ ĐẢNG.

– TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net) –

Theo tài liệu báo Tiền Phong trong nước ngày 15 tháng 5 năm 2009 (xem phần phụ đính ), do ký giả Đặng Vương Hạnh, có cuộc phỏng vấn Hữu Thọ, nhân vật khá tiếng tăm, được coi là” sừng sỏ” trong bộ chính trị trung ương đảng, với gương mặt cằn cổi như da cam héo của một CÔNG THẦN đảng Cộng Sản, giờ đây nói ra những điều CẦN THÔNG suốt sau thời gian dài hết lòng đóng góp công sức xây dựng cho một đảng siêu cướp, ngụy danh” cách mạng” để ăn cướp cạn, mang súng đạn Nga Tàu để giết hại dân lành.

Đây là những lời được coi là nói thật trong một giây phút” động não”, vì người Cộng Sản có truyền thống là” không bao giờ nói thật” với dân, đồng đảng, gia đình và tự xét về bản thân; tức là người Cộng Sản cũng nói dối ngay chính họ nữa; tuy nhiên qua lời” phát biểu” của một nhân vật từng” phét biểu” gần suốt cuộc đời, như là lời” một phút tâm tình người Hà Tỉnh”, trong việc” phản ánh” cái gian dối, mà trước đây trong cái cao trào cách mạng, nhiệt tình lên cao như Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, một thời nịnh nót của Nguyễn Tuân, và những kẻ xẻ dọc Trường Sơn hồ hởi phấn khởi:” chào em Cô gái LAM HỒNG” bỗng nay trở thành” cô gái LÔNG HÀM”, có ngực và có cả râu mọc lún phún, là cái” tình huống” bất thường như câu sấm:

” Chừng nào thằng ngốc làm vua.
Thế gian cạo trọc, thầy chùa để râu”.

Hữu Thọ, người” đầu ngành” một tổ chức có nhiều quyền hành, gọi là Trưởng Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương, là người có tầm kiểm soát những” bức xúc” từ con người trong đảng, với cái” tư tưởng hướng dẫn cho hành động”, và từ đó, đưa đến những” đấu tố” lẫn nhau. Cái Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương thời Hồ Chí Minh, là” nghĩa địa văn học” từng chôn vùi biết bao tài năng đất nước qua nhiều cuộc thanh toán, khủng bố văn thi nghệ sĩ miền Bắc, để bắt ép tất cả cái gì thuộc về văn hóa phải” nắm tay nhau đi theo tấm bản chỉ đường của chủ nghĩa Marx Lenin” và chui lòn” dưới háng” theo cái suy tư của một thằng ít học, gian ác, với cái gọi là” tư tưởng Hồ Chí Minh” hầu kiếm tem phiếu và nhất là những người còn sống sót phải biết sợ như Nguyễn Tuân, một số văn thi sĩ trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm.

Được biết, trong hệ thệ thống đảng quyền Cộng Sản có một số tổ chức đều có gắng liền với hai chữ” trung ương” như Ban Ca Múa Trung Ương, trước đây do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm” đầu ngành” khá lâu, còn Ban An Ninh Trung Ương được thành lập thời Hồ Chí Minh và sau 1975 do Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng Công An chỉ đạo, là một” cơ chế khủng bố” ngay cả những đảng viên Cộng Sản và những nhân vật tăm tiếng: ám hại Phan Khôi, Nguyễn Bính, Thụy An, bác sĩ Nguyễn Văn Thủ, đại tướng ngố Nguyễn Chí Thanh ( bị bắn từ sau gáy chết ngay tại hầm trú ẩn ngay trong vụ phi cơ ném bom ở Tây Ninh), dùng thuốc độc chích vào người của Hồ Tùng Mậu, giết luôn Trần Đăng Ninh, thủ tiêu bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ( trong lúc đang làm công tác nghiên cứu bịnh ho lao của bộ đội trên đường Mòn Hồ Chí Minh), sau nầy có thêm Đinh Bá Thi và Lý Ban, thượng tướng Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái…

Những cán bộ” nồng cốt” như thế mà con bị thủ tiêu, nên những ai chưa tỉnh” cơn trường mộng du” để cùng Việt Cộng” hòa hợp hòa giải” và gần đây cùng với” Việt Cộng để đòi đất, đảo, vùng biển” do Việt Cộng hiến, nay đòi Trung Cộng, là chuyện ruồi bu, lọt vào quỷ kế của bọn Việt Cộng, có ngày trở thành nạn nhân của ban nầy, giờ đây thì Tổng Cục Chính Trị 2 do Đặng Vũ Chính và Nguyễn Chí Vịnh thay thế. Thời Hồ Chí Minh, có một ban, nhưng không ai nói đến, nhưng rất quan trọng, có thễ gọi là” Ban Dắt Gái Trung Ương” với” nghiệp chuyên” đi tìm gái về phục vụ cho Hồ Chí Minh và đồng bọn. Còn cái Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương, ngoài nhiệm vụ” chủ yếu” là kiểm soát tư tưởng, còn có ban” bói toán” gồm một số thầy bói, chuyên coi” phong thủy” hướng nhà cán bộ, mồ mả cán bộ cấp cao chết, để con cháu vẫn tiếp tục” ngồi trên đầu dân chúng”, nghe đâu trong nầy có một nhân vật tên Trần Khuê, là một trong những người” lập công dâng Bác” khi cố vấn cho Hồ Chí Minh để chòm râu dài như hình” ông tiên trong hiệu thuốc Tàu”, hình như trong hiệu thuốc XỨC LÁT cũng có ông tiên, mà theo giới thầy bói cho là muốn làm vua suốt đời, phải có râu như các vua Tàu…

Những” bức xúc” của Hữu Thọ khi nhìn thấy cái cơ chế của đảng Cộng Sản, hiện nguyên hình đảng cướp từ lâu, thế mà ông ta vẫn còn mù trường kỳ, nay bỗng ” thức giấc đại đồng” khi nhìn thấy” núi xương, sông máu, biển mô hôi” của hàng triệu” nhân dân” cạnh những sự sản ” vĩ đại” và núi đô la Mỹ càng ngày càng vung cao, như bài ” Như có bác trong ngày vui đại thắng” của đứa con trai mù tâm trí Phạm Quỳnh là Phạm Tuyên, ngây ngô ca tụng kẻ đã giết cha, anh mình, bắt chị dâu làm thân nàng Kiều, từ tay Trần Huy Liệu đến tên chó chết Hồ Chí Minh, đã hiến dâng cả cuộc đời bất minh, thích chơi gái còn trinh, mà gọi là” làm cách mạnh quang vinh” thật là đáng khinh, hắn là loài ma quỷ yêu tinh.

Trong vấn đề giám sát, phòng chống” tham nhũng” quan trọng như” phòng chống dịch tể, cúm gà, cúm heo..” mà theo Hữu Thọ phải” rốt-ráo”: Thanh tra ngoài da, giám sát đến thịt, điều tra đến xương” thì mới mong” đạt chất lượng giám sát”. Dịch cúm gà, nạn chuột…. được trị bằng” nghị quyết” nhưng vần đề” dịch tham nhũng” thì biết bao nghị quyết ban hành từ thời tổng bí thư nầy đến tên khác lên thay đề trở thanh vô dụng, lý do là tham nhũng xuất phát và được nuôi dưỡng từ gốc Trung ương. Khi nhìn về cái” tình huống thanh tra” như câu” phê bình như nói láo, báo cáo như nói chơi”, nên Hữu Thọ than rằng:

-Phê bình cấp trên bị trù ếm.
-Phê bình ngang cấp sợ bị mất đoàn kết

-Phê bình cấp dưới sợ bị mất phiếu,

hóa là khỏi phê bình ai là” không sợ bị mất cái gì” cũng như” biểu tình tại gia” là không sợ công an tới nhà chụp mũ là” chống lại đảng và nhà nước” và nhất là” biểu tình tại tâm” là chắc ăn nhất, có công an nào tài ba mà lục soát cả” trong óc” của mọi người đâu?

Hữu Thọ có đưa ra câu chuyện gặp một người giàu có, gọi là Đại Gia, chắc là người Việt hải ngoại và được người đó nói thẳng về cái chính sách trước sau như một của đảng Cộng Sản Việt Nam:” Giàu thì ghét, nghèo thì khinh, thông minh thì diệt. Em trót vừa giàu và vừa thông minh, đáng chết 2 lần, nên không sống quê hương được”.

Đây là điều mà những ai chưa mở mắt, trở về làm ăn với Việt Cộng, sau thời gian” bốc lột” nhân dân mình, họ hưởng lợi nhiều và bị Việt Cộng” đánh tư sản” như Úc kiều Nguyễn Trung Trực, Vua chả già Hòa Lan Trịnh Vĩnh Bình….

Từ trước đến nay, đảng Cộng Sản Việt Nam có chính sách trước sau như một là:” dùng tham nhũng để giữ đảng”, dùng cán bộ tham nhũng, vừa bảo vệ quyền lợi cá nhân, gia đình, để làm” lực lượng bảo vệ đảng”, nên khi mà:

” Tham nhũng Chết.
Cộng Sản Diệt”.

Do chính sách nầy mà nhân dân Việt Nam phải nay lưng ra để trả lương cho hệ thống đảng và nhà nước từ” hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc”, nên đảng và nhà nước” khỏi cần NO trả NƯƠNG thích hợp” mà tất cả đều có” nhân dân NO”, dù nhân dân thường ĐÓI. Nhân dân Việt Nam và thế giới không ngạc nhiên khi nhìn thấy mức lương căn bản của một tên thủ tướng như Phan Văn Khải, với 260 Mỹ kim mỗi tháng, thế mà hắn có trong trương mục nước ngoài hàng tỷ Mỹ Kim, nên trong nước có hai chữ” ĐẦU TIÊN” tức là” TIỀN ĐÂU” khi gặp cán bộ, lúc ĐỦ THỦ TỤC là cán ngố” hồ hởi phấn khởi” lấy tiền THỤC VÔ TỦ”. Tham nhũng trấn đảng, từ cơ sở địa phương, từng” hộ công an” đến học đường….nên nơi” đào tạo mầm non”, giới” kỷ sư tâm hồn” có óc sáng tạo lẫn tối tạo, đẻ ra hàng chục lệ phí, có nơi còn tăng tới 40 loại tiền, đè lên đầu phụ huynh nghèo, mà đảng gọi là:” giai cấp vô sản”. Đây cũng là lối” thanh lọc học đường hiện đại”, thay vì” lọai bỏ học trò thuộc các nguồn gốc phản động” như câu:” học tài thi lý lịch” nay thì” cán bộ giàu cho con học, dân nghèo cho con nghỉ đi làm lao động” cũng là tiêu chuẩn giáo dục không bao giờ thay đổi:” Hồng hơn chuyên”. Nhìn cái chính sách nuôi tham nhũng, nên Hữu Thọ nói thiệt:” Việc thực hiện kê khai tài sản bây giờ rất phức tạp, không chỉ có nhà đất, còn các tài sản khác, rồi tài sản gơỏi nước ngoài”. Đây là phản đề của câu tuyên truyền lừa đảo của đảng rất phổ biến:” cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” nay thành:” Tham nhũng bất chính, lấy công cho tư”, nên toàn đảng, từ trên xuống dưới đều:

” Thi đưa vơ vét tối đa.
Gom tiền, nhà, đất, đô la làm giàu”.

Ngày nay ở Việt Nam có câu tục ngữ mới:” có làm mới có ăn” tức là có vẽ ra công trình, công việc, mới đụt khoét được, qua những vụ án PM 8, vụ Xa Lộ Đông Tây là điển hình, các công ty nước ngoài lẫn người Việt quay về, cũng phải biết” hối lộ” mới được giấy phép, thi công….rồi từ cứu trợ, từ thiện như vậy thì:

” Có những bàn tay toàn lông, nhám nhúa.
Bao phen làm bạt vía dân lành.
Khắp đảng ta đều là tham nhũng”.

Nếu đảng hết tham nhũng thì lấy ai bảo vệ đảng, nên quốc sách tham nhũng luôn được” bảo vệ như con ngươi trong tròng mắt”, Hữu Thọ thành thật khai báo:” Ai cũng thấy cần sự minh bạch và trong công tác giám sát càng phải tính đến chuyện đó, nhưng vấn đề giám sát cán bộ hiện còn bị ràng buộc nhiều thứ lắm. Động đến lãnh đạo cao cấp là chạm đến ngay cả một tổ chức, chứ không phải chỉ có cá nhân người đó”.

Truyền thống và cũng là” cơ sở cơ bản” của đảng Cộng Sản Việt nam là” vơ vét, vơ vét, đại vơ vét” như lời Hồ Chí Minh, được toàn đảng, toàn cán thực hiện, là thứ” tư tưởng Hồ Chí Minh” vĩ đại qua cái gọi là Dân Chủ Tập Trung: ” Như các cô các chú có đồ đạt tài sản gì đó, thì các cô các chú là chủ, đó là dân chủ. Các cô các chú không biết giữ, tôi giữ dùm cho. Tôi tập trung bỏ vào rương. Tôi khóa lại và bỏ chìa khóa vào túi tôi đây, Đó là Tập Trung”.

Thượng tá Tám Hà nói sau khi ra hồi chánh trong trận Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968, được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đưa lên hệ thống truyền thanh quốc gia, nay trở thành tục ngữ: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hảy nhỉn kỷ những gì Cộng Sản làm”, nên đảng Cộng Sản Việt Nam hô hào chống tham nhũng, tức là đảng nuôi tham nhũng, phát triển kinh tế là đang suy thoái….nhưng khi người Cộng Sản là làng, tức là thê thảm lắm. Đảng cũng đặt ra những cơ quan nghe quan cũng” giựt con mắt” như bán giám sát, thanh tranh….nhưng đây chỉ là hình thức cho vui, chứ thật ra đảng là trên hết, nên Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu:” thà mất nước chứ đừng để mất đảng, phải bảo vệ đảng như bảo vệ con người trong tròng mắt”. Đảng chủ trương” lấy tham nhũng làm quốc sách” thì các ban chống tham nhũng, thanh tra, giám sát…. đều từ đảng mà ra, thì đây là vở kịch lói vô duyên chớ chẳng có tác dụng gì:

” Thanh tram giám sát ỳ xèo.
Toàn là một lũ, như mèo dài đuôi”.

Như ông Boris Yelsin nói:” đảng Cộng Sản không thể sử đổi, tốt nhất là bỏ phức nó đi”. Do đó, Việt Cộng không bao giờ có” cải thiện nhân quyền, tự do tôn giáo..” như những ngôn từ ngoại giao của các nước cần đến Việt Nam làm ăn, hay là những lời tuyên truyền của bọn gián điệp nằm vùng, tay sai hải ngoại cho là:” Việt Cộng bây giờ khác hơn hồi trước”, để cổ động” hòa hợp hòa giải theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhằm thôn tín cả hải ngoại.

-Hòa hợp hòa giải với Cộng Sản là” đầu hàng vô điều kiện”.
-Liên hiệp với Cộng Sản là tự sát.
-Sống chung với Cộng Sản là tiếp tay nuôi đảng cướp, tiếp tục gây tội ác, bán nước.
-Dính dáng làm ăn với Cộng Sản là phản bội tổ quốc, đồng lỏa với đảng cướp.

Đề phòng bất cứ tổ chức nào như băng đảng Việt Tân, trong khi mọi người đều coi đảng Cộng Sản là thành phần khủng bố, bán nước và tên quốc tặc Hồ Chí Minh là tội đồ dân tộc với hơn 10 triệu nạn nhân từ 1930 đến nay, thì băng đảng Việt Tân lại chủ trương:” Đảng Cộng Sản là thành phần dân tộc và Hồ Chí Minh có công với đất nước” . Chính lý do đó mà mặt nạ của Việt Tân rớt xuống từ lâu, rõ ràng là cánh tay nối dài của Việt Cộng ở hải ngoại, đương nhiên là bị dân chúng hải ngoại, là nạn nhân của đảng Cộng Sản và Hồ Chí Minh phản ứng chống lại./.

Trương Minh Hòa
20.5.2009

PHỤ ĐÍNH

Thứ Sáu, 15/05/2009, 14:53
Giám sát nhưng phải dám nói!
Tiền Phong – Bên cạnh việc kiểm tra, thanh tra, công tác giám sát ngày càng được chú trọng, sắp tới, Bộ Chính trị sẽ ban hành quy chế giám sát trong Đảng. Tiền Phong trao đổi với nguyên Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa T.Ư Hữu Thọ xung quanh vấn đề này.

Ông Hữu Thọ nói:

Tôi đã tham gia hai khóa T.Ư. Trong một kỳ đại hội, có ý kiến đề nghị thành lập Ủy ban Kiểm tra T.Ư do đại hội bầu nhưng không thành. Nhiều người muốn thực hiện việc này vì T.Ư quyền lực rất lớn nhưng ai kiểm tra, giám sát T.Ư?
Bây giờ cứ nói toàn Đảng giám sát T.Ư, như thế rất mơ hồ. Phải có cơ chế như thế nào để giám sát.
Không phải chỉ giám sát quá trình thực hiện cương lĩnh chính trị, điều lệ Đảng mà còn cả việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng cho nên phải có một cơ quan giám sát do đại hội bầu mới có khả năng giám sát Ban Chấp hành T.Ư. Tuy nhiên lúc đó còn nhiều ý kiến khác nhau nên vấn đề này bị gác lại.

Nên xem xét cả đơn thư nặc danh
Trong bối cảnh tình hình mới hiện nay, đề cao chức năng giám sát là hoàn toàn đúng. Những mục tiêu cần tập trung giám sát bao gồm việc quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản hiện đang nổi cộm; vấn đề sử dụng ngân sách, chi tiêu công; cấp phép đầu tư; quản lý xây dựng cơ bản và giám sát những người đứng đầu.
Tôi nghĩ Ủy ban Kiểm tra T.Ư hiện nay đang thể chế hóa, quy chế hóa những nội dung mà văn kiện Đại hội X đã quy định, tức là giám sát những gì, quy trình giám sát ra sao.

Có lần gặp một doanh nghiệp thuộc hàng đại gia, tôi hỏi sao không trở về đóng góp cho quê hương, ông ấy nói với tôi một câu khiến tôi rất trăn trở: “Tỉnh em thói thường giàu thì ghét, nghèo thì khinh, thông minh thì diệt. Em trót vừa giàu lại vừa thông minh, đáng chết đến hai lần nên không sống ở quê hương được”. Nếu còn tồn tại tâm lý như thế thì người tài rất khó có chỗ dụng võ

– Ông Hữu Thọ
Thanh tra, giám sát nói chung đều là những việc khó. Người ta bảo: “Thanh tra ngoài da, giám sát đến thịt, điều tra thì đến xương”. Trong việc thanh tra, giám sát thường gặp một vấn đề là đơn thư nặc danh. Từ trước đến nay ta không xem xét đơn nặc danh, nhưng cá nhân tôi rất băn khoăn về chuyện này.

Có hai nguyên nhân khiến người ta viết đơn thư nặc danh: Một là, những người vu cáo muốn giấu tên; hai là, trong cơ chế như chúng ta hiện nay, người ta ngại ký tên mình vì sợ bị trù dập. Cho nên có những đơn thư nặc danh có nguyên nhân, động cơ rất chính đáng nhưng vì người ta sợ bị trù úm nên không dám ký tên. Theo tôi, chúng ta nên xem xét cả những đơn thư nặc danh nếu trong đó nêu những vấn đề cụ thể.

*Trước đây, các cơ quan chức năng vẫn tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra nhưng tại sao gần đây lại đề cao vấn đề giám sát như vậy?

Nói đến chức năng giám sát trước hết phải hiểu khái niệm giám sát. Giám sát trong Đảng là gì cũng phải có định nghĩa. Đã giám sát trước hết anh phải sát cái đã, phải sát cuộc sống. Sự hiểu biết cũng phải sát cuộc sống, bởi lẽ lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay rất rộng và phức tạp.
Cơ quan chính quyền nào cũng có những ban cán sự Đảng hoặc Đảng Đoàn hay các tổ chức quần chúng. Với tư cách Đảng, tôi có thể giám sát anh vì có thể giám sát các cơ quan chính quyền trên cơ sở tổ chức Đảng. ( TinParis. Đây nói rỏ là Đảng CSVN nắm tất cả quyền hành trong tay ).Chức năng, quy trình, đối tượng, cách thức giám sát như thế nào, khả năng giám sát ra sao cần phải quy định rõ.

Lĩnh vực nào cũng cần có chuyên môn rất sâu, cán bộ giám sát phải là người am hiểu những lĩnh vực đó thì mới đủ khả năng phân rõ được đúng sai. Chẳng hạn lĩnh vực tài chính công đòi hỏi phải có sự hiểu biết rất sâu về tài chính, về luật.

Quan trọng nhất là giám sát rồi có dám nói không vì có những người đứng đầu là cấp dưới của anh nhưng cũng có người đứng đầu ngang cấp, thậm chí, trên cả anh. Vậy anh có dám nói một cách thật sự không? Có những việc cá nhân dám nhưng tập thể đó có dám hay không, nhất là khi đụng đến ông to nào đó hoặc đụng đến uy tín của cả một tập thể? ( TinParis. Đối với cán bộ CSVN , Đảng trên hết, hơn cả quyền lợi của Đất Nước )

Các triều đại phong kiến trước đây có chức gián quan là những người can ngăn nhưng cũng có giám quan là những người giám sát việc thực thi quyền lực. ( TinParis. Hữu Thọ chưởi Đảng CSVN còn thua thời kỳ phong kiến ) Khi người ta có quyền lực bao giờ cũng có khả năng lộng quyền, cho nên phải quy định cụ thể để buộc anh thực thi đúng quyền hạn chứ không được nhút nhát nhưng đồng thời cũng ngăn ngừa sự lộng quyền.

Vì thế, tôi rất ủng hộ việc ban hành quy chế giám sát trong Đảng. Việc gọi một ủy viên T.Ư lên làm việc là quyền của Ủy ban Kiểm tra T.Ư. Anh vi phạm kỷ luật Đảng, tôi có quyền hỏi nhưng, đôi khi họ muốn làm nhưng ngại. Giám sát là việc cực kỳ khó và phức tạp nhưng không phải không làm được. Vấn đề là phải có kiến thức, sát với thực tiễn và, về mặt ý thức, phải dám dũng cảm đấu tranh vì chân lý, vì kỷ luật Đảng.

Sợ cấp dưới vì lo mất phiếu
Theo ông, nếu có đội ngũ giám sát có kiến thức, tâm huyết và dũng cảm, liệu chúng ta có thể hạn chế được những vụ tiêu cực gây bức xúc dư luận như PMU 18, PCI…vừa qua không?

Thực ra không phải đến Đại hội X mà các Đại hội VIII, IX đã có chủ trương về việc giám sát người đứng đầu rồi. Nếu người đứng đầu tốt thì không bao giờ để quân của mình, tập thể mình lãnh đạo xấu cả vì, trước hết, là hỏng việc, thứ hai là người đó phải chịu trách nhiệm cá nhân. Khổ nỗi trong cơ chế của ta là có khi người đứng đầu lại không được quyết định tất cả. ( TinParis. Ai đây? Bộ chánh trị TU Đảng ? )Ta muốn nhưng vẫn chưa dám làm.

Thứ nhất do sự nể nang lẫn nhau hay ngại xử lý mà mất uy tín của cả một tập thể ( TinParis. Lại bênh vực Đảng! ); Thứ hai mới thực sự khó xử là giữa công và tội, tình và nghĩa. Ta thường vẫn nói công thì thưởng, tội thì phạt, kỷ luật tùy mức độ vi phạm. Về lý là thế nhưng làm rất khó.

Tôi nói trường hợp một vị chủ tịch UBND tỉnh ở miền Trung bị kỷ luật chủ yếu do vợ là một đầu mối buôn rượu lậu ở cửa khẩu Lao Bảo. Tôi từng chiến đấu ở Khe Sanh biết ông này trong chiến tranh từng được mệnh danh là Hùm Xám Đường 9 chứ không phải loại xoàng.
Ngày xưa cùng là đồng đội chiến đấu vào sinh ra tử, bây giờ anh ở cấp có thẩm quyền quyết định sinh mạng chính trị của tôi, anh có nghĩ gì đến thời gian sống chết có nhau?
Chuyện tình và nghĩa đâu phải chuyện đơn giản. ( TinParis. Điều nầy chứng tỏ CSVN đâu có luật Pháp ) Bác Hồ còn nói phải có lý có tình cơ mà. Vấn đề đấu tranh, phê bình và tự phê bình tôi đã nói nhiều lần. Bây giờ phê bình cấp trên thì ngại bị trù úm; phê bình ngang cấp thì sợ bị mất đoàn kết; phê bình cấp dưới thì sợ mất phiếu. Cho nên có tâm lý sợ cấp dưới, từ giờ đến đại hội các cấp, nhiều cán bộ lãnh đạo sợ cấp dưới chứ không phải cấp dưới sợ cấp trên vì nó liên quan đến chuyện phiếu bầu.

Cụ thể câu chuyện cán bộ sợ cấp dưới là như thế nào, thưa ông?

Về chuyện phiếu bầu, tôi từng tâm sự với một số đồng chí lãnh đạo cao cấp rằng trong tình hình hiện nay tôi thích anh nào đạt 60-70 phần trăm phiếu hơn những anh phiếu cao tới 90-100 phần trăm, bởi kết quả như vậy đáng tin hơn. Khi Ban Tổ chức T.Ư hỏi ý kiến về chiến lược cán bộ, tôi cũng đã phát biểu vấn đề này.

Trong nhiều trường hợp phiếu bầu không liên quan đến năng lực mà liên quan đến tình cảm yêu ghét. Do vậy, bỏ phiếu chưa chắc chọn được đúng người tài. Thứ hai, lá phiếu cũng chỉ mang tính chất thăm dò còn quyết định ra sao phải do lãnh đạo.

Đó là quy trình từ trước đến nay, giờ vẫn chưa thay đổi. Dù chỉ là thăm dò nhưng ít vị lãnh đạo nào dám vượt qua chuyện thăm dò đó cho nên phiếu thăm dò nghiễm nhiên trở thành phiếu quyết định. Điều này rất đáng suy nghĩ và cần phải thay đổi.

Công tác cán bộ của ta cũng còn nhiều điều phải bàn. Có lần gặp một doanh nghiệp thuộc hàng đại gia, tôi hỏi sao không trở về đóng góp cho quê hương, ông ấy nói với tôi một câu khiến tôi rất trăn trở: “Tỉnh em thói thường giàu thì ghét, nghèo thì khinh, thông minh thì diệt. Em trót vừa giàu lại vừa thông minh, đáng chết đến hai lần nên không sống ở quê hương được”. Nếu còn tồn tại tâm lý như thế thì người tài rất khó có chỗ dụng võ.

Giám sát không có vùng cấm
Đã có quy định về việc cán bộ, đảng viên giữ chức vụ nhất định phải kê khai tài sản. Theo ông có nên đưa vấn đề này vào nội dung giám sát không?
Cần phải nhớ rằng tài sản cá nhân thuộc về bí mật cá nhân mà không xã hội nào động đến bí mật cá nhân vì vi phạm nhân quyền. Nhưng một khi anh đã bước chân vào cơ quan quyền lực, ở cấp nào thì phải kê khai tài sản. Việc thực hiện kê khai tài sản bây giờ cũng rất phức tạp, không chỉ có nhà đất mà còn các tài sản khác, rồi tài sản gửi ở nước ngoài. ( TinParis. Điều nầy mọi người đều biết từ hàng chục năm nay rồi )

Ta cứ nói dân kiểm tra nhưng dân làm sao kiểm tra được. Anh có mấy miếng đất, tài khoản gửi ngân hàng này ngân hàng kia đứng tên người khác, làm sao dân biết? Dân làm sao biết được mặt mũi gói thầu Dung Quất như thế nào để giám sát.

Phải thẩm quyền đến cỡ nào, trình độ cao cỡ nào, mới đủ khả năng giám sát. Bây giờ những kẻ tham nhũng ngày càng mưu mô, tinh vi và am hiểu luật pháp chứ không phải kiểu tham ô thô thiển như mấy tay thủ quỹ, thủ kho ngày xưa đâu.

Ông vừa nói người ta có thể có vô số cách để che giấu tài sản cá nhân như cho vợ con, họ hàng, người thân đứng tên chẳng hạn. Vậy quy chế giám sát có nên nhắm tới những đối tượng trên?

Cán bộ phải báo cáo công khai tài sản với tổ chức Đảng và những cơ quan anh ứng cử. Nếu giấu giếm nhưng sau này phát hiện anh có sai phạm thì phải kỷ luật. Việc có nên coi vợ con, người nhà của cán bộ có chức quyền như đối tượng giám sát hay không cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng.

Tại sao nhiều luật của ta cứ luôn phải sửa đổi, bổ sung? Chính vì thủ đoạn ngày càng tinh vi. Người ta tìm mọi cách lách luật, còn những người làm luật cần phải bổ sung để bịt những lỗ hổng. Đây là cuộc đấu tranh thường xuyên, xã hội nào cũng thế thôi.
Việc ban hành quy chế giám sát là điều đáng mừng. Làm được như vậy thì không cấp nào có thể loại mình ra khỏi đối tượng bị giám sát và không có vùng cấm nào cả. Đấy thực sự là tiến bộ nhưng còn rất nhiều việc phải làm. Tuy nhiên cũng đừng hy vọng trong một nhiệm kỳ có thể làm tốt ngay mà phải làm dần từng bước một.( TinParis. Trên 34 năm rồi , chừng anéo mới làm đây ? Chắc đợi đến Tết Congo)
Hiện nay không phải chúng ta không có những cơ quan có chức năng giám sát như MTTQ tham gia giám sát cán bộ ở khu dân cư chẳng hạn nhưng hiệu quả không cao. Theo ông, đấy là do thiếu chế tài hay vì nguyên nhân gì?

Giám sát ở khu dân cư là điều tốt nhưng nội dung còn nhiều bất cập, vẫn chỉ loanh quanh những chuyện để ý lặt vặt nhưng xã hội hiện nay đâu có như ngày xưa. Bây giờ giả sử họ nhận phong bì, chuyển khoản hoặc có cổ phần đâu đó làm sao kiểm soát nổi.

Tôi cũng sống ở khu dân cư thì thấy việc giám sát ở khu dân cư mất hiệu lực chính vì sự nể nang. Sống cùng nhau, cùng sinh hoạt tổ dân phố, đi ra đường hàng ngày gặp nhau, nhiều thứ ràng buộc cho nên, tâm lý người Việt, bên cạnh những cái tích cực cũng có mặt tiêu cực. Người Việt trọng tình hơn trọng lý vốn là một cơ sở nhân văn nhưng hiện nay lại đang là một cản trở của sự minh bạch và pháp quyền.

Ai cũng thấy cần sự minh bạch và trong công tác giám sát càng phải tính đến chuyện đó nhưng vấn đề giám sát cán bộ hiện còn bị ràng buộc nhiều thứ lắm. Động đến lãnh đạo cấp cao là động chạm đến uy tín của cả một tổ chức chứ không phải chỉ cá nhân người đó. ( TinParis.Lại chưởi Đảng!)

Đánh giá con người lại càng phức tạp, bởi lẽ con người trong chính có tà, trong tà có chính cho nên ngay người tà cũng có phần chính, mình phải trân trọng và phải khuyến khích để cho phần nhỏ nhoi ấy tăng lên.
Xin cảm ơn ông.

Đặng Vương Hạnh Thực hiện

http://tinparis.net/vn_index.html

VỪA BÁN NƯỚC VỪA KÊU GỌI LẤY LẠI NƯỚC

VỪA BÁN NƯỚC, VỪA KÊU GỌI LẤY LẠI NƯỚC.

– TRƯƠNG MINH HÒA ( Tinparis.net) –

TINPARIS: Thời gian qua, số đọc giả đã đến với Tinparis gia tăng từng tháng, là niềm khích lệ tinh thần cho những người thực hiện, cộng tác viên, sau khi chúng tôi đã đem hết tâm huyết để mở rộng đường dư luận, phổ biến chính nghĩa quốc gia và đồng thời chống đỡ, phản công những đòn tung hỏa mù tuyên vận đánh phá điên cuồng của Cộng Sản từ trong nước chỉ đạo qua các cơ quan truyền thông với hình thức các trang báo điện tử, báo giấy, đài phát thanh, truyền hình, lập lờ đánh lận quần chúng, thuộc dạng” xanh vỏ đỏ lòng” do bọn gián điệp nằm vùng, tay sai, đón gió trở cờ, ham tiền thực hiện, nở rộ sau nghị quyết 36, tuy nhiên sau thời gian ngụy trang dù khéo léo đến đâu, cũng đều lần lượt bị lộ ra ánh sáng, như cây kim dấu trong bọc lâu ngày, cũng lòi ra.

Với quyết tâm” đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo” trên mặt trận đấu tranh chánh trị, càng ngày càng quyết liệt, tiếp nối sau trận chiến quân sự chấm dứt ngày 30 tháng 4 năm 1975, kẻ gian ác Cộng Sản và những tên tay sai ở hải ngoại lần lượt phơi bày bộ mặt thật theo thời gian. Tiền đồn Tinparis đã mở nhiều mũi dùi đánh bật tận gốc rể chủ nghĩa phi nhân Marx Lenin, vạch mặt tên Việt gian Hồ Chí Minh, đồng bọn và những kẻ:” ăn cớm quốc gia thờ ma Cộng Sản” trước 1975 và những thành phần” ăn cơm tự do, đội mo Cộng Sản” tại hải ngoại, là bọn tay sai, đáng lưu ý nhất là băng đảng Mafia Việt Tân, một tổ chức tay sai của đảng Cộng Sản, là thứ giặc gần nguy hiểm nhất, ở chung quanh, đang đe dọa trực tiếp đời sống, sự an bình của người dân hải ngoại. Đó là tổ chức giống như Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam trước 1975, nay được mang tên là đảng Mafia Việt Tân, có cùng một chức năng, là một tổ chức” giải phóng hải ngoại” để bàn giao cho giặc Cộng. Một số người rất kỷ lưỡng cài Alarm, nuôi chó giữ nhà, kín cổng cao tường…để phòng ngừa kẻ trộm, nhưng không tìm cách phát giác ra” kẻ trộm từ trong nhà” là thân tộc của mình, thì có ngày bị dọn sạch; cho nên ở hải ngoại, Ban Đảng Mafia Việt Tân chính là” lực lượng xung kích, đặc công” của Việt Cộng, là kẻ thù trước mắt, là kẻ thù nguy hiểm nhất.

Do đó, Tinparis trở thành điểm thu hút sự chú ý, là mục tiêu tấn công, phản kích, đánh phá của đảng Cộng Sản trong nước và bọn tay sai ở hải ngoại, nên Tinparis không ngạc nhiên khi nghe được những lối tuyên truyền xám, rỉ tay, vô căn cứ, là lối cũ mà Việt Cộng thường áp dụng, chúng phao tin đồn: ” Tinparis là tờ báo của Việt Cộng, hay tờ báo đánh lung tung, đụng ai cũng đánh..” và ngay cả cá nhân chúng tôi, cũng đã bị một trang báo điện tử thuộc” nồi cháo heo truyền thông hải ngoại” ở Hoa Kỳ, sau khi đăng một bài đánh phá, còn đăng ý kiến một cách ngây ngô nhưng có chủ ý của ban biên tập ( nghe đâu vì lý do tài chánh mà bị mua chuộc với chủ mới mà người điều hành cũ để làm bình phong): cho là họ HỨA không phải là họ Việt Nam, ý nói Hứa Vạng Thọ cũng là” hậu duệ, tay chân của bọn lưu manh bành trướng Bắc Kinh”; tuy nhiên đây là màng” tuyền thông ấu trĩ” đánh phá điên cuồng của bè lũ tay sai và nhất là băng đảng Mafia Việt Tân, xin hỏi là: thiếu tá hải quân Ngụy Văn Thà, họ NGỤY có phải là họ Trung Hoa không? Và trong các tướng lãnh VNCH có phó đề đốc Lâm Ngươn Tánh, đề đốc Chung Tấn Can, trung tướng Lâm Quang Thi, trung tướng Đồng Văn Khuyên….chắc đều là người Tàu cả và Bình Tây Đại Tướng Quân Trương Công Định cũng là người Tàu…. đó là một trong những thủ đoạn điển hình của những cơ quan truyền thông lập lờ” nửa nạc nửa mở” nhằm triệt hạ uy tín, gây ác cảm với đọc giả, nhưng số đọc giả càng tăng, chứng tỏ là những màng tuyên truyền ấu trĩ ấu bị phản tác dụng ngay sau khi tung tin; tuy nhiên, đây cũng là dấu hiệu cho thấy: đảng Cộng Sản, đón gió đã trúng phải yếu huyệt, nên mới phản ứng một cách điên cuồng, như bị đâm trúng chỗ nghiệt, phải la lên vì không thể chịu nỗi sự đau đớn, tức tối nữa.

Những bài viết chọn lọc kỷ lưỡng, mang tinh thần quốc gia, diệt gian trừ bạo, vạch mặt không khoan nhượng những kẻ đâm sau lưng dân tộc, dù họ là khoa bảng, tướng tá cũ, tù cải tạo, những kẻ núp bóng tu sĩ, nhất là băng đảng Mafia Việt Tân…. đó là những liều thuốc sát trùng, khi phun ra, khiến cho sâu mọt, chuột, bọ, dán, rệp, mối…..núp kỷ trong hẻm hốc, bị trồi đầu ra ngoài và dẫy chết, nên trước khi chết, chúng vùng vẫy lần cuối, cũng là điều tự nhiên. Tinparis nhận thấy được những yếu huyệt của kẻ thù dân tộc, nên cứ một con đường đi tới, với chủ trương:

” Đừng sợ những gì Cộng Sản làm.
Hảy làm mạnh những gì Cộng Sản sợ”.
Tinparis chỉ sợ là mình không dùng đủ liều lượng thuốc” sát Cộng” để vô hiệu hóa những con siêu vi Cộng Sản, nằm vùng, tay sai ở hải ngoại để làm sạch môi trường tự do mà thôi. Tinparis cương quyết đi theo con đường phục vụ chính nghĩa, trong tinh thần” chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành ta cứ đi”. Tác giả Trương Minh Hòa là người từng được nhiều đại lý nón cối hải ngoại biếu không những chiếc nón, gởi tặng một có kèm theo cái cho không thứ hai: Bộ ngoại giao nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam gởi giấy biểu dương, gọi là” đồng chí” một cách thân thương vì đã phục vụ tốt đảng và nhà nước. Tờ Adelaide tuần báo ở Nam Úc, số 122 do nhà giáo sử địa tài ba Vũ Ngọc Kha chủ trương, dành trọn trang A 3 đăng bài lấy tên giả, cho biết và tố cáo Trương Minh Hòa là cán bộ vượt Trường Sơn và mới đây tháng 5 năm 2009, trên trang mạng của cư sĩ kiêm dốt sĩ Lê Tấn Kiết, do luật sư trẻ, một trong số những tay sai trung thành là Nguyễn Quốc Cương thực hiện, có đăng một bài của một người tự xưng là” sĩ quan Thủ Đức”, cũng chụp mũ là Việt Cộng, bài viết nầy được photo, kẹp vào tuần báo Việt Luận vào đầu tháng 5- 2009 tại Tây Úc, nên gây phản ứng ngược lại, nếu người viết bài với tên giả, không địa chỉ, điện thoại liên lạc mà xưng là sĩ quan Đà Lạt thì bể ngay tại địa phương, nên phải xưng là Thủ Đức, vì quân trường nầy đào rất nhiều. Sau đây Tinparis xin được giới thiệu một bài viết của người được các đại lý nón cối hải ngoại tặng khá nhiều nón cối trong thời gian qua tại hải ngoại.

VỪA BÁN NƯỚC, VỪA KÊU GỌI LẤY LẠI NƯỚC. – TRƯƠNG MINH HÒA – TinParis.net

Sau khi quân Nhật đầu hàng vì hai trái bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki của Hoa Kỳ, các nước đồng minh lấy danh nghĩa kẻ chiến thắng đến Việt Nam để giải giới quân đội Thiên Hoàng Nhật, miền Bắc giao cho chính phủ Trung Hoa của thống chế Tưởng Giới Thạch do tướng Lư Hán chỉ huy. Được biết, trước khi sang làm công việc nầy, tướng Trương Phát Khuê đã chỉ thị cho tướng Lư Hán phải tìm mọi cách để giúp đỡ những đảng phái quốc gia, tuy nhiên phụ tá tướng Lư Hán là tướng Tiêu Văn, một người Cộng Sản, được Mao Trạch Đông cài vào, thế nên sau khi đến Việt Nam, tên tướng nầy ngầm ngấm giúp cho nhóm Cộng Sản do Hồ Chí Minh cầm đầu, nên nhóm Cộng Sản càng được lợi thế, phát triển thế lực trong thời kỳ tranh tối tranh sáng. Tên tướng Tiêu Văn dáng người lùn, thích cỡi ngựa rong chơi, nên Hồ Chí Minh cử một” đồng chí” có nhiệm vụ” nghiệp chuyên” là khòm lưng cho tên tướng Tàu đạp để lấy đà lên lưng ngựa, việc nầy được người làm công tác mang tính cách đầy tớ nầy, tự hào là:” yêu nước, là phục vụ cách mạng”, khi có ai hỏi đến cái sứ mệnh” phục vụ đất nước” quái gở và nhục nhả nầy.

Lợi dụng tình hình ấy, thực dân Pháp, dù mới lấy lại chủ quyền từ tay Đức Quốc Xã, nhưng tướng De Gaulle cũng không quên con mồi Việt Nam, muốn trở lại đây tái lập chế độ thuộc địa, hầu duy trí thế lực tại vùng Đông Dương. Thời cơ thuận lợi cho thực dân Pháp là ở Việt Nam đã có” ứng trực” những kẻ bán nước, sẵn sàng dâng cả giang sơn để bảo vệ một băng đảng cướp lấy danh nghĩa” cách mạng”, mà Hồ Chí Minh từng dạy đảng viên nồng cốt rằng:” Thà mất nước, chớ không để đảng, phải bảo vệ đảng như bảo vệ con ngươi trong tròng mắt”, dù sông có thể cạn, núi có thể còn, song việc bán nước của đảng Cộng Sản là không bao giờ thay đổi, được duy trì đến ngày nay. Nhằm mục đích đến Đông Dương càng sớm càng tốt và cũng phù hợp với ý đồ thâm độc của Hồ Chí Minh trong việc triệt hạ tất cả các đảng phái quốc gia như Đại Việt Quốc Dân Đảng, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Duy Dân…..qua chủ trương: ” liên kết với kẻ thù xa, để diệt kẻ thù gần”, vì cái đảng Cộng Sản của hắn chỉ là một nhóm nhỏ trong chính phủ liên hiệp, nên Hồ Chí Minh sau khi gạt Nguyễn Hải Thần ra khỏi chức vụ lãnh đạo, bèn chụp lấy thời cơ qua việc lợi dụng tư cách chủ tịch, sang dự hội nghị Fontainebleau, nhưng thoạt đầu, không được hai bên đồng thuận và đang bàn cải; với chủ mưu bành trướng thế lực Cộng Sản, nên nữa đêm, Hồ Chí Minh đến gõ cửa nhà của bộ trưởng thuộc địa Marius Mautet để bí mật bổ túc hiệp ước sơ bộ 6-3 1946 thành tạm ước, nội dung là rước thực dân Pháp sang cai trị lần thứ hai, hắn không dám đề tên, mà đẩy người quốc gia, thành viên cao cấp của Việt Nam Quốc Dân Đảng ra làm bình phong, đó là hiệp ước Sainteny-Vũ Hồng Khanh.

Sau khi cấu kết với thực dân Pháp bán nước, Hồ cho cán bộ, dân chúng học tập và khai triển những gì có lợi, tuy nhiên điều nầy gây căm phẩn trong quần chúng, nhất là sự phản kháng mạnh mẻ của các đảng phái quốc gia là bản tạm ước nầy đi ngược lại những gì mà tên Hồ Chí Minh tuyên bố tại quảng trưởng Ba Đình, ngày 2 tháng 9 năm 1945:” không có gì quí hơn độc lập, tự do”. Trước tình thể bị phản ứng ngược nầy, Hồ Chí Minh đánh lạc hướng qua ngụy tạo vụ án Ôn Như Hầu, tấn công trụ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng tại số 9 Đường Ôn Như Hầu vào ngày 12 tháng 7 năm 1946, chính tên đại tướng” không người lái” anh hùng dỏm Điện Biên, là người thiệt nhưng mang sao” quân hàm” dỏm do Hồ Chí Minh gắng, sau nầy là” anh hùng nạo thai, chỉ huy chiến trường bịt háng, bí trôn phụ nữ lừng danh cả nước” là Võ Nguyên Giáp đã thông đồng với đại tá Crépin, quyền tạm thời đại diện cho Tòa Cao Ủy Pháp để xin giúp một số chuyên viên sử dụng pháo binh, nhắm vào các chiến khu của Việt Nam Quốc Dân Đảng; đương nhiên là thực dân Pháp không bỏ lỡ cơ hội nầy, nên lần lượt nhiều chiến khu của Việt Nam Quốc Dân Đảng bị tấn chiếm và ” tiếp thu” nhờ thủ đoạn, cấu kết với thực dân, nhiều chiến sĩ quốc gia bị giết một cách oan uổng.

Đó là cái giá mà những người quốc gia như Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần…phải trả cho sự tổn thất các nhân sự của các đảng phái quốc gia, khi những người nầy bắt tay liên hiệp với đảng Cộng Sản do tên Việt gian Hồ Chí Minh cầm đầu. Vụ án ngụy tạo ở Đường Ôn Như Hầu, Hà Nội là đòn hỏa mù, nhằm khỏa lấp chuyện bán nước của tập đoàn Hồ Chí Minh, trong thời kỳ ấy có những tin tức, dư luận tạm lắng dịu khi tình hình đảng phái bất đồng do chính Cộng Sản gây ra, thực dân chính thức đổ bộ vào Việt Nam, mà Hải Phòng là một trong số các điểm đổ quân, trơ trẽn là ngày Pháp đến thì đảng Cộng Sản cổ động dân chúng mang cờ đỏ sao vàng ra” chào mừng đoàn quân viễn chinh Pháp”, dân chúng thắc mắc hỏi, thì được Cộng Sản nói láo là:” ngày sinh nhật của Hồ Chí Minh”, nói láo thành thiệt, nên từ đó đảng Cộng Sản bắt dân chúng miền Bắc và sau 1975 ở miền Nam, hàng năm kỷ niệm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh 19 tháng 5, là một trong số những” quốc lễ” của đảng và nhà nước Cộng Sản.

Sau khi thực dân Pháp đổ bộ qua sự cấu kết của đảng Cộng Sản Việt Nam, thì tại Hà Nội, chính Hồ Chí Minh lại lên tiếng kêu gọi” toàn quốc kháng chiến đánh Tây giành độc lập”, hắn huênh hoang kêu gọi dân chúng toàn quốc:” ai có dao dùng dao, có búa dùng búa…” và liền sau đó tổng bộ chính trị, cơ sở chỉ huy đầu bão của đảng Cộng Sản và cả tên cáo Hồ cùng nhau” lẫn trốn” lên rừng núi, để mặc cho dân chúng” đánh Tây giành độc lập” muốn đánh đấm kiểu nào tùy ý:

” Giặc về thì ta lánh.
Giặc tràn thì ta dông”

Trước tình thế nầy, những người Việt yêu nước đứng lên thành lập lực lượng Tự Vệ Thành, tự trang bị vũ khí, quân phục, tiếp liệu…. thực sự đánh Tây. Sau khi toàn dần bị lừa vào phong trào” Đánh Tây” thành công qua trận Điên Biên và cũng chính tên Hồ Chí Minh cấu kết với thực dân Pháp do thủ tướng Mendes Frances, đại diện quan thầy Trung Cộng là Chu Ân Lai, quan thầy Liên Sô là ngoại trưởng Molotov, là thủ phạm tạo ra hiệp định Geneve chia đôi đất nước ngày 20 tháng 7 năm 1954, đưa đến gần 1 triệu người Bắc chạy vào Nam tỵ nạn Cộng Sản ngay trên đất nước mình và từ năm 1954, cuộc chiến khác cũng do đảng Cộng Sản gây ra, kết thức ngày 30 tháng 4 năm 1975, với hàng triệu người bỏ mình trên đường tìm tự do. Từ ngày có đảng Cộng Sản và tên đại quốc tặc Hồ Chí Minh, người Việt Nam trải qua hai cuộc chiến đổ xương máu vô ích, dân thường bị giết, tất cả phải nói đến con số hơn 10 triệu cũng chưa đủ nói lên mức độ dã man của đảng Cộng Sản và tên quốc tặc Hồ Chí Minh. ( tên nầy tên thật là Nguyễn Sinh Cung, làm nhiều điều gian ác, gây tội tày trời với dân tộc; hắn lấy tên giả là Hồ Chí Minh, đây là cái đểu nữa, khi dân chúng nguyền rủa, cứ hài tên giả ra, còn tên họ thật thì ít ai nói tới).

Quá trình vừa bán nước vừa hô hào kêu gọi” bảo vệ tổ quốc” thường được lập lại, khi đảng suy yếu và cần lừa đảo đồng bào. Từ lâu, đảng Cộng Sản Việt Nam đã đem đất nước” Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư” của tiền nhân để dâng lần cho quan thầy, từ khi Mao Trạch Đông làm chủ Hoa Lục năm 1949, với cái tình hữu nghị như răng với môi, Trung Cộng dời lần các cột mốc biên giới, lấn đất từ từ ngay trong thời kỳ giúp quân lính, vũ khí, cố vấn đánh trận Điện Biên Phủ và sau khi chia đôi đất nước, miền Bắc cũng đã thực hiện những văn bản dâng đất cho Tàu để đổi lấy viện trợ vũ khí hầu thực thi chính sách nhuộm đỏ khu vực, làm lợi cho Nga, Tàu.

Từ năm 1956, Hồ Chí Minh ra lịnh cho bộ trưởng ngoại giao, gốc miền Nam tập kết là Ung Văn Khiêm, ký công hàm công nhận chủ quyền của Trung Cộng ở quần đảo Hoàng Sa, và ngày 14 tháng 9 năm 1958, Phạm Văn Đồng, cũng tuân lịnh Hồ, xác nhận việc nầy lần nữa, nhằm củng cố tình hữu nghị Việt-Trung đời đời bền vững, mà Hồ Chí Minh thì vẫn lếu láo nói với đàn em:” Ông Trung Quốc đã cho mình quá nhiều, mình biếu lại vài hòn đảo toàn là phân chim, có đáng giá gì đâu”. Trong thời kỳ đó, Trung Cộng lấn dần biên giới bằng nhiều thủ đoạn như:

-Bộ đội Tàu giả vờ tắm, làm phòng tắm trên đất Việt, rồi sau đó giả vờ bỏ quên sà phòng, khăn…và ngày hôm sau cứ sang tắm, đến khi quân Cộng Sản Việt Nam sợ không dám đụng tới, vì chưa được lịnh từ trung ương, sợ làm mất tình hữu nghị, nên thời gian mà nhường lần đất cho bội đợi Trung Cộng chiếm.

-Dân Tàu trồng bí đỏ, đọt bò về phía Nam, hể đọt bí bò tới đâu là thuộc đất Tàu…dân Việt Nam ở vùng nầy cũng được đảng và nhà nước cho học tập với thứ” tình hữu nghị Việt-Trung” nên không dám phản đối những” đọt bí xâm lăng” dần lãnh thổ hàng năm, giống như những bàn tay lông lá thò từ bên kia biên giới.

Với những thủ đoạn gậm nhấm như thế, từ cái dạo” tình hữu nghị” đó đất biên cương từ Mường Tè đến Mống Cái càng bị” tầm ăn dâu” một cách” không người lái” nhưng Hồ Chí Minh thì cứ một mực” bảo vệ tình hữu nghị Việt-Trung”, trong thời kỳ còn” đồng chí cật ruột thân thương” Hồ thường cỡi chiếc máy bay bản hiệu BH-195 sang Bắc Kinh để cùng Mao Trạch Đông” liên hoan” món chưn vịt chiên với cách biến chế dã man, uống rượu Mai Quế Lộ, Mao Đài, hút á phiện ro ro, thưởng thức gái ( là sở thích của Hồ trên đường làm tay sai ngoại bang) ở Điếu Ngư Đài, nơi trước đây dành cho vua chúa Tàu câu cá giải trí. Do sự ràng buộc nầy, nên Mao Trạch Đông nắm hết” sơ yếu lý lịch” và” sở thích của Hồ” nên Hồ Chí Minh không dám hó hé phản đối quân Tàu gậm nhấm từ từ vùng đất biên thùy, và điều làm cho Hồ sợ nhất là: Mao Chủ Tịch đưa lên cảnh dâm dục ở đất Tàu, thì còn gì là:” Bác Hồ một đời lo cho dân cho nước mà không nghĩ đến lập gia đình”, nên đành ngậm miệng để mặc cho Mao muốn làm gì cũng được.

Theo tài liệu từ quyển” Đòi Nợ Máu” của Nguyễn Ngọc Nga, thì từ thời Hồ Chí Minh, Trung Cộng đã coi nước Việt ( miền Bắc) là đất Tàu, nên ngang nhiên muốn làm gì thì làm, chỉ thông báo chiếu lệ thôi. Bằng chứng là vào thời Hoa Kỳ trừng trị bọn hiếu chiến Cộng Sản Bắc Việt bằng những ngày tháng không kích, khiến cho bộ chính trị, gia đình chúng phải” sơ tán” để tránh thiệt hại ở noi an toàn. Nơi lý tưởng trốn bom là địa danh tên” cánh đồng Tế Tiêu”, dành cho gia đình và đám mầm non đỏ trung ương, có” chế độ bồi dưỡng” bơ sửa hàng ngày, y như dân Tây Phương, trong khi dân chúng thì phải tạm” khắc phục” dùng nhao, phó sản từ các bịnh viện, xào với rau xanh để có chất đạm, sống qua ngày hầu” đánh Mỹ cứu nước” và bảo vệ thành trò xã hội chủ nghĩa.

Cánh đồng nầy cách Hà Nội chừng 36 cây số, không có cầu, xe chạy không gặp trở ngại giao thông, vì đảng cấm dân không được dùng trục lộ nầy để sơ tán, nên các loại xe Volga, Pobeda, do Nga chi viện cho cán bộ cao cấp cứ một đường chạy tới nơi an toàn, khi được báo động là sắp có máy bay Mỹ tới” tham quan”. Vùng nầy là cánh đồng lớn, không có bất cứ nhà máy, cơ sở quân sự, nên không lực Hoa Kỳ không lưu ý đến cái mục tiêu nầy. Tuy nhiên nhằm bảo vệ tối đa cho gia đình, cán bộ cao cấp, cánh đồng Tế Tiêu có đặt 2 đơn vị tên lửa SAM -10 ở Chùa Hương và Bình Đà, cùng với lực lượng đại pháo, phòng không tua tủa như lưới, rất an toàn ở Ba Thá. Thế mà Bộ Chính Trị vẫn cẩn thận tối đa, chuẩn bị cả thuyền, để đưa gia đình trốn ở Chùa Hương, nếu quân Mỹ đổ bộ xuống bằng trực thăng vận, nỗi ám ảnh của bộ chính trị trung ương đảng, khi nhận ra là” thằng Mỹ” cũng dám chơi bạo lắm. Nơi nầy đảng chỉ đạo cho công binh xây dựng những hầm trú ẩn kiên cố hơn cả hầm chỉ huy của tướng De Castrie trong trận cố thủ Điện Biên.

Sau một năm trú ẩn an toàn, thì một hôm, sứ quán Trung Quốc đến thông báo với chủ tịch Hồ Chí Minh, với nội dung: Trung Quốc muốn giúp Việt Nam xây dựng một nơi tránh bom thuộc loại” hiện đại” ở núi Thiên Thai, nằm bên kia sông Hồng, mà Hồ Chí Minh thừa biết với đủ thứ trở ngại: cầu Long Biên độc nhất dẫn đến địa điểm, là nơi từng Mỹ đánh bom sập ba nhịp, trở thành vô dụng, thay vào đó là chiếc cầu phao” hiện đại” do ông Trung Quốc viện trợ thì như” cầu tre lắc lẻo, gập ghềnh khó đi”, ngày đêm nghẹt cả dân chúng xuôi ngược, gánh gồng, xe ô tô, xe đạp…khiến cầu đứt và nối lại nhiều lần như bài thơ” Đôi Mắt người Sơn Tây” của Quang Dũng:” hết điêu tàn, nối lại điêu tàn..”, núi Thiên Thai lại nằm trong tầm hoạt động của phi cơ Mỹ, thế mới nguy. Dù thấy bất lợi hoàn toàn, nhưng Hồ Chí Minh nào dám cải lịnh quan thầy, nên sau đó, tên trưởng phái đoàn xây dựng hầm trú ẩn từ Trung Quốc đến, không cần Hồ chủ tịch đồng ý hay có ý kiến, chỉ trình chiếu lệ đồ án và cho nhân viên đến làm việc, đả thế mà còn ra lịnh là trong thời gian nầy, tuyệt đối không cho bất cứ người, đơn vị bộ đội Việt nào đến gần, sau khi làm xong, giao cái hầm trú ần sơ sài và công tác hoàn thành, thu dọn hành trang về nước. Được biết, thời quân Mãn Thanh xâm lăng nước ta, bị vua Quang Trung đánh tơi tả, chạy về Tàu không kịp mang theo những tài sản ăn cướp, nên Tôn Sĩ Nghị mới chôn kho tàng ở núi Thiên Thai; sau nầy Mao Trạch Đông biết được, nên cho người sang đào lên lấy hết mang về, lấy danh nghĩa là giúp cho trung ương đảng xây hầm tránh bom. Đây là thông lệ và cũng là truyền thống tùng phục Trung Cộng từ thời Hồ Chí Minh, nên Trung Cộng công khai lấy danh nghĩa” hợp đồng” kinh tế để vào Tây Nguyên khai thác quặng Boxít, cũng là làm theo” tư tưởng Hồ Chí Minh”. Để chứng minh” hụ hợ” lòng yêu nước, một số tướng phục viên như Võ Nguyên Giáp, các khoa học gia, chuyên gia, kinh tế gia… đang” ăn lương đảng, nói sảng tối ngày” cũng lên tiếng phân tích lợi hại bằng miệng và có chừng mực, có chính sách, chớ làm mạnh quá sẽ bị phục viên hay bị ú tim đấy; tuy nhiên ai cũng biết rõ ràng là quyền cho phép giặc Trung Cộng vào khai thác, đặt căn cứ quân sự hay là nơi nầy có” kho tàng” quí báu nào của vua chúa….như chuyện hầm trú ẩn núi Thiên Thai, là do bộ chính trị trung ương đảng? Có ai biết được những bí mật bán nước của tập đoàn đảng Cộng Sản Việt Nam….

Tình hữu nghị có khi trồi, khi sụt, khi có, khi không, nên thời kỳ sau khi chiếm được miền Nam, Đảng CSVN theo Nga, làm phật lòng quan thầy Tàu, nên ở biên giới Tây Nam, đàn em Bắc Kinh là Pol Pot phát động cuộc chiến và phía Bắc, quan thầy Trung Cộng cử đại tướng Dương Đắc Chí mang quân hù dọa, đến năm 1989, thì đã dạy cho Việt Nam một bài học. Đoàn quân Tàu đánh với quân Việt Cộng, hai bên tổn thất cao, giờ nầy chưa công bố chính xác; đây là cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa hai quan thầy Cộng Sản, mà tên đầy tớ trung thành với Nga là Việt Nam chỉ có nhiệm vụ thi hành lịnh, nên đây không thể gọi là” cuộc chiến chống xâm lược” như nhiều người lầm tưởng. Cuộc chiến nầy làm hao tiềm năng kinh tế Việt Nam và nhất là cái” thánh địa VC” ở Hang Pác Pó đã bị quân Tàu chiếm, đập phá, nghe đây phóng uế và nay thuộc đất Tàu, mất luôn những di tích lịch sử khác như Ải Nam Quan, Bản Giốc, suối Nguyễn Trải….

Từ sau ngày 20 tháng 8 năm 1991, quan thầy Liên Sô sụp đổ do dân chúng” thế quyết đấu tranh giành lại chính quyền” nên cùng nhau xuống đường:” giành lấy chính quyền về tay nhân dân”. Thế là con chó Việt Cộng bị mất chủ, nên cuối cùng phải đưa đầu cho quan thầy cũ Trung Cộng tròng vào sợi dây, dắt nó đi theo” tấn bản chỉ đường của Bắc Kinh”. Con chó đói Việt Nam hết đường binh, bên ngoài cố liếm đít, hít địt Mỹ” kẻ thù số một” để hưởng chút bơ thừa sửa cặn nhưng giữ nhà thì làm theo lịnh chủ Trung Cộng, đó là thứ cho đói trong thời kỳ Cộng Sản suy tàn. Qua các triều đại tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đến Đổ Mười và nhất là tên thượng tướng ngố Lê Khả Phiêu, cái tình hữu nghị Việt-Trung càng thấm thiết như” răng với môi”, nhưng môi Việt Nam mềm nên bị răng Trung Cộng cắn đứt nhiều vùng đất. Tổng bí gốc cán binh ngố Lê Khả Phiêu, kế thừa sự nghiệp:

” Bác Hồ có công rước giặc vào nhà.
Các đồng chí ta phát huy thêm truyền thống bán nước”.

Hay là:

” Còn trời, còn đất, còn dân.
Ký kết bán nước, cán hốt bạc gắp mười lần qua”.

Những đợt bán nước qua cái gọi là” hiệp ước song phương” kéo dài và đưa đến kết quả: đất, đảo, vùng biển Việt Nam càng ngày càng thuộc chủ quyền Trung Cộng một cách” không người dân nào lái” mà chỉ có” đảng Cộng Sản lèo lái” mà thôi.

” Ai bán nước mà không hề thương thuyết.?
Ai buôn dân mà chẳng ký hiệp định bao giờ.?
Dậy mà đi, dậy mà đi, hởi đồng chí ơi!”.

Thời kỳ Lê Khả Phiêu, đánh dấu bằng những ký kết bí mật bán nước. Năm 1988, Lê Khả Phiêu sang Bắc kinh, nơi nầy được quan thầy chiêu đãi đủ thú, kể cả mặt giải quyết sinh lý, như chủ tịch Hồ Chi Minh năm xưa, lúc còn sống cũng đã từng đến đây thụ hưởng; đương nhiên là Trung Cộng có thừa khả năng để dàn dựng màng” mỹ nhân kế” để đưa tên thượng tướng quân hại nhân dân, tổng bí thư ngố vào bẩy, Phiêu hành lạc ở Bắc kinh với cô gái tên là Cheng Mei Wang, sinh ra đứa bé gái, nên Trung Cộng bắt chẹt, nếu không thì bạch hóa hồ sơ, mất mặt và còn có khả năng bay luôn chức Tổng Bí Thư, cái ghế mà hầu hết các” đồng chí thân thương, cật ruột” luôn chờ sẵn để lên thay bất cứ lúc nào. Do đó, ngày 30 tháng 12 năm 1999, Lê Khả Phiêu đã ký những hiệp ước nhượng đất và ngày hôm sau, 31 tháng 12 năm 1999, phái đoàn do một ủy viên trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc là Tang Jiaxuan đến Việt Nam để” tiếp nhận”, nên vào ngày 25 tháng 2 năm 2000, Phiêu cử bộ trưởng ngoại giao là Nguyễn Duy Niên sang Bắc Kinh để hợp thức việc dâng đất, đảo, vùng biển, là coi như hoàn thành thủ tục. Do đó, thời Lê Khả Phiêu, Việt Nam đã nhường hết 50 % vùng biển với hơn 24, 000 cây số vuông, nên sau nầy các tàu đánh cá của ngư phủ Việt Nam không được thông báo, khi ra khơi là bị hải quân Trung Cộng bắn chết, bất về Tàu, mà còn vu khống là cướp biển. Ngoài ra hiệp ước tái cắm mốc biên giới, thi hành cam kết từ thời Lê Khả Phiêu, đã nuốt hết hàng ngàn cây số vuông và được hoàn thành” một cách xuất sắc năm 2008″ do đứa con rơi của Hồ Chí Minh là Nông Đức Mạnh. Theo nguồn tin đồn là tổng bí thư Lê Khả Phiêu, đã” mênh mông lòng dân” nên sau khi ký bán đất, vùng biển, hải đảo, được quan thầy” biếu” số tiền lên đến khoản 2 tỷ Mỹ Kim.

Ngày nay, việc đảng Cộng Sản Việt Nam bán nước, dâng cả giang sơn mà” tiền nhân đổ máu để dựng và giữ nước” rõ ràng hơn cả” đêm giữa ban ngày”, bị dân chúng phản đối, nên tập đoàn bán nước tìm cách chạy tội” vừa bán nước vừa kêu gọi giữ nước, chống ngoại xâm” như Hồ Chi Minh năm xưa thôi. Với thủ đoạn gian manh, Việt Cộng muốn lợi dụng việc đất nước bị mất vào tay Trung Cộng, do chính chúng hiến dâng, biến thành” tương kế tựu kế” để xóa váng cờ bán nước, nhập chung với tập thể hơn 3 triệu người Việt hải ngoại, với chiêu bài” cùng nhau chống lại bọn bành trướng Bắc Kinh” để bảo vệ bờ cõi, đánh động tình yêu nước như thời” đánh Tây với chiêu bài giành độc lập” để thôn tín luôn vùng đất VÀNG hải ngoại thì có lợi vô cùng về mặt tàu chánh và chính trị. Đây là mưu gian, kế độc, nhưng bàn tay nào che được mặt trời, khi mà người dân trong nước và người Việt hải ngoại ngày nay không phải có tầm nhận thức như thời 1945, nên khó lừa được ai. Do đó những cổ động đi biểu tình trước sứ quán Trung Cộng tại các nước dân chủ, cờ vàng và cờ đỏ” hòa hợp hòa giải” cùng nhau chống xâm lược, được bọn tay sai, gián điệp thi hành, kích động, hoàn toàn không tác dụng; cho nên những cuộc biểu tình lạc lõng ở sứ quán Trung Cộng ở Đức, do đám sinh viên du học” con đảng cháu bác” với cờ đỏ sao vàng, không gây chú ý và một vài nhóm tay sai, thuộc băng đảng Mafia Việt Tân đã bị thất bại trong việc đánh lạc hướng dư luận, kêu gọi biểu tình nơi không phải là sứ quán Việt Cộng, nhưng có dính dáng tới Trung Cộng ở chợ Hoa vào ngày quốc hận đã bị” lạc lõng giữa quần chúng”, làm tiêu tán kế” cách ngạn quan hỏa”, khi hướng dẫn lạc mục tiêu đấu tranh đi” chệch hướng” đấu tranh để bảo toàn lực lượng bán nước Việt Cộng, đồng thời ru ngủ những người chưa nhìn thấy những mưu đồ của giặc và tay sai. Người Việt hải ngoại đã biết rất rõ tập đoàn bán nước chính là Việt Cộng, còn Trung Cộng chỉ là người mua; để lấy lại giang sơn, trước hết phải:

” Đánh Việt Cộng đổ, đánh cho đảng nhào.
Tiến lên toàn thể đồng bào.
Chính quyền lấy lại, đất đòi mới xong”.

Với sách lược cũ” vừa bán nước vừa hô hào giữ nước” cũng như thời Hồ Chí Minh” vừa rước thực dân Pháp vào và vừa hô hào dân chúng đánh Tây giành độc lập”; ngày nay tập đoàn đảng Cộng Sản và tay sai bỗng tái dấy lên cơn triều cường chính trị:” bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ” thật là nhịp nhàng, từ trong nước đến hải ngoại nhằm đánh lá bài ba lá lận lần nữa; đây chắc không phải là” sự tình cờ lịch sử” như một số người suy luận, vì hầu hết các phản ứng chính trị đều phải xuất phát từ những nguyên do nhân-quả như câu:” có khói mới có lửa”, như viên đá ném xuống nước gây nên những chấn động dây chuyền.

Tháng 4 năm 2009, giáo sư Nguyễn Văn Canh, khoa bảng tên tuổi trong nước trước đây và hải ngoại ngày nay, đi Úc Châu và nghe đâu nhiều nơi khác ở Âu, Mỹ…. để thuyết trình” suông” về đất đai, lãnh hải, hải đảo đã” lọt vào tay Trung Cộng” khá rần rộ, được đài phét thanh SBS dành vài buổi phỏng vấn, thật là” một tấm LÒN yêu nước cao độ” của một người có tăm tiếng, được coi là có nhiều uy tín với người Việt. Thật sự thì nước Việt Nam đã bị ngoại bang đặt xích xiềng nô lệ từ thời tên cáo già Hồ Chí Minh đem tà thuyết ngoại lai Karl Marx, Lenin vào. Từng phần đất nước lần lượt bị Nga, Tàu thay phiên làm quan thầy và miền Bắc đã được nếm mùi” xã hội chó ngựa” từ sau 1954, còn miền Nam thì” đi trước về sau” chỉ thấy được” mặt trời đen phi lý rọi trong tim” sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, bỗng” cao trào yêu nước” nở rộ như nấm sau cơn mưa dầm, rồi những tổ chức bảo vệ đất tổ, bảo vệ bờ cõi, đi xa hơn là” cùng với toàn dân” trong và ngoài nước, chống bọn bành trướng Bắc Kinh, rần rộ rất ư là” hòa hợp hòa giải theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết….cùng nhau, cùng nhau, hảy cùng nhau” ru ngủ dài dài bằng các cuộc hội thảo, hội luận, bàn tán, góp ý,” hội ý” về những vùng đất, hải đảo, vùng biển đã lọt vào tay Trung Cộng từ lâu, nay những người yêu nước hơi muộn cũng nhìn ra, thật là may mắn cho dân tộc biết chừng nào! Ngay cả một số tướng tá, cán ngố thâm niên trong đảng cướp Việt Cộng, đã” giả từ quyền lực” phục viên từ lâu, cũng trổi dậy” tình yêu sông núi bao la” góp tiếng với những người có” tấm lòng hải ngoại”; chớ đương cầm quyền, béo bở, thì có tên cán ngố nào” mênh mông tình dân” bao giờ?.

Rồi những vận động đòi đất, đảo, vùng biển, cứ tuông ra với những diễn giả, khoa bảng, có vị cũng dám có lắm bằng cấp treo đầy cả phòng khách, nhiều khi không đủ chỗ, đành phải treo ở nhà bếp để chứng minh tài học rộng hiểu cao về công pháp quốc tế, kinh nghiệm sinh hoạt chính trị…. Những tin tức, có cả bản đồ về những phần đất quê hương bị bán đứt cho Trung Cộng đã được nhiều tờ báo giấy, điện tử đăng tải nhiều lần, đăng hoài không thấy nhàm, thế mà vẫn phải nhờ đến những DIỄN GIẢ, bỏ công đi nhiều nơi để DIỄN THIỆT về nguy cơ mất nước, cũng đáng hoan nghinh sự kiên trì của những nhà yêu nước, thương nòi. Nhưng cứ nói hoài mà không có hành động cụ thể, cứ nói dài, nói dở, nói dai….thì” biết bao giờ lấy lại quê hương?”. Nói thì ai mà không nói được, không phải đợi đến ông tiến sĩ, giáo sư, luật sư…..nói mới có” trọng lượng”; nhưng bất cứ ai có tấm lòng yêu nước, cũng có thể đóng góp bàn tay, tuy nhiên đừng để bị lợi dụng để lọt vào bẩy sập của những kẻ xấu, tay sai Việt Cộng, thì coi như không làm gì được cho quê hương, khi bị ru ngủ bằng” biểu tình tại gia” chống Việt Cộng mà nhiều khi còn bị công an hỏi thăm sức khỏe vì không thèm đi họp hành ở phường, khóm, xã, ấp… huống gì biểu tình chống Trung Cộng xâm chiếm đất là coi như đụng tới” ông cố nội của Việt Cộng”, nên biện pháp tốt nhất và bảo đảm không bị thiệt hại là” biểu tình tại tâm chống ngoại xâm Trung Công tại gia”. Nhưng dân oan khiếu kiện thì không có nhà đâu mà biểu tình, nên đành phải” biểu tình tại công viên” hoặc là” cơ ngơi” của mất thằng đầu đảng ăn cướp Việt Cộng, nên bị đàn áp…

Bọn Cộng Sản và tay sai rất là” tài ba lỗi lạc HẬU” trong việc” cải tạo” chữ nghĩa theo ý riêng, nhằm phù hợp với chính sách gian manh: giết người gọi là” đấu tranh gian cấp”, chế độc độc tài gọi là” nhà nước vô sản chuyên chính”….ăn cướp gọi là” làm cách mạng” và hai chữ DIÊN HỒNG cũng bị” cách mạng hóa” để lừa đảo dân chúng. Được biết hội nghị Diên Hồng thời nhà Trần là cuộc” trưng cầu dân ý” lịch sử, độc nhất chỉ có dân tộc Việt Nam thực hiện vào thời đó, để cùng nhau đánh đuổi ngoại xâm, ý nghĩa như thế, nhưng ngày nay có vài nhóm ăn nhậu, thường hẹn nhau ra quán cuối tuần là” đại hội Diên Hồng”, rồi đám ăn cướp họp nhau để bàn thảo kế hoạch hành động, cũng dám gọi là” Diên Hồng” lắm!

Vào cuối tháng 8 năm 2000, một đảng viên đảng cướp Cộng Sản kỳ cựu là Hoàng Minh Chính sang Hoa Kỳ với lý do chửa bịnh, được bác sĩ Nguyễn Xuân Ngải tổ chức khá rần rộ, có thêm một số khoa bảng” nhất trí” đứng chung hàng ngũ đón gió khi có được” minh chủ” từ trong nước sang để tìm giải pháp” tháo gở độc tài bằng đường lối bất bạo động” mà ngày nay có dạng” biểu tình tại gia”, chống Cộng tại giường, giải phóng đất nước tại quán nhậu, đấu trang dân chủ đa nguyên tại nhà hàng Tàu…..là sách lược được băng đảng Mafia Việt Tân đưa lên hàng chiến lược, để giúp đảng Cộng Sản bền vững. Hoàng Minh Chính, gia nhập đảng cướp Cộng Sản từ năm 1945, chân thành đứng trước lá cờ máu búa liềm thề rằng:” Suốt đời trung thành với đảng. Luôn luôn chấp hành mọi mệnh lệnh của đảng.”, hắn lập chiến công là trước 10 ngày Điện Biên mở màn, Hoàng Minh Chính chỉ huy một đơn vị cảm tử Việt Minh đột nhập, đánh phi trường Gia Lâm vào một đêm tối trời tháng 3 năm 1945, phá hủy một số phi cơ Pháp, nhằm làm giảm tiềm năng không quân.

Sau 1954, hắn bị Hồ Chí Minh cho phục viên và sang Liên Sô học, trở về làm chức Viện Trưởng Nghiên Cứu Marx Lenin, sau đó vâng lịnh Liên Sô, cùng với thiếu tướng gốc tiểu tư sản bị đì là Đăng Kim Giang làm cuộc đảo chánh nhưng bất thành và bị Hồ nhốt nhưng không dám thủ tiêu vì sợ ông Liên Sô ngưng chi viện vũ khí. Đây là vụ tranh giành quyền lực trong đảng Cộng Sản, chớ nào phải là vụ án” xét lại” như lời tuyên truyền, đánh bóng tên Hoàng Minh Chính của bọn Việt gian, Việt Tân, tay sai hải ngoại, nhằm” recycle” một tên Cộng Sản trung thành với đảng, để tạo dựng thành thần tượng qua màng” phản tỉnh” giả được đảng dàn dựng, đạo diễn. Tên Hoàng Minh Chính cũng hợp với một số tay cò mồi hải ngoại, cũng biến chế ra cái gọi là Tiểu Diên Hồng, là một bàn bài ba lá lận rõ ràng, nên chỉ làm trò cười cho thiên hạ, khi cái” Tiểu Diên Hồng qui tụ chỉ có ba thành phần, nhằm bàn giao hải ngoại trong vòng trật tự:

-Thành phần trí thức trong nước: gồm những khoa bảng xã hội chủ nghĩa” Hồng hơn chuyên”, tôn thờ lá cờ đỏ sao vàng và Hồ Chí Minh.
-Thành phần trí thức hải ngoại: đã có sẵn trong Hội chuyên Gia của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh.
-Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Cái Tiểu Diên Hồng nầy quả là trò ảo thuật tồi, vở kịch Lói thật vô duyên, nên không ai tham dự, ngoại trừ đám bầu bì, tay sai và lối” trưng cầu dân ý thu hẹp” trong phạm vi chỉ có đảng Cộng Sản và tay sai, rặc một màu cờ” đỏ sao vàng” thì thất bại là điều không thể tránh khỏi. Sau đó, cái màng dàn dựng Hoàng Minh Chính về nước bị chọi” chai nhựa rổng” vào nhà, và rồi hắn cũng theo Hồ Chí Minh:

” Bác đã lên đường theo tổ tiên.
Mác-Lê, thế giới người hiền”

( thơ Tố Hữu khóc tên đại gian dâm ác Hồ Chí Minh).

Ông cố nội của đám Việt gian, đón gió qua đời, nên ở hải ngoại, chúng khóc lóc, mất đi một cái” đầu cầu giao liên” một cái bình phong lừa đảo, nên nhiều tên quì lạy hơn cả tổ tiên, ông bà, thật là:

” Ông Hoàng Minh Chính, Ông Hoàng Minh Chính ơi!
Nghe tin ông VẢNH, đất trời như không.
Thương cha, thương mẹ, thương chồng.
Thương mình thương một, thương Ông thương mười”.

Hổ trợ lòng yêu nước được” định hướng theo xã hội chủ nghĩa” sau khi đảng Cộng Sản đã” hết lòng bán nước” từ thời Hồ Chí Minh đến nay, tại hải ngoại, cũng dựng nên thứ DIÊN HỒNG lần nữa, qui tụ các tổ chức sau đây:

-Bùi Diểm, Đại Việt Cách Mạng
-Trần Khuê: trong nước, là Tổng Thư Ký cái tổ chức dỏm mang tên Dân chủ thế kỷ 21, có từ thời Hồ Chi Minh ở miền Bắc sau 1954 để đánh lừa dư luận và thế giới. Tổ chức tên là Đảng Dân Chủ Việt Nam do Nguyễn Xiển lãnh đạo, có cương lĩnh:” đảng Dân Chủ tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác Lê Nin.”. Trần Khuê này có phải là người nằm trong” ban bói toán” trong ban văn hóa tư tưởng trung ương, là một trong những người thấy bói đã có công chỉ vẽ cho Hồ Chí Minh để râu dài, trông giống Ông Tiên trong nhản hiệu thuốc Tàu, để phù hợp với phong cách đế vương, làm vua mãn đời?.

-Bác sĩ Nguyễn Xuân Ngải.
-Luạt sư Nguyễn Tường Bá.
-Ông Trần Quốc Bảo: Phục Hưng.
-Tiến sĩ Phan văn Song:( Đại Việt cánh hòa hợp hòa giải), được” phát hiện” là người thật, nhưng tiến sĩ giả.
-Ông Trần Tử Thanh: Việt Nam Quốc Dân Đảng hải ngoại.
-Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích: Nghị Hội Toàn Quốc, được biết ông giáo sư nầy tiếng Anh như gió” quạt máy” van tới đa, có công đóng góp” vĩ đại” vào nền văn hóa qua việc có sáng kiến dịch chữ biển dâu thành Mulberry sea, rất xác nghĩa, đáng được bổ xung vào tự điển Việt-Anh lắm.
-Bà Bs Nguyễn Thể Bình: Chủ tịch Cao Trào Nhân Bản.

Và chừng 50 tổ chức ủng hộ, nhìn thấy nhân sự, đa số là” khoa bảng” và nhiều tổ chức cùng nhau” đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, đồng minh tương ý, đồng chí tương…tư” trong : cơn mộng du kéo dài”, cùng nhau gởi văn bản tới Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc chỉ để” phản đối Trung Cộng chiếm đảo, vùng biển, đất..” của Việt Nam mà thôi. Con số hội đoàn nầy coi bộ” tốt mã rả đám”, không biết mỗi tổ chức có bao nhiêu người? Mà theo kinh nghiệm thì có rất nhiều tổ chức rất đông, chỉ có” thành phần ban chấp hành” thôi, nếu cần cũng đem danh sách hội viên ma để lòe thiên hạ, như trước đây Mặt Trận kháng chiếm dỏm Hoàng Cơ Minh từng khoe có tới 10 ngàn kháng chiến quân ma, đang ẩn hiện tại một nơi” không bật mí” trong rừng núi Thái Lan, chờ ngày trở về hưởng nhang khói và được hát bài:” mờ trong bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng…”. Có khi hội viên các tổ chức lại” tròng tréo nhau” như mạng nhện, tức là một người có thể là hội viên của nhiều tổ chức, nên gọi đó là” Hội viên recycle”. Do đó, với con số tổ chức nầy, không phải là đại diện cho hơn 3 triệu người, ai bầu họ ra để” quan hệ hữu cơ” với tổ chức Liên Hiệp Quốc? Họ làm công việc” không người lái và tự biên tự diễn” nên Liên Hiệp Quốc chắc là biết rõ điều nầy, nên các văn bản” dị hợm” nầy chỉ là thứ giấy lộn, mà ngày nay hầu hết các văn phòng các nước dân chủ hay có đặt cái” BIN RECYCLE” nhằm giảm lượng cây bị cắt, làm thiệt hại môi trường sinh thái, nhưng cái văn bản” cà nhỏng chống xăm lăng” Trung Cộng nầy làm cho nhiều người” dị ứng” khi nhìn thấy nhiều người” ăn học” cao, dù bằng cấp thật giả lẫn lộn, mà lại không nhìn thấy hai vấn đề: đụng tới Trung Cộng là rất khó, nên đòi đất từ Trung Cộng thì còn lâu mới được:

” Nực cười châu chấu đá xe.
Xe không nhúc nhích, chấu què càng ngoe”.

Còn đánh Việt Cộng dễ hơn, nếu toàn dân cùng nhau đồng tâm hiệp lực như Liên Sô, Đông Âu, chỉ một vài ngày là kéo sập chế độ bạo tàn xuống và khi có được chính quyền trong tay, người Việt Nam mới mong đưa ra trước Liên Hiệp Quốc về chủ quyền đất, đảo, vùng biển, sau khi vận động được các siêu cường ủng hộ. Các tổ chức” bảo toàn lãnh thổ” rần rộ họp báo, diễn thuyết rất hăng say, tình yêu nước dâng cao như sóng thần…cũng đều lên án Việt Cộng bán nước, nhưng khi chống thì mục tiêu” chệch hướng” là chỉ chống Trung Cộng, như vậy là trớt quớt, cái đuôi chồn lòi ra rõ ràng thế ấy! Chẳng lẽ những người” yêu nước” nầy bị mang tật về mắt:” ngó cây ớt, thành cây cà?”

Một điều hết sức là” quái gở” là: các tổ chức nêu trên chỉ chống Trung Cộng bành trướng, là kẻ mua nước, trong khi kẻ bán nước là Việt Cộng, thì phớt lờ, được coi là” im lặng có ý nghĩa” hay trong Phật Giáo có hai chữ” Tịnh khẩu” khi thấy tình hình bất lợi, như thiền sư Thích Nhất Hạnh sau 1975. Trong xã hội, nếu ai có chút học thức, dù là bậc tiểu học, hay có đầu óc bình thường, cũng biết ngay hai điều: kẻ ăn cắp và người mua đồ gian, ai nặng tội hơn ai? Đương nhiên là tất cả đều” nhất trí” là: kẻ ăn cắp phải nặng tội và người mua đồ gian là đồng phạm. Tuy nhiên, thành phần những tổ chức” dâng kiến nghị” lên Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc chỉ phản đối Trung Cộng mà không nhắc đến Việt Cộng, thì rõ ràng đây là đám” ăn cơm tự do, đội mo Cộng Sản”, nên ngay cả người Việt cũng thấy vô lý, thì ông Ban Ki Moon, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, một người Nam Hàn, từng có nhiều kinh nghiệm với Cộng Sản, chắc ông phải” phì cười” cho cái trò bịp bợm rẻ tiền của những người Việt, tự nhận là các tổ chức ĐẤU TRANH, nhưng lại khéo léo binh vực, chạy tội cho lũ ĐÁNH TRÂU ở Bắc Bộ Phủ. Trong luật pháp, có quan tòa nào chỉ truy tố kẻ mua đồ gian mà không truy tố kẻ ăn cắp đồ gian đem bán?

Vào ngày 7 tháng 5 năm 2009, đột nhiên nhà nước Việt Cộng cùng với Mã Lai nộp bản tuyên bố chủ quyền thềm lục địa với Liên Hiệp Quốc, và trước đó vài ngày, Việt Cộng cũng đã bổ nhiệm huyện ủy Hoàng Sa, khiến Trung Quốc tức giận phản đối, thì phía Việt Nam nói trại là” chỉ có tính cách nghiên cứu”. Như vậy, chính Việt Cộng bán nước cho Trung Cộng từ thời còn tên Hồ Chí Minh, cho đến nay, tiếp tục truyền thống ấy; nhưng dân chúng Việt Nam trong vào ngoài nước đã nhìn ra bộ mặt thật của tập đoàn bán nước, để bảo vệ quyền lợi cho thiểu số đảng cướp và túi bạc đang tích trữ ở các ngân hàng ngoại quốc, mà số tiền nầy không còn được coi là an toàn, khi chính phủ Thụy Sĩ bỏ nguyên tắc bảo mật tuyệt đối với các trương chủ xộp, tiền tạo ra từ tham nhũng, tội ác, khủng bố.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đang đương đầu với cái” tình huống cực kỳ khó khăn và khẩn trương” trên đe dưới búa: quan thầy Trung Cộng đã lấy được đất, hải đảo, vùng biển, nên cương quyết bảo vệ những gì đã có trong tay; còn đảng Cộng Sản Việt Nam thì lúng túng, bị dân chúng vạch mặt, phản đối qua quá trình bán nước cho Tàu, nên chúng tìm mọi cách để né tránh, vừa tuân thủ cam kết với quan thầy và vừa xoa dịu lòng dân. Đó là những phản ứng chiếu lệ qua việc nộp văn bản thềm lục địa và bổ nhiệm quan chức lo” quản lý” huyện Hoàng Sa. Bên ngoài thì băng đảng Mafia Việt Tân cũng hổ trợ bằng” ủy ban bảo vệ bờ cõi, vẹn toàn lãnh thổ”, cũng cổ động ỳ xèo, thuyết trình” như nói láo, báo cáo như nói chơi”, nộp đơn khiếu nại lên Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc… và đất, đảo, vùng biển thì vẫn như cũ, nằm trong tay Trung Cộng, chưa kể đến nước Việt Nam ngày nay trở thành một huyện” bất thành văn” của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, theo công thức: một quốc gia, hai chế độ như Hồng Kông, đỡ hơn Tây Tạng một chút là việc cai trị huyện nầy do người Việt Nam, nhưng đây là” tập đoàn quan Thái Thú Trung Cộng GỐC VIỆT’ mới đáng báo động, vì đây là kẻ thù, quan cai trị cùng chủng tộc, nhưng chỉ để phục vụ quyền lợi ngoại bang, là thứ quan thái thú” hiện đại” trong vong tay quân phương Bắc ngày nay.

Muốn lấy lại lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo không phải là đơn giản như chuyện” refund” tại sác siêu thị ở các nước Tây Phương, cứ mang hàng ra đổi lại hay hoàn trả. Do đó việc lấy lại những gì của đất nước đã bị tập đoàn Việt Cộng dâng bán cho Trung Cộng còn nhiều gây go, đòi hỏi phải có thời gian và tiến trình từng bước. Nhưng bước đầu tiên, phải có để làm bàn đạp là: lấy lại chủ quyền đất nước, từ tay bọn thái thú Bắc Kinh gốc Việt và trên căn bản đó, chính quyền dân cử Việt Nam mới có tư cách pháp lý, nộp đơn khiếu nại, thưa kiện ở Liên Hiệp Quốc. Còn bây giờ, chưa có chính quyền trong tay, mà cứ đi thuyết trình, xin chữ ký, vận động các chánh khách, nộp đơn lên Liên Hiệp Quốc….cũng giống như người xây nhà mà không có được miếng đất, thì đây là điều mộng mơ, làm trò hề cho thiên hạ thôi..Tuy nhiên, cái trò hề tồi nầy lại được dàn dựng từ một số người có học đàng hoàng, thì càng làm cho dân chúng thất vọng về giai tầng được tin cậy trong xã hội, dùng sở học để phục vụ đảng cướp Việt Cộng, thay vì quyền lợi dân tộc:

” Khoa bảng ngày nay đã hỏng rồi.
Số thì khoát lát, kiếm tiền thôi.
Người bằng cấp giả, hay cờ trở.
Kẻ học vị cao đón gió thời.
Hùa theo Việt Cộng, tìm lợi lộc.
Nương đám Việt Tân, tổ chức mồi.
Chớ tin bằng cấp mà lầm đấy!.
Tư cách, lập trường, đáng kính thôi”../.

Trương Minh Hòa
14.5.2009

http://tinparis.net/vn_index.html

Ho-Chi Minh – the chap we were fighting against

Ho-Chi Minh - the chap we were fighting against

Ho-Chi Minh – the chap we were fighting against

Minh Hoa-Truong

http://www.hon-viet.co.uk/TruongMinhHoa_HCMinhKeMaChungToiChongDoi.htm

 


ditmecodosaovang, ditmehochiminh, ditmenongducmanh, ditmenguyentandung, ditmenguyenminhtriet, dadaocongsan, latdocongsan, tieudietcongsan, hochiminhsucvat, sucvathochiminh, sucvatnongducmanh, sucvatnguyentandung, sucvatnguyenminhtriet, dadaovietcong

Tay Sai Suc Vat Ho Chi Minh: Chua la cua ngo xam nhap an toan cua viet cong

CHÙA LÀ CỬA NGÕ XÂM NHẬP AN TOÀN CỦA VIỆT CỘNG

TRƯƠNG MINH HÒA

Tác giả Phạm Xuân Đài, thuộc dòng dõi Phạm Phú Thứ, trong một bài viết với tựa đề:” chùa là cái thiện” được phổ biến khá rộng trên hệ thống truyền thông hải ngoại; chùa là cái thiện cũng có phần đúng về hình thức trong triết lý Phật Giáo, vì cảnh chùa từ trong ra ngoài thường được trang trí cho có vẻ thanh tịnh và đượm phần thoát tục, phù hợp với những ai” coi cõi đời là cõi tạm” muốn tìm con đường giải thoát khỏi kiếp trầm luân khổ ải mà đời người thường hay TRÀN DÂNG nhân quả chốn TRẦN GIAN; chùa mà buồn, cô quạnh quá như ” chùa Bà Đanh” cũng không hấp dẫn đối với những người có cái tâm” hàng hai” như đám đón gió trở cờ, vừa tự nhận là người tỵ nạn chính trị, nhưng cũng vừa muốn bắt tay với Việt Cộng để làm ăn, du lịch, du hý, du dâm…. đó là những người” bắt cá hai tay”, vừa muốn tu thành chánh quả và cũng vừa muốn nhìn thấy cuộc đời đẹp lắm trước khi tìm đến cõi Niết Bàn.Tuy nhiên ngày nay, có nhiều chùa không còn thiện nữa, như ngôi Đại Nam Quốc Tự ở Bình Dương, do” cư sĩ gốc công an” Dũng Lò Vôi xây dựng tại Bình Dương với diện tích hơn 500 mẩu tây, có cả những nơi” du hý” giống các tụ điểm du lịch nổi tiếng như Disney Land ở Mỹ; nổi bật là nơi chánh điện có thờ tượng vàng của đại giáo chủ ma đầu” vô thần” kiêm” quỷ vương” Hồ Chí Minh chung với đức Phật và vua Hùng ( có công dựng nước); chùa Quán Sứ ở Hà Nội là nơi mà Phật Tử tìm đến nơi thờ Phật, cúng bái, công quả, công đức và đủ thứ” công khác” cũng phải” tịnh khẩu” nếu lỡ lời là bị” sư, tăng ni mắt khóm tai bèo” báo cáo với các” đồng chí công an” về tư tưởng tiêu cực, phản động, có âm mưu lật đổ chế độ, thì con đường cải tạo chập chờ trước mắt, trong khi chưa thấy Niết Bàn đâu; nhưng cái hệ thống nhà tù cải tạo cũng là cửa ngỏ đưa vào” thiên đàng Cộng Sản” đấy.

     Chùa là cái thiện cũng ở Việt Nam ngày nay, như ở Thanh Minh Thiền Viện hay các tự viện không nằm trong cái giáo hội Phật Giáo với công thức:” chùa do Phật tử vung bồi công quả, công an giả sư quản lý, đảng Cộng Sản vô thần lãnh đạo”. Những tự viện nằm ngoài vòng cương tỏa của Mặt Trận Tổ Quốc, nơi mà các vị cao tăng, tu sĩ muốn thanh tịnh, được tự do tu hành theo truyền thống Phật Giáo đã có từ hàng ngàn năm qua, nhưng cũng không được, vì chùa luôn luôn đặt trong cái” tình huống” cực kỳ khẩn trương, kiểm soát ra vào, ngay cả con kiến, con rận, rệp và loài có cánh như con ong chúa 63 cũng hổng thể nào lọt vô được, ngoại trừ con mối chúa là có thể” độn thổ” chui vào thôi:

” Người hiền đức như tù trong khám.
Có công an bao bọc bên ngoài”.

     Chùa chỉ là nơi thờ Phật và người đi tu có nơi nương tựa, được coi là những người quy y, tình nguyện suốt đời làm con của Phật, nên ai đi tu cũng mang họ Thích. Không phải ai họ Thích cũng đều Thích tu hành đâu, cái tâm mới là quan trọng:

” Dò sông dò biển dễ dò.
Nào ai lấy thướt mà đo lòng người”.

Đại thi hào Nguyễn Du cũng đồng ý:

” Thiện căn bởi tại lòng ta.
chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

    Chùa với thầy chùa, nhưng không phải thầy chùa nào cũng” đạo hạnh cao dầy”, để hết tâm trí tu hành, chắc chắn khi” viên tịch” cũng phải lên Niết Bàn, đứng ngồi gần tòa sen. Nên người đời có danh hiệu ” Thầy chùa lửa, sư hổ mang, ác tăng”….ngày nay thêm” dâm tăng” sau khi” phát hiện” ra một số tăng có nhiều hạ lạp, lên đến Huề thượng đã từng biết thế nào là:” con đường tình ta đi”, vừa tu vừa tìm cách hưởng cái lạc thú thế gian để” thanh tâm trường khóa lạc”, đạt cả hai mặt” đạo và đời”, biến” đời là bể khổ” thành” đòi là bể sướng”. Như thượng tọa Thích Trí Quang, dù là người tu hành lâu năm, kỵ sát sanh hại vật, nhưng vào thời trung tướng Nguyễn Khánh làm quốc trưởng, sư nầy dùng áp lực với khối Phật Giáo sau lưng mà buộc tướng Khánh phải” giết” ông Ngô Đình Cẩn, đứa em út của tổng thống Ngô Đình Diệm, hành vi nầy cũng như Việt Cộng hay bất cứ kẻ bất lương nào, thế mà có người chấp tay vái lạy, tôn kính hơn cả cha mẹ. Tu khó lắm, nên Đức thầy Huỳnh Phú Sổ, vị sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo có câu:” Thứ nhứt là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thư ba tu chùa” và để khuyến tu, Ngài có câu:

” Tu không cần lạy cần quỳ.
Ngồi đâu sửa đó, vậy thì mới nên”.
      Chùa, ở chùa, mặc áo cà sa, cạo đầu, ăn cơm bá tánh, biết đọc kinh cầu siêu, tứ thời, thuyết pháp và cũng biết cách làm Business qua dịch vụ tụng kinh cho các đám tang để cầu nguyện cho các Phật tử quá cố được” lên Niết Bàn” với số tiền” chặt đẹp” ( Charge- đẹp), và thân nhân người  chết cũng phải” tiêu diêu nơi miền hãng xưởng” để có đủ tiền trả cho sư tụng kinh, làm tiền rất nhẹ nhàng và sáng tạo nhờ những kinh sách của đạo Phật. Những người THAY MƯỢN thiền môn làm THƯƠNG MẠI cũng chưa chắc gì là người tu. Vì ở mọi thời đại, đều có những kẻ” mượn đạo tạo đời”. Do người đời còn quá nhiều tội lổi, đam mê, mà trong những đứa con Phật, có thứ tu sĩ THÍCH ĐỦ THỨ và tệ hơn là công an giả dạng là tu sĩ THÍCH VIỆT CỘNG, từng gây bao hệ lụy cho uy danh đức Phật và đạo Phật mà vẫn” an nhiên tự tại” trong cái” thanh tâm trường an lạc”, chỉ bị tiếng đời dị nghị và sau đó, thời gian là thuốc xóa sạch những điều xấu xa; trong khi đó bên Công Giáo, các linh mục lạm dụng tình dục thì bị giáo dân, nạn nhân truy tố, thưa kiện và chính đức giáo Hoàng cũng phải xin lổi, giáo hội phải bồi thường. Nhưng với những tu sĩ Phật Giáo, lén lúc quan hệ tình dục, có cả” nghiệp báo” là có con đùm đề, làm nhiều chuyện trái với đạo lý, phạm giới…có ai đưa ra tòa đòi bồi thường, sư vẫn” thoải mái hành đạo” tiếp tục lừa đảo thế gian, Phật Tử cho đến mãn phần được gọi là” viên tịch” và các chùa khác, đệ tử đọc kinh cầu siêu, ghi công đức” cao dày”, nên trong bài ca Tôn Tẩn Giả Điên, Út Trà Ôn ca rằng:” biết đâu những kẻ lừa thầy phản bạn, thường hay giả dạng kẻ nhân từ”.

       Luật Nhân-Quả và Luân-Hồi của Phật Giáo rất thâm sâu, uyển chuyển, nếu áp dụng đúng thì là cách răng đời” làm lánh lánh dữ” như quyển” Hồi Dương Nhân Quả”. Tuy nhiên, ở đời nầy có nhiều kẻ áp dụng và giải thích lệch lạc nên sinh ra nhiều nghiệp báo, hệ lụy:

Nhiều người sanh lòng bỏ vợ già thì cho là” duyên nợ đã hết”, và về Việt Nam bảo lãnh vợ nhí, đáng tuổi con cháu mình thì cho là:” kiếp trước có nợ duyên”, mình không thương người ta thì:” mang tội với Trời Phật”. Có kẻ lấy vợ nhỏ mà vẫn” an nhiên tự tại” bảo với vợ là ” do ông trời đặt để”, nếu vợ là người Phật tử thuần thành, cũng đành chấp nhận cái luật nhân quả, luân hồi, không phản ứng, ly dị, chia của, dù trong lòng tức tối, phải chịu đựng để” trả quả” cho kiếp trước.

Các sư cũng áp dụng luật nầy để thoải mái”quan hệ tình dục” với người khác phái, lòng vẫn” thanh tâm trường an lạc” cho là: kiếp trước có duyên nợ, có vay nợ với nhau, cho nên người phụ nữ có quan hệ với” sư” cũng đành chấp nhận nếu có” con” với nhau. Để bảo vệ cái căn quả nầy, người phụ nữ cũng phải ráng chịu” nuôi con” để trả quả do kiếp trước có vay mượn với nhau. Thế là các phụ nữ nín thinh, không lên tiếng tố cáo với cảnh sát ( kể cả bị xâm phạm tình dục), nên các sư Phật Giáo thường được an toàn cho đến khi” viên tịch”, rồi sau đó mới lòi ra” thẩy chùa con” là coi như” trả quả” cho kiếp trước.

    Trước năm 1975 ở miền Nam, lợi dụng thể chế chính trị tự do, quỷ đỏ Cộng Sản xâm nhập và cửa chùa, là cứ địa an toàn, dễ nhất; lý do là ai muốn đi tu, chỉ cạo đầu, mặc áo cà sa là được danh hiệu” THẦY”, dù người đó ít học, dốt, cũng được các Phật Tử có bằng cấp cao, bác sĩ, kỷ sư, giáo sư, tiến sĩ….phải chấp tay cung kính là” Thầy” mà không cần đắn đo.

Ngay cả những ông tướng trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, đi đâu cũng có quân cảnh hộ tống, trước phòng làm việc có lính gác, thế mà vẫn cung kính với các thầy; thế nên thời đó có câu tục ngữ:” NHẤT ĐĨ, NHÌ SƯ, TAM CHA, TỨ TƯỚNG”. Đó là cái tập quán” trọng Phật kính tăng” một cách máy móc, nên Cộng Sản dễ lợi dụng, hoạt động từ khi miền Nam chưa mất cho đến nay. Điển hình là vụ biến động Phật Giáo miền Trung 1966 do thượng tọa Thích Trí Quang cùng với một số tên Việt Cộng nằm vùng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Ngọc kha, Võ Đắc Xuân… phát động; nhờ các tướng Phật Tử như trung tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lịnh quân đoàn 1, chuẩn tướng Nguyễn Xuân Nhuận, tư lịnh sư đoàn 1″ kính tăng” và nghe lời tăng hơn cả cấp trên của mình..

     Chùa là cái thiện về hình thức, nhưng người trong chùa không thiện, huề thượng Thích Tâm Châu ghi lại trong quyển Bạch Thu phát hành ngày 1 tháng 1 năm 1994 tại chùa Phật Quang, Úc Châu: vào tháng 7 năm 1966, sau chuyến đi từ Tích Lan, Mã Lai, Singapore trở về Saigon, đến Việt Nam Quốc Tự, vừa bước chân vào văn phòng Việu Hóa Đạo thì thấy biểu ngữ nền vàng chữ đỏ căng với hàng chữ:” Muốn quần chúng tuân theo kỷ luật thì phải tuân theo quần chúng”. Bước chân vào bàn làm việc,  nơi nầy đã có sẵn một chén máu và con dao với tấm giấy đe dọa:” yêu cầu các thượng tọa trong Viện Hóa Đạo không được theo thượng tọa Tâm Châu” (* phần ghi chú về cái chết của Thích Quảng Đức ở cuối bài). Sau 1975 thì chùa càng ít thiện hơn khi đảng Cộng Sản gom thành phần tu sĩ gốc đảng, tu giả, tu trốn lính, vào năm 1981 thành cái giáo hội Phật Giáo Việt Nam, bản doanh là chùa Quán Sứ, Hà Nội với huề thượng Thích Trí Thủ, nghe đâu, vị nầy đã” đắc quả là triệu phú” với số tiền lên đến 250 triệu Mỹ kim.

Từ đó cái ác lan tràn, khống chế các vị tu sĩ chân chính trong giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do huề thượng Huyền Quang, Quảng Độ lãnh đạo. Vụ án Già Lam cũng là” khổ nhục kế” tinh vi, được dàn dựng khá công phu, một thời làm chấn động lương tri, do bọn ma quái” Cộng Sản” dựng lên để đưa những” con quỷ dữ” vào phá giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong nước; được biết cái vụ án Già Lam làm chấn động trong nước và thế giới, nhất là tại các cộng đồng người Việt tỵ nạn, lúc đó người ta lầm tưởng là các tu sĩ Tuệ Sĩ, Trí Siêu…là những người chân chính, dám can đảm đứng lên chống lại đảng Cộng Sản vô thần để bảo vệ đạo pháp. Tuy nhiên, hai ông nầy đã” báo trước” mà nhiều người không hay, lúc kêu án tử hình, thì Tuệ Sĩ cười và vói với Trí Siêu:” mình không chết đâu thầy ơi!”. Có một số người tin là Tuệ Sĩ giỏi về khoa tử vi nên quả quyết như vậy. Thế là ở hải ngoại, các cơ quan truyền thông, tha hồ mà đánh bóng và những đảng phái, tổ chức tích cực vận động…rồi Việt Cộng phải nhượng bộ tha ( SIC), nếu không ai vận động thì Việt Cộng cũng đâu giết những” con gà của họ”, kế nầy thật nhịp nhàng và có bài bản. Nhờ thế mà Trí Siêu, Tuệ Sĩ trở thành” biễu tượng đấu tranh” là tù nhân lương tâm, nhất là tay Thích Trí Siêu là người ngạo mạn, với cái gọi là” Giấc Mơ Trường Sơn”, hắn còn lếu láo:” ai không biết chữ Hán, không phải là người Việt Nam”, bị công tử Hà Đông vạch mặt vào thời đó, nên không ai lưu ý, cũng dám có người bực bội vì dám phê phán cả thần tượng của họ.

      Chùa không còn là cái thiện khi mà công an, cán bộ đảng vô thần xâm nhập đánh phá, trong nước thì chùa biến thành nơi” quan trường” ai muốn tu phải có giấy phép, tu sĩ muốn có chỗ tu” tốt” cũng phải lo tiền, những người có quan hệ với đảng, công an, cán bộ được ưu tiên tụ hành ở những ngôi chùa lớn, còn không phải là” đỉnh cao trí tệ tăng ni” thì bị bức hại, đuổi đi, tù đài. Ngày nay quí thầy dùng bia, rượu thay trà, ăn thịt ca thay đồ chay và cũng trở thành tông phái TU ÔM theo Thiền TIẾP HIỆN của sư ông, sáng lập THÍCH NHẤT VẸM, nên tu sĩ biến” cõi đời thành cõi sướng”. Hải ngoại, thì những tu sĩ thuộc Mặt Trận Tổ Quốc mới được xuất ngoại làm công tác tông giáo vận từ hàng chục năm qua như Thích Thanh Từ, Thích Thông Kinh…và gần đây là” trí thức Phật Giáo” đại đức, tiến sĩ Thích Nhật Từ. Hắn tên thật là Trần Ngọc Thảo, sinh ngày 1 tháng 4 năm 1969 tại Saigon, cha là cán bộ Cộng Sản, biên chế sang Mặt Trận Tổ Quốc, năm mới 23 tuổi nà đã tu hành tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trở thành ” sư trụ trì chùa quốc doanh” hiệu là chùa GIÁC NGỘ, số 92 đường Nguyễn Chí Thanh, phường 3, quận 10 thành Hồ. Hắn xâm nhập vào đất Mỹ từ lâu qua” con đường chùa ta đi” do một số Phật tử” tỵ nạn quốc gia, rước ma sư Cộng Sản”, chứ không phải mới đây.

Dựa vào” phương án” dịch Kinh Đại Tạng,” tên Thích Nhật Từ cung thỉnh hai tên” Tuệ Sĩ và Trí Siêu làm ” chủ trì”, từ đó ở hải ngoại có một tổ chức mang tên:” Hổ Trợ Dịch Đại Tạng Kinh” được một tu sĩ tên là Thích Nguyên Siêu, trụ trì chùa Phật Đà ở San Diego ( nam Cali), cùng với cư sĩ Huỳnh Tấn Lê ( Tổng Hội Cư Sĩ Orange County) về tài chánh và hai vị” chán tu” bỏ chùa hoàn tục khác có pháp danh là Nguyên Lương và Đức Hạnh; tổ chức nầy gây quỷ liên tục suốt 3 năm nên bè nhóm Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Nhật Từ tha hồ mà tiêu pha” tiền chùa” được quyên góp từ mồ hôi của các Phật Tử” thuần thành” đóng góp. Kinh Phật, nhất là kinh Đại Tạng rất nhiều bộ, nhưng người ta tự hỏi:” dịch kinh để làm gì?” với công trình ròng rả cả hàng chục năm, có khi phải dịch cả đời mà vẫn không xong, hao tốn công, tiền; mặt khác, liệu các tay dịch thuật nầy có đủ trình độ để hiểu và dịch đúng theo tinh thần của tác giả các” đại tạng kinh” không?…với hàng chục ngàn trang giấy dịch bí hiểm văn tự; dịch kinh chỉ để trong kệ” tàng kinh các” cho bụi đóng và thỉnh thoảng lau chùi, làm cảnh, chứ Phật Tử ít khi nào đọc; họa hoằng lắm, mới có vài vị” thâm kinh” tới tìm vài câu để viết sách cho mình, hay tra cứu vài tài liệu. Tuy nhiên cái hiện tượng các sư muốn” phô trương” cái sở học uyên thâm” Hán, Phạn” với các học vị” tiến sĩ” tốt nghiệp ở Ấn Độ, Nhật Bản, nên mới bài ra trò” dịch kinh” để lòe thiên hạ mà thôi. Thật ra muốn áp dụng tư tưởng Phật, chỉ cần đọc và hiểu rõ quyển Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân là tạm đủ trong” đại hùng, đại lực, đại từ bi” hầu đối phó với ma quái, xử thế, tu học, chớ cần chi những bộ Tạng Kinh nầy. Con nít ngày nay chỉ cần mua DVD bộ phim nầy cũng thấm nhuần triết lý Phật Giáo:

” Phô trương bằng cấp, dịch Tạng Kinh.
Chứng tỏ ta đây, chữ đầy mình.
Ngàn năm lưu trữ, pho sách quí.
Vạn trang khai mở trí thông minh.
Sư qua Ấn Độ làu tiếng Phạn.
Thầy thuần Hán học, rộng tầm nhìn.
Hao tiền, lại bỏ nhiều công sức.
Có ích lợi gì cho chúng sinh?”
      Tên sư Việt Cộng Thích Nhật Từ kết thân với sư Thích Chân Thành, trụ trì chùa Liên Hoa, đường Bixby, Garden Grove ( Nam Cali) nhân chuyến sư nầy hành hương ở Ấn Độ, từ đó móc nối, nên sư Chân Thành trở thành người ủng hộ đắc lực cho tên” sư công an Tôn Giáo là Thích Nhật Từ” từ dạo ấy. Từ năm 2004 Sư Chân Thành lợi dụng cơ sở tôn giáo để bảo lãnh Thích Nhật Từ đến Hoa Kỳ lần đầu, cư ngụ tại chùa Liên Hoa và sau đó được giới thiệu với sư Chơn Lễ tại Texas nhằm thuyết pháp và cư ngụ, gây uy thế để mở rộng tầm hoạt động tôn giáo vận trên đất Mỹ qua cửa Phật. Nhắc lại lúc cụ Nghiêm Xuân Hồng còn sống, nhóm Liên Hoa không mời Thích Nhật Từ thuyết pháp; nhưng sau khi cụ Hồng qua đời, cựu trung tá pháo binh quân đoàn 2 thuộc quân lực VNCH, pháp danh là Mật Nghiêm, tục danh Đăng Nguyên Phả, với tư cách hướng dẫn đạo tràng, tiếp tay với sư Chân Thành tổ chức thuyết pháp hàng tuần. Sau nầy chính trung tá Phả hợp lực cùng với Huỳnh Tấn Lê thành lập nhóm Phật Học lấy tên là Đuốc Tuệ, chuyên dành cho Thích Nhật Từ thuyết pháp tại trường Mc Gavin, đường Bishop, gần khu Phước Lộc Thọ một cách công khai; các buổi” hoằng pháp chất lượng cao” nầy được phát thanh trên đài Tiếng Nói Hương Sen, ngoài ta còn ấn hành cả CD, DVD do Thích Nhật Từ thuyết pháp, phát không cho Phật tử nhằm tuyên truyền và tạo thế đứng của hắn tại Hoa Kỳ. ( tài liệu trên Nam Úc Tuần Báo, số 658, phát hành 22-8-2008).

      Đây là một vài thí dụ điển hình về con đường xâm nhập an toàn của Cộng Sản qua cửa ngỏ Phật Giáo, với” cửa chùa rộng mở” thu nhận cả ma quái vào; chính nhờ những Phật Tử thuần thành, không phân biệt chánh tà, thấy ai mặc áo cà sa, nói năng như phật” nhưng không phải Phật”, nhất là sư nào có bằng TIẾN SĨ PHẬT GIÁO tốt nghiệp từ Ấn Độ ( nơi Đức Phật sinh ra) thì là cao siêu, là lời nói rất” chất lượng” để giúp mình giác ngộ sớm, về bến giác mau. Trọng Phật là đương nhiên, nhưng” kính tăng” thì nên coi lại, hảy cẩn thận:” đừng nghe những gì thầy chùa thuyết pháp, mà hảy nhìn kỷ những gì thầy chùa làm”. Cái gương của Tam Tạng trong Tây Du Ký, nhiều lần quỳ lạy ma quái giả Phật, xuýt bị xơi tái; cũng có nhiều lần Tam Tạng mù quáng, không nghe lời Tôn Hành Giả, trái lại còn niệm chú xiết vòng kim cô không phân biệt chánh tà.

Nhờ có quá nhiều Tam Tạng thời đại, nên Việt Cộng mới xâm nhập vào chùa an toàn từ thời trước 1975 ở miền Nam, nay lan ra hải ngoại, bài học cũ, thế mà nhiều người vẫn chưa thấm, cứ nhắm mắt đi theo” sư Việt Cộng dẫn Phật Tử mù quáng, đi theo tấm bản chỉ đường của đảng” qua các” tên công an mặc áo cà sa”. Một tập quán khác cũng rất nguy hiểm là: Phật tử có lối suy tư” mặc kệ nó”, tức là:” ai làm bậy thì có trời Phật biết”, mình không làm điều sai là không sợ; nên mình đi chùa để lạy Phật, cúng dường, dù biết chùa là của Việt Cộng lãnh đạo bên trong, sư là công an trá hình…. đó là những nguyên do tạo điều kiện cho các sư xấu, kể cả công an đội lớp tu sĩ có nơi hoạt động, nuôi dưỡng ma quái mà tưởng là làm việc thiện.

    Trong nước Phật Giáo đã bị cơn đại pháp nạn, khốn đốn hàng mấy thập niên qua kể từ khi có mặt đảng Cộng Sản vô thần do tên đại quốc tặc Hồ Chí Minh lãnh đạo. Ở hải ngoại, bàn tay quỷ đỏ đang vương ra, núp bóng Phật Đà, lợi dụng Phật tử, phát triển rộng khắp nơi, nên hiện tượng CHÙA MỌC LÊN NHƯ NẮM ở các cộng đồng tỵ nạn, con số chùa của người Việt tỵ nạn lên đến con số hơn 300, nghe qua chóng mặt và ngày nay đang có thêm nhiều ngôi chùa mới nữa, với sư mới, trẻ măng, nói nang dịu dàng, toàn là lời trong kinh, hàng tuần hay tổ chức nấu ăn đồ chay miễn phí để chiêu dụ, chùa giàu có cả xe bus để chở những người già, bịnh tật không lái xe đến chùa, ràng buộc hụi hè, giúp đỡ những Phật tử nào có vốn muốn về Việt Nam kinh doanh qua các sư từ trong nước quen biết với chính quyền, thỉnh thoảng mời sư ở Việt Nam sang thuyết pháp và” hoằng hóa” chúng sanh, chùa cũng có thể là nơi” chuyển tiền” về Việt Nam với huê hồng thật rẻ, là nơi giới thiệu hôn nhân” thiệt-giả”, móc nối đủ thứ; có thể nói là; cửa chùa ngày nay sinh hoạt” đa hệ” chớ không thuần túy chi tu học, giải thoát; một số Phật tử còn có tấm lòng từ bi, bảo trợ một số sư từ Việt Nam sang, trở thành tam cùng” cùng ăn, cùng ở, cùng tu”; nhưng sư nào đi xuất ngoại dễ dàng là điều ai cũng nhìn thấy, khỏi cần dùng kiếng chiếu yêu, hay là có trình độ văn hóa cao mới nhận biết.

Việt Cộng vẫn dùng cửa thiền môn xâm nhập, nên các sư nào xuất ngoại như đi chợ, được đi dân sang các nước để” tu học” đều là người của Việt Cộng cả, là thứ” công an, gián điệp tôn giáo” rất nguy hiểm. Việt Cộng thất bại nhiều mặt trận hải ngoại: trí vận, kiều vận, kinh tài vận….nhất là cái nghị quyết 36 càng lộ mặt nhiều cơ sở nằm vùng, do đó mặt trận tôn giáo, được cơi là cửa ngỏ an toàn xâm nhập và đánh phá qua vụ Hồng y Phạm Minh Mẫn, đại đức Thích Nhật Từ. Do đó, con đường xâm nhập từ chùa là an toàn, nên có thể là Việt Cộng dùng hình thức RỬA TIỀN bằng cách lập ra nhiều ngôi chùa, dùng một số Phật Tử địa phương làm cơ sở để che mắt; khi cất chùa xong là lấy tư cách để bảo lãnh sư từ Việt Nam sang qua diện tôn giáo, các tu sĩ tạm thời” núp bóng từ bi” để hoạt động, học hành, sau khi lấy bằng tiến sĩ, KỶ SƯ thì để tóc dài và trở thành CƯ SĨ, âm thầm biến mất trong dân chúng, cứ thế mà phát huy, tăng nhân số, hoạt động cho đảng, sau cùng là con số nằm vùng gia tăng, hợp với du học sinh, khuynh tả, có làm ăn với Việt Nam vận động” hòa hợp hòa giải”, công khai treo cờ đỏ khi họ đông dân, lập ra cộng đồng mới với các Phật tử mù quáng yểm trợ, mở rộng các tổ chức từ thiện với nhiều mục đích: giúp dân nghèo trong nước, sửa chửa chùa, xây chùa….

 Hiện tượng chùa mọc” không người lái” tại nhiều nơi ở hải ngoại là điều cần cảnh báo, nếu không thì bài học cũ trước 1975 ở miền Nam được lập lại. Cho nên, trước mắt là Phật tử nên cẩn trọng, nhất là các sư ở Việt Nam sang dễ dàng, chiếc áo không thành nhà tu là thế. Để đối phó, khi nhìn thấy chùa có những điểm khả nghi như có nhiều sư ở Việt Nam sang thuyết pháp, sinh hoạt…thì tránh đi chùa đó, kế đến báo với sở thuế để họ xem xét những món tiền lớn ở đâu mà có để mua đất, xây chùa hàng triệu đồng….nên nhớ là luật thuế vụ các nước dân chủ rất minh bạch, bất cứ ai đi làm cũng khai thuế và đóng thuế; ngay cả các cơ sở cộng đồng người Việt Tự Do ở Úc Châu, dù được chính phủ tài trợ hàng năm, nhưng vẫn phải khai thuế. Chùa cũng là cơ sở thu-nhập tiền, có quan hệ đến nhiều người, thì cũng phải đóng thuế mới công bằng; hy vọng sở thuế các nước dân chủ sẽ tìm ra được những” triệu phú đầu trọc” ở hải ngoại, là những người” tu nhất kiếp giàu nhất thời”, không làm mà giàu xụ, kể cả những số tiền bất chánh từ đảng và nhà nước muốn dùng chùa để đầu tư và rửa tiền. Khi sở thuế khám phá ra những điều bất thường về tài chánh, với số tiền lớn xây chùa, tức nhiên là chính phủ sẽ mở cuộc điều tra về nguồn gốc số tiền ấy, có khả năng tìm ra được” bọn gián điệp” rửa tiền bằng cách lập ra các chùa và từ đó tạo thành cơ sở an toàn, hoạt động có lợi cho đảng và nhà nước Việt Cộng.

    Người Việt tỵ nạn chân chính nào cũng không ưa bọn công an, cán ngố…ngay từ trong nước. Tuy nhiên đã bỏ nước ra đi, mà vẫn chấp tay” vái chào cung kính” công an, cán bộ tôn giáo vận mặc áo cà sa, thì quả là chuyện nghịch lý. Chẳng lẽ tượng của tên quốc tặc Hồ Chí Minh được Dũng Lò Vôi khoát áo cà sa, hay ngồi chung với Phật, Hùng Vương, thì người Phật tử thuần thành cũng quỳ lạy hay sao?./.

(*)

Ghi Chú:

     Vụ tu sĩ Phật Giáo Thích Quảng Đức tự thiêu vào ngày 11 tháng 6 năm 1963 tại ngả tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt vẫn còn nhiều nghi vấn. Chính cái vụ tự thiêu nầy, làm cho Phật Tử càng ghét chính phủ Ngô Đình Diệm thêm, nên 5 tháng sau thì trung tướng Dương Văn Minhhợp với tướng Phật giáo Đổ Mậu, mới gom các tướng tá đón gió đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, giết tổng thống và bào đệ Ngô Đình Nhu.

    Vụ Thích Quảng Đức tự thiêu được báo chí miền Nam ca tụng là” trái tim bất diệt” vì toàn thân xác thành tro, chỉ còn trái tim và được giới tu sĩ coi là đắc quả, ngày nay có một số ngôi chùa lấy pháp danh vị sư tự thiêu. Người Viết tình cờ được biết một số chi tiết trong vụ nầy, xin được nêu lên với tinh thần đóng góp, không có ý đã phá tôn giáo, nhằm tìm ra sự thật. Số là năm 1977 bị giải từ trại tù Khám Lớn Bạc Liêu lên trại tù quân khu 9 là Chi Lăng, ở liên đội 3, thuộc Liên Trại 3, ở nhà số 4. Kế bên là nhà số 2, gồm một số sĩ quan cấp đại úy, trong đó có đại úy LÊ VĂN LÂM, là sĩ quan tuyên úy Phật Giáo sư đoàn Dù, nên chúng tôi gọi là” Thầy Chùa Lâm”. Trong một lần hợp tổ, anh Lâm có nói về vụ Thích Quảng Đức tự thiêu, được một số anh em bên nhà 2 kể, sau đó tôi có hỏi khi anh Trịnh Tiến Bình (đại úy ở cùng nhà với anh Lâm), sau đó tôi có gặp thầy chùa Lâm, được xác nhận là sự thật, xin được nêu lên như sau:

    Tụ thiêu là do bốc thăm, chớ không phải tình nguyện, người trúng thăm tự thiêu là thượng tọa Thích Nhật Thường ( tục danh là Lê Văn Sua), là thân phụ của đại úy Lê Văn Lâm. Nhưng ông Lê Văn Sua nầy có vợ, cái đêm cuối cùng, nghe lời vợ, trốn khỏi chùa, sáng hôm sau, tới giờ” hành động”, không tìm đâu ra người tự thiêu, nên Thích Quảng Đức là người hy sinh. Không rõ là do tình nguyện hay là trong ban tổ chức dùng thuốc mê cho uống và bắt ra đốt? Vì thời đó khối Phật Giáo Ấn Quang có Việt Cộng nằm bên trong, hù dọa cả thượng tọa Thích Tâm Châu bằng chén máu, con dao trên bàn làm việc, thì mới biết tình hình đàng sau chánh điện tệ hại như thế nào… đó là câu nghi vấn cần được giải tỏa. Có thể Thích Quảng Đức bị chết oan do những người Cộng Sản gây ra trong chùa, nên sự oan ức nầy khiến trái tim không cháy? Xin được đưa ra cho rộng đường dư luận, vì nghe viết chỉ nghe từ một tu sĩ Phật Giáo.

http://tinparis.net/vn_index.html

Suc Vat Ho Chi Minh: Hoa Mu Bao Quanh Ten Dai Quoc Tac Ho Chi Minh

HỎA MÙ BAO QUANH TÊN ĐẠI QUỐC TẶC HỒ CHÍ MINH.  – TRƯƠNG MINH HÒA. –

http://vn.myblog.yahoo.com/30-4/article?mid=41&prev=-1&next=40

Thien Chua Giao Truoc Muu Do Danh Pha Tham Doc Cua Quy Do Satan Viet Cong

THIÊN CHÚA GIÁO TRƯỚC NHỮNG MƯU ĐỒ ĐÁNH PHÁ THÂM ĐỘC CỦA QUỶ ĐỎ SATAN VIỆT CỘNG.

–  TRƯƠNG MINH HÒA.

Xin được xác nhận, người viết bài nầy không phải là một tín đồ Thiên Chúa Giáo, đây là những nhận định cá nhân, dựa vào những sự kiện lịch sử và diễn biến tại Việt Nam, nhất là từ ngày có đảng Cộng Sản trong tinh thần trung thực.
” Vinh danh Thiên Chúa Trên Trời.
Dưới thế Cộng diệt, cho đời bình an”

     Tất cả mọi tôn giáo hiện hữu trên thế giới đều có mục đích hướng thiện, làm lành, lánh dữ, giúp cho xã hội giảm tội phạm, ảnh hưởng đến đời sống con người; do đó tôn giáo mặc nhiên mang ý nghĩa” làm chính trị chánh đạo” nên thường được chính phủ từ phong kiến, ngay cả thời thực dân cai trị, các nước dân chủ tôn trọng; nên các vị chức sắc tôn giáo được gọi là” lãnh đạo tinh thần”, những ai cho” tôn giáo phi chính trị” là không biết gì về tôn chỉ của các tôn giáo trong việc đóng góp vào đời, hoặc là những kẻ cố tình né tránh hai chữ” chính trị” để thực hiện những mưu đồ đem tối, trốn tránh trách nhiệm với đời, đạo, đất nước, dân tộc.

Chỉ trừ các nước theo chế độ Cộng Sản thì tất cả tôn giáo đều bị trù dập bằng nhiều thủ đoạn gian manh, xảo trá đươc thực thi qua các chính sách trù dập, đàn áp qui mô, có hệ thống, có bài bản, theo sự giáo dục của tổ Cộng Sản là Karl Marx:” tôn giáo là thuốc phiện”, được áp dụng uyển chuyển tùy theo từng tên đảng viên, cán bộ, mỗi đảng Cộng Sản ở các nước khác nhau; nhưng mục tiêu chung vẫn là: tiêu diệt hết, tận gốc tất các tôn giáo, đoạn thay vào đó bằng thứ” tôn giáo vô thần” là đảng Cộng Sản; theo đó nhưng tên ác quỷ, quỷ vương đỏ như Lenin Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Fidel Castro…trở thành thần thánh, Tiên Phật và Karl Marx đương nhiên là” Ngọc Hoàng Thượng Đế”, tức là ông Trời râu xồm” sanh sau đẻ muộn” nầy. Người Cộng Sản dùng đường lối duy vật kết hợp với bạo lực để nắm cuốn bao tử nhân dân, như các cuộc thí nghiệm của khoa học gia Nga là Pavlov, khi con người trở thành nô lệ của miếng ăn, do chính sách bao cấp lương thực, hộ khẩu, cửa hàng quốc doanh…từng gây điêu đứng cho dân miền Bắc sau 1954 và những năm đầu tiên tại miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975; nhiều tên cán ngố Việt Cộng đã tự hào về lối” duy vật” thành công, nên bảo với người dân rằng:” ông Phật, Ông Trời, Jesus không cho nhân dân cơm, gạo, các thứ trong đời sống, chỉ có đảng và Bác mới cho, ai hơn ai?”. Như vậy, đương nhiên là: trời, phật, chúa…không ai cấp hộ khẩu, tem phiếu cả…nhưng đáng lẽ các thứ ấy do con người làm ra và hưởng xứng đáng với công sức, thì bị đám ăn cướp Cộng Sản tướt đoạt và phân phát lại  một phần rất nhõ để cho nhân dân tạm sống, lấy sức để làm nô lệ, phục vụ cho lũ người bất lương, mạo danh” cách mạng” nầy. Một số tên cán bộ từ miền Bắc vào Nam sau 1975 còn nhi nhô rằng: có một số nhà báo thuộc hãng thông tấn AFP hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh:” ông nghĩ gì về Phật Thích Ca, Chúa Jesus…?”, tức khắc, nói khỏi cần động não, Hồ Chủ Tịch đáp ngay: ” Hai ông ấy không có lao động vinh quang, là những người ăn không ngồi rồi, vô tích sự..”

     Trong các tôn giáo tại Việt Nam, đặc biệt đối với Thiên Chúa Giáo, dù đến Việt Nam không lâu so với các tôn giáo lâu đời như Khổng, Lão, Phật, nhưng người Cộng Sản coi Thiên Chúa Giáo là kẻ thù đáng ngại trong số các tôn giáo; có thể nói là từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh, đàng trong, chúa Nguyễn, như thời Nguyễn Phúc Chu cũng đã làm quen với các giáo sĩ từ các nước Âu Châu đến truyền giáo, giao thương. Tuy nhiên, sau khi Công Giáo vào Việt Nam phát triển, được nhiều người theo, làm cho giới thầy cúng, thầy tụng, thầy pháp, bùa ngãi, với tâm địa hẹp hòi, cảm thấy bị mất quyền lợi, nên gây ảnh hưởng, áp lực với triều đình Huế, mà đa số các quan lại, vua chúa đều là tín đố các tôn giáo lâu năm, cộng thêm tinh thần hủ lậu, đưa đến việc cấm đạo gay gắt, khiến hàng trăm người tử vì đạo, hàng ngàn người trốn tránh trong rừng để bảo vệ đức tin, nên thánh địa La Vang là nơi từng ghi dấu những bước chân của hàng ngàn tín đố Thiên Chúa, chịu đói, khổ để bảo vệ đức tin.

     Ngay trong nội địa Việt Nam, không phải bất cứ đạo mới nào xuất hiện cũng được các thành phần hẹp hòi của các tôn giáo lâu đời chấp nhận, cho sinh hoạt hài hòa trong xã hội với tinh thần” đạo ai nấy giữ” tín ngưỡng ai nấy theo; nhưng bản tánh ganh tỵ, tranh giành ảnh hưởng, tín đồ, quyền lợi, là nguyên do đưa đến những hậu quả không tốt trong vấn đề sinh hoạt tôn giáo tại vùng đất đa tôn giáo, được nhiều người tự hào gọi là” tam giáo đồng qui” với” Phật-Khổng-Lão”. Nên tại Việt Nam, những thầy đạo bình thường như Đạo Dừa, Đạo Vuốt, Đạo Xôi, Đạo chuối….không mấy ảnh hưởng đến quyền lợi, thế nên các thầy cúng, thầy tụng thầy pháp…làm thinh, không ngán, để yên cho họ hành đạo theo cách riêng.

Tuy nhiên, nếu có vị nào lập đạo, tạo được nhiều ảnh hưởng như Đức Phật Thầy Tây An, tên thật là Đoàn Minh Huyên, khai sáng ngành đạo” Bửu Sơn Kỳ Hương” là bị đám người với danh hiệu tu sĩ nhưng bản tánh hẹp hòi ganh ghét, báo cáo, vu khống, gây áp lực với triều đình, quan quyền địa phương để dẹp, hầu cho họ được độc quyền truyền đạo, tiếp tục làm ăn; do đó chuyện Đức Phật Thầy bị quân lính bắt, giải vào khám lớn ở Rạch Giá, sau đó, thấy Ngài xuất hiện ở chợ sau khi bị nhốt, khiến quân lính triều đình kinh hồn, không còn coi là” gian sư” như lời tố cáo, dèm pha của các chức sắc tôn giáo khác nữa; nhưng triều đình không dám cho Ngài tự do hành đạo, đưa Ngài vào phái Trúc Lâm cho dễ kiểm soát, tuy nhiên Ngài không cạo đầu quy y, thuần phục như những người xuất gia bình thường, vì các chức sắc chùa Tây An không đủ tư cách để làm tôn sư của Ngài, vì hoàn cảnh phải vào chùa, sau đó trở thành môn phái Bữu Sơn Kỳ Hương.

      Đạo Thiên Chúa từ phương xa đến truyền giáo, bị trù dập, đàn áp dã man dưới triều đình nhà Nguyễn là điều khó tránh khỏi; do tác động, ảnh hưởng của các tín đồ thiển cận của các đạo kỳ cựu như Phật, Khổng, Giáo, Lão, vốn ăn sâu vào sinh hoạt xã hội, đời sống tâm linh. Sau năm 1884, người Pháp đem quân xâm chiến nước Việt Nam vì chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình Huế, cùng thời kỳ ở Nhật, Minh Trị Thiên Hoàng hiểu được thời thế nên mở cửa, canh tân đất nước, nên nước Nhật thoát khỏi vòng đô hộ của các nước thuộc địa Âu Châu. Sự có mặt của quân Pháp ở Việt Nam làm tăng thêm tính ganh ghét, kỳ thị của những đầu óc thủ cựu, bọn thầy cúng, thầy pháp, thầy bùa….hẹp hòi, được kích động qua” lòng yêu nước”, tạo thêm hố sâu chia rẻ, di căn đến ngày hôm nay; dù Công Giáo được công khai truyền đạo, song hành với các đạo khác, nhưng sóng ngầm vẫn âm ỷ, đợi thời cơ bùng phát.

Thực Dân Pháp với đoàn quân viễn chinh gồm quân lính, giới chức…phần đông là người theo đạo Thiên chúa, nhưng không phải như lối suy nghĩ nông cạn, đầy định kiến, lệch lạc là:” đạo Thiên Chúa xâm lược nước ta”; mặc dù Thiên Chúa Giáo mang làn sinh khí mới trong sinh hoạt tâm linh, các linh mục, giáo sĩ là những người học rộng, có khả năng, giúp ích rất nhiều cho các tín đồ và ảnh hưởng đến dân chúng; nhờ Thiên Chúa Giáo với giáo sĩ Alexandre de Rhodes, nên dân tộc Việt Nam thoát khỏi lối viết rất khó khăn, đầy hình tượng của người Trung Hoa, xâm nhập, nằm vùng văn hóa, qua hàng ngàn năm cai trị khắt nghiệt. Chữ quốc ngữ, lấy mẫu tự La Tin, là một đóng góp đáng kể của các giáo sĩ Công Giáo; trong khi đó, năm 1956, tên Cộng Sản cuồng tín Trường Chinh đã từng có” ý đồ” muốn bỏ tiếng quốc ngữ, để dân ta học tiếng Tàu. Cũng với lập luận ngây ngô” chữ viết nầy là tàn dư của chủ nghĩa thực dân Pháp”.

      Bên cạnh những tu sĩ chân chính của các tôn giáo khác có tấm lòng hòa hợp, sống chung trong một xã hội hài hòa, thì Công Giáo bị ganh tỵ, thù ghét từ những kẻ có đầu óc hẹp hòi, ít học, dốt nát, nhưng” tu lâu thành huề thượng, sống lâu thành đạo sĩ..” nhồi nhét những tư tưởng thù hằn đối với Thiên Chúa Giáo, qui chụp là” đạo của thực dân Pháp” gây tình trạng phân hóa, bất ổn ngầm trong xã hội từ thời nhà Nguyễn đến nay. Từ ngày có mặt đảng Cộng Sản vô thần do tên quốc tặc Hồ Chí Minh, du nhập thuyết vô thần, các tôn giáo bị trù dập, nhưng người Cộng Sản gian manh và thâm độc, khai thác sự mâu thuẫn của các tôn giáo khác vốn có nhiều ác cảm với Công Giáo xuất phát từ sự hiểu lầm do những định kiến hẹp hòi, lưu truyền trong dân chúng qua các” nhà lãnh đạo tinh thần” ích kỷ; dựa vào định kiến” bài ngoại, chống thực dân Pháp”.

Lợi dụng, khai thác vấn đề tâm lý nêu trên, đảng Cộng Sản Việt Nam dùng các tôn giáo khác để bao vây Thiên Chúa Giáo và không quên chụp mũ Thiên Chúa Giáo là” đạo thực dân, tại Thiên Chúa là nguyên nhân đưa đến mất nước”…lối tuyên truyền dối trá nầy phát triển mạnh thời gọi là” kháng chiến, đánh Tây giành độc lập” nên thời kháng chiến, vì lý do sinh tồn, an nguy bản thân, mà người Công Giáo phải đoàn kết lại tại các giáo khu, hầu tránh bị tàn sát, ám hại lẻ tẻ bởi người Cộng Sản. Một lý do nữa là Công Giáo có sức mạnh, có hệ thống, giáo luật, hầu hết những nước hùng mạnh Tây Phương đều theo Thiên Chúa.

 Sau năm 1954 ở miền Bắc, Hồ Chí Minh ngán nhất là Thiên Chúa, nên ra sức trù dập, bao vây các giáo khu nổi tiếng như Bùi Chu, Phát Diệm…giam cầm, tù đài các tu sĩ có nhiều uy tín, và đồng thời thu phục các tu sĩ quốc doanh, để khống chế đạo. Do đó, thời kỳ từ 1954 đến 1975, đạo Thiên Chúa ở miền Bắc bị đặt lên hàng đầu, chung với” trí, phú, địa, hào”, cho nên ngay cả việc lập gia đình, đảng Cộng Sản còn tìm cách ngăn cấm cán bộ kết duyên với các tín đồ Công Giáo, trong khi đó các đạo khác không có vần đề nầy; như thế đảng Cộng Sản đã biết được sức mạnh thực sự của Công Giáo và đức tin của các tín đồ.

      Tại miền Nam sau hiệp định Geneve 1954, đảng Cộng Sản phát động cái gọi là” đánh Mỹ cứu nước”, ngoài thù ghét Công Giáo là” đạo của thực dân Pháp”, còn có thêm Đạo Tin Lành, bị chụp mũ là” đạo của đế quốc Mỹ”, nên bọn gián điệp Cộng Sản nằm vùng tại miền Nam kích động ganh ghét giữa Phật Giáo đối với Công Giáo, qua hình ảnh của một số chức sắc thân Cộng, cán Cộng gián điệp nằm vùng trong khối Phật Giáo Ấn Quang, liên tục kích động đánh phá suốt trong cuộc chiến. Trong trận Tổng Công Kích Tết Mậu thân 1968, tại nhiều nơi, nhất là Huế, các linh mục, nhà thờ, là nơi mà bọn Việt Cộng nhắm tới, nên một số giáo sư da trắng ở Âu châu sang dạy học, cũng đã bị tàn sát dã man. Thời đó, những nhóm Phật Tử  bị những tên cán bộ Cộng Sản, tu sĩ thân Cộng, dưới danh hiệu là ” lãnh đạo tinh thần” kích thích hận thù, nên thường hay khiêu khích các nơi có người Công Giáo di cư và những tin đồn nhãm về sự đánh nhau giữa hai phe tôn giáo, gây bất ổn trong xã hội, hậu phương miền Nam, giống như những thành phần núp bóng Hồi Giáo cực đoan ngày nay, kích động hai phe Hồi giáo Sunny và Shia đánh nhau tại Iraq, vài nước ở Trung Đông.

      Sau năm 1975, các tôn giáo đều ” đồng qui” là đàn áp, trù dập dã man, có bài bản, hệ thống. Công Giáo cũng nằm chung số phận, thập thò khuynh đảo có một số ” linh mọp quốc doanh”, vốn từng” phục vụ đảng” chống chính phủ miền Nam như Chân Tin, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần.…càng ngày càng tìm cách ” lái Công Giáo đi theo tấm bản chỉ đường của đảng Cộng Sản vô thần”, nên đảng nhét vào một số” linh mục công an, cán bộ Mặt Trận Tổ Quốc”, dần dần làm suy yếu hệ thống giáo hội. Chính những giáo sĩ” gốc Công An” hay là linh mọp quốc doanh nầy đã thu hút một số con chiên ngoan đạo, bởi vị thế của cha là tôn kính, bất kể là ai, cho nên Việt Cộng thành công bước đầu trong việc dùng các đầu tàu lãnh đạo tinh thần để khống chế Thiên Chúa, là những người dắt con chiên đi theo con chó sói Cộng Sản. Tuy nhiên, sau thời gian dài, những” linh mọp” lộ dần chân tướng ” phục vụ cho con quỷ Satan đỏ Việt Cộng”, nên giáo dân tự động” bất tín nhiệm” và đi theo các tu sĩ chân chính.

 Sau khi cái nôi Cộng Sản quốc tế Liên Sô và toàn thể khối Cộng Sản tiên tiến nhất ở Đông Âu bị sụp đổ, thì đảng Cộng Sản tàn dư như Việt Nam càng lo sợ cho sức mạnh của Công Giáo qua hình ảnh của cây thánh giáo treo trên mũi súng xe tăng của Hồng Quân Liên Sô, thay vì được lịnh đảng đến đàn áp, thì những tín đồ đã quay súng lại, kết thức chế độ độc tài Cộng Sản sắt máu chỉ trong vòng 3 ngày, so với hơn 70 năm xây dựng trên bạo lực. Tại Việt Nam, dù tín đồ Thiên Chúa Giáo không chiếm đa số như Phật Giáo, nhưng đảng Cộng Sản rung sợ trước sức mạnh” vô địch” tiềm ẩn trong đức tin của mọi tín đồ sùng đạo chân chính và bên ngoài có cả một hậu thuẫn quốc tế rộng lớn. Đây là bài học, kinh nghiệm khiến cho bạo quyền Việt Cộng hoảng hốt khi nhìn thấy quan thầy sụp đổ, do chính các đạo phương tây như Chính Thống Giáo ở Nga, càng vững mạnh dù bị trù dập dã man thừ Lenin, Stalin, Breznev….các giáo hội Công Giáo Ba Lan, Nam Tư, Đông Đức…sát cánh cùng nhân dân, triệt tiêu những chế độ Cộng Sản bạo tàn vô thần.

     Sau thời gian dài đàn áp, trù dập, chưa bao giờ đảng và nhà nước Việt Cộng tàn dư run sợ trước sức mạnh của Công Giáo qua tình đoàn kết giữa các giáo hội trong nước và thế giới, ảnh hưởng đến các chính quyền Âu Mỹ, là nơi cung cấp tiền, viện trợ cho Việt Nam để tồn tại được lúc nào hay lúc ấy. Cho nên, tên thủ tướng không người lái, Nguyễn Tấn Dũng, được coi là tên” sát thủ tỉnh Rạch Giá”, khi mới được đảng chỉ định chức vụ nầy vào cuối năm 2007, trong chuyến công du Âu Châu  năm 2008, hắn đến yết kiến đức giáo Hoàng mới là Benedict thập lục, coi là hành động tỏ thiện chí khi suy yếu, trong cái” thoái trào cách mạng” để ” tranh thủ” và chờ thời cơ tiến lên ba bước khi” cao trào cách mạng”. Sau khi thăm viếng, giáo dân đòi đất ở Tòa Khâm Sứ, Thái Hà…thì Việt Cộng đàn áp, tìm mọi cách” trì hoãn kế”, gây trở ngại cho công cuộc lấy lại đất đai, tài sản giáo hội, bị cướp đoạt từ thờì Hồ Chí Minh. Dù rung sợ, nhưng bản chất gian manh, bạo quyền Việt Cộng đã ra tay, biến các nơi tranh chấp thành công viên, nhằm triệt tiêu nơi tranh chấp, bắt bớ giáo dân, đưa ra tòa để” đấu tố” càng gây căm phẩn cho giáo dân; tuy nhiên, đó chỉ là những biện pháp vá víu, Việt Cộng không thể dập tắt ngọn lửa đức tin trong mỗi tín đồ Công Giáo. Cho nên, đối với Việt Cộng, chúng thường áp dụng những cách đánh Công Giáo sau đây:

  • 1-Đối với thế giới: trì hoãn kế:

-Giả vờ bộ mặt” biến cải thiện” để đánh lừa các nước cấp viện Âu Châu, Hoa Kỳ…nhưng trong nước vẫn đàn áp, có khi dùng” bàn tay sắt bọc nhung” pha trộn giữ luật quốc tế và luật rừng để tiếp tục chiếm đất, duy trì quyền khống chế các cơ sở bị” biên chế” thành tài sản của cán bộ.

-Tìm cách vuốt ve Tòa Thánh La Mã qua lối ngoại giao, hứa hẹn, dành một số dễ giải cho Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam ( nhưng đừng nghe những gì Việt Cộng HỨA, hảy nhìn kỷ những gì Việt Cộng làm).

-Dùng thế ngoại giao với La Mã để thương thuyết, hứa, vuốt ve các chức sắc cao cấp tại tòa thánh Vacitan, vì đảng Cộng Sản thừa biết là: các vị lãnh đạo tinh thần Thiên Chúa Giáo tôn trọng” bề trên” nên họ tin tưởng một cách máy móc là” chỉ nói chuyện với về trên là mọi chuyện sẽ được giải quyết, khi lịnh trên ban xuống”.

  • 2-Trong nước:

-Khủng bố, bắt bớ, giam cầm các linh mục chân chính như Nguyễn Văn Lý, bao vây các giáo phận, để triệt hạ mầm mống đòi tự do tôn giáo, đất đai. Cách nầy gây thêm căm phẩn và làm lộ bộ mặt thật của đảng Cộng Sản sau cái gọi là” có tiến bộ về mặt tự do tôn giáo”.

-Tịch thu các cơ sở, nhà thờ, đất đai…biến những nơi nầy thành tụ điểm giải trí, du lịch…nhằm làm giảm giá trị tôn kính của đạo Thiên Chúa. Cho nên, các tu sĩ nhìn thấy mưu đồ đen tối ấy, nên đưa đến những cuộc cầu nguyện suốt trong năm 2008 tại Tòa Khâm Sứ, Thái Hà…khiến Việt Cộng bối rối, áp dụng chiến thuật cũ” vừa đánh vừa đàm” để mua thời gian và tìm cách đối phó. Khi tôn giáo mất dần sơ sở, là coi như Công Giáo bị ảnh hưởng rát nhiều, cho nên sau vụ làm công viên ở Thái Hà, đảng Cộng Sản qua tay của tỉnh ủy Vĩnh Long đang có kế hoạch tịch thu tu viện đã có mặt từ 1897, tức là từ lúc Hồ Chí Minh còn ở truồng, biến nơi nầy thành công viên, là sách lược mới vừa áp dụng ở miền Bắc, có mục đích thâm độc khác là” xóa bỏ dần các di tích mang tính cách lịch sử của các tôn giáo”; đây được coi là một phần trong cái gọi là” cách mạng văn hóa” thời Mao, ở Hoa Lục, được tái áp dụng tại Việt Nam vào thế kỷ 21 ( cũng có thể do quan thầy Trung Cộng chỉ vẽ?).

Đó là chính sách vô cùng thâm độc, dần dần tiến chiếm thêm nhà thờ, đất giáo hội, di tích lịch sử thành công viên trồng cỏ vô ích, nhưng thực hiện với danh nghĩa” vì lợi ích công cộng” hay là” vì lợi ích nhân dân” là hành vi khiêu khích trắng trợn, có chủ đích, được coi là” cao trào tấn kích” vào thành trì của Thiên Chúa giáo tại Việt Nam. Nếu bảo là” vì lợi ích nhân dân” thì cái Lăng chứa xác con khỉ khô Hồ Chí Minh, là nơi làm hao tốn nhiều tiền hàng năm của nhân dân, số tiền lo bảo trì xác ướp, canh gác, dịch vụ, mỗi năm, đủ nuôi hơn 6 làng; các sân đánh golf chỉ phục vụ cho thiểu số, các trung tâm giải trí của cán bộ làm chủ…. sao không phá hết để” vì lợi ích công cộng?”. Những cuộc xâm chiếm, cướp đoạt đất đai của nhà nước Cộng Sản đối với Thiên Chúa Giáo, là báo động đỏ cho giáo dân trong và ngoài nước, tòa thánh La Mã, các nước cấp viện… đây là lúc” cao trào đánh phá Thiên Chúa Giáo” đấy.

-Song song với các mũi nhọn đàn áp, sách lược chiến tài sản, đảng cho các linh mọp quốc doanh tìm cách phá thối các cuộc đòi đất, lợi dụng chức vụ để làm giảm bớt số người cầu nguyện. Những linh mọp nầy đồng lỏa với đảng Cộng Sản vô thần Satan đỏ, hùa theo để trù dập các tu sĩ khác, giáo dân.

    Trước sự kiện nầy, trong tương lai, sẽ có thêm nhiều khu đất của Công Giáo, cơ sở, nhà thờ…có giá trị lịch sử, bị san bằng, biến thành các công viên trồng cỏ, làm cho tôn giáo mất dần những giá trị thiêng liêng, nơi sinh hoạt. Đó là những thủ đoạn gian manh của bọn quỷ đỏ Satan vô thần Việt Cộng, sau thời gian: trì hoãn kế” vừa đàn áp vừa đàm phán” và” vừa đàm phán vừa tung ra thủ đoạn”, nay đến lúc bọn satang đỏ ra tay, nên sự kiện mới đây ở Vĩnh Long là điềm báo nguy cho Công Giáo Việt Nam. Cái gọi là” vì lợi ích nhân dân” là thứ chiêu bài, từng được đảng Cộng Sản và Hồ Chí Minh ứng dụng nhiều lần trong việc cướp của giết người từ Bắc chí Nam sau 1954 miền Bắc và 1975 miền Nam qua các chiến dịch cải cách ruộng đất, đánh tư sản, tịch thu nhà cửa, đất đai của dân, tài sản các tôn giáo. Phát súng lịnh biến nơi cầu nguyện ở Thái Hà thành công viên, Tòa Khâm sứ bị rào thêm, vài giáo phận bị lấy đất, gây áp lực tháo gở thánh giá….là điều mà giáo dân, giáo hội Công Giáo tại Việt Nam, hải ngoại cần phải quyết tâm hơn nữa, nếu không, thời gian không xa, tất cả các nhà thờ đều thành công viên, cũng với lý do lếu láo” vì lợi ích nhân dân”, thì các linh mục, giáo dân còn lấy nơi nào để làm lễ, thực thiện các thánh lễ….

  •    3. Tại hải ngoại, trong thời gian qua, những cánh tay lông lá nối dài của ác quỷ đỏ Satan Cộng Sản len lõi trong làn sóng ra đi tìm tự do, đoàn tụ, du dân….chúng cũng áp dụng sách lược cố hữu của đảng Cộng Sản trong nước, nhắm vào Thiên Chúa Giáo:

-kích động hận thù vào những người theo đạo khác, có đầu óc hep hòi, ít hiểu biết, để ghét Công Giáo qua qui chụp:” tại Thiên Chúa rước Pháp vào xâm lăng nước ta”, đổ tất cả chuyện mất nước vào đầu người Công Giáo, nhằm bao vây, cô lập.

-Dùng truyền thông, tuyên truyền xám, có thể và có khả năng xuất phát từ các cơ sở, tự viện, do những tu sĩ về nguồn, tăng ni bảo lãnh từ Việt Nam để xúi dục, gây chia rẻ.

    Những phương tiện truyền thông hữu hiệu là các cơ quan ngôn luận, sau thời gian hoạt động, đã ló” đuôi chồn” như trước đây ở Úc Châu có Hoàng Nguyên Nhuận, tức là Hoàng Văn Giàu, nghe đâu ở Blue Mountain với nữ sĩ Lệ Hằng ở Sydney?. Là người có vài nguồn tin đồn về một số chuyện trong trận tết Mậu Thân 1968 tại Huế? Theo quyển sách” Ba Mươi Năm Văn Học Nghệ Thuật của người Việt ở Úc” do tác giả Ngô Lâm, trang 211 ghi: Hoàng Văn Giàu, bút danh thường dùng” Hoàng Nguyên Nhuận, Huỳnh Bất Hoặc, Anthony Darlic, Tùy Anh, Giới Tử. Học lực: cao học triết học và cao học khoa xã hội. Nghề cũ: nhà giáo, nhà binh..( phần NHÀ BINH, không ghi rõ là lính VNCH hay là bộ đội chính qui, du kích..?). Hoàng Văn Giàu chủ biên tờ Chuyển Luân, đánh phá quân lực VNCH, kích động Phật Giáo thù ghét Công Giáo, nên sau thời gian tung hỏa mù, kích động gây phân hóa trong sách lược” dùng Phật Giáo để đánh Công Giáo” bị đồng bào ở Úc phản ứng mạnh, nên tờ Chuyển Luân dẹp từ mấy năm nay. Được biết Hoàng Văn Giàu từng là cộng tác viên Giao Điểm, đúng là” ngưu tầm ngưu, mả tầm mả”, cùng là cá mè một lứa.

   Giao Điểm cũng là” trung tâm đánh phá Thiên Chúa Giáo” hải ngoại đáng lưu ý nhất, được coi là là cánh tay lông lá nối dài của ác quỷ satang đỏ. Trong Giao Điểm, có một số tay viết đánh phá Thiên Chúa Giáo từ đức Giáo Hoàng đến giáo dân qua các tác giả như:

-Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân tại VN: tác giả là CAO HUY THUẦN, luận án tiến sĩ quốc gia, khoa học chính trị đại học Paris

-Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp tại VN: của tiến sĩ NGUYỄN XUÂN THỌ.

-Jesus là ai, giảng dạy những gì: của giáo sư tiến sĩ TRẦN CHUNG NGỌC.

-Đối thoại với Giáo Hoàng John Paul đệ nhị-Kito giáo từ thực chất đến huyền thoại-Tại sao không theo đạo Thiên Chúa- Công giáo huyền thoại và tội ác- Công giáo trên bờ vực thẩm..( nhiều tác giả, chắc là có đa số là tiến sĩ)

    Một điều đáng lưu ý là: những bài đánh phá Thiên chúa Giáo một cách có hệ thống, theo đúng chính sách” tận diệt Thiên Chúa” của tập đoàn quỷ đỏ Satan Việt Cộng, được phổ biến trên Giao Điểm, thường tác giả có cái danh hiệu” TIẾN SĨ”, nhất là Trần Chung Ngọc, có thêm cái danh hiệu” GIÁO SƯ”, để hù, lòe thiên hạ. Hổng lẽ những bài viết nào không có cái danh hiệu” tiến sĩ, giáo sư” là hổng có ai đọc và cũng hổng có giá trị sao?. Mấy tay Giao Điểm nầy muốn dùng bằng cấp để làm bình phong, rồi muốn nói hưu nói vượn, nói quấy, nói quá như Việt Cộng mang A K nói năng vung vít:

” A.K, mã tấu kè kè.
Nói quấy, nói quá, chúng nghe rầm rầm”

   Đám tiến sĩ nầy lầm to, ở hải ngoại nầy, bằng cấp tiến sĩ nhan nhản khắp nơi, ngay cả trong cộng đồng tỵ nạn, chất xám hơn 300 ngàn; tuy nhiên tư cách, lập trường mới có giá trị hơn là bằng cấp cao. Do đó những tấm bằng” tiến sĩ” mà viết theo lối đó, đăng trong Giao Điểm, qua những bài viết nêu trên là ” PHÁ TIẾN SĨ”, chứ nào là” tiến sĩ” nên những” khoa bảng” nầy nên về Việt Nam để” đăng ký” vào danh sách” 16 ngàn TIẾN SĨ CẦU MUỐI” là rất thích hợp, hy vọng sẽ được ghi khắc vào” bia đá” nếu” đánh cho Thiên Chúa gục, đánh Tin Lành nhào” được đảng và nhà nước ghi công. Nhưng cái bằng tiến sĩ nầy cũng nên được các nhà bảo vệ môi sinh cổ động để” lưu trữ” trong các” đại thư viện RECYCLE” hay là” Viện Hàn Lâm Ao Cá Bác Hồ” là rất tốt cho khí thải nhà kính và bớt tình trạng trái đất bị hâm nóng và vừa giúp cho Việt Nam phát triển kinh tế sống nhờ vào cấp viện, tiền Kiều hối, từ thiện, ăn chận, rút ruột…theo công thức” lấy kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”..

     Tóm lại, Thiên Chúa Giáo bị nhiều gian nan như cuộc đời của đấng cứu thế, Jesus, chịu cực hình trên thập tự giá, nhưng đức tin vẫn không hể thay đổi, vì bọn ác quỷ đỏ satan vô thần Cộng Sản không tồn tại mãi mãi, do đó, chúng luôn rung sợ trước sức mạnh vô song của Thiên Chúa Giáo và các tôn giáo khác tại Việt Nam như Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành, đạo thờ cúng ông bà. Quỷ ma tất nhiên phải bị chánh đạo quyét sạch, là điều tất nhiên, dù sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.
 

  • THƠ LÁI ÂM.

LINH MỌP QUỐC DOANH TRƯƠNG BÁ CẦN.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, những” Juda thời đại” bán giáo dân, phản giáo hội đã xuất đầu lộ diện, ăn mừng quỷ đỏ Satang Việt Cộng như linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần ( tức là Trần Bá Cương)…. Những Juda thời đại vẫn mạo danh Thiên Chúa, Giáo hội để phục vụ cho đảng vô thần, tiếp tục đánh phá, đưa người sang thu tiền với danh nghĩa từ thiện, sửa, xây nhà thờ…trong khi Công Giáo vẫn vị đàn áp dã man, một số linh mục bị tù đài như Nguyễn Văn Lý.

TRẦN BÁ CƯƠNG, tức TRƯƠNG BÁ CẦN.
ĐÃ DẠO tu dòng, ĐẠO GIẢ nhân.
DÙ TÔNG đồ Chúa, DÒNG TU phá.
VẦN THÔ tế lễ, nịnh VÔ THẦN.
BÀI GIẢNG Mác Lê thường BÀN GIẢI.
LẤY ĐẠO chúa Trời, LÁO ĐẬY gian.
MẶT GIẢ Ju-da, lòi MÃ GIẶC.
TÂN ƯỚC lập lời, Chúa TƯỚC ÂN.


TRƯƠNG MINH HÒA.