Ho-Chi Minh – the chap we were fighting against

Ho-Chi Minh - the chap we were fighting against

Ho-Chi Minh – the chap we were fighting against

Minh Hoa-Truong

http://www.hon-viet.co.uk/TruongMinhHoa_HCMinhKeMaChungToiChongDoi.htm

 


ditmecodosaovang, ditmehochiminh, ditmenongducmanh, ditmenguyentandung, ditmenguyenminhtriet, dadaocongsan, latdocongsan, tieudietcongsan, hochiminhsucvat, sucvathochiminh, sucvatnongducmanh, sucvatnguyentandung, sucvatnguyenminhtriet, dadaovietcong

Advertisements

Tay Sai Suc Vat Ho Chi Minh: Chua la cua ngo xam nhap an toan cua viet cong

CHÙA LÀ CỬA NGÕ XÂM NHẬP AN TOÀN CỦA VIỆT CỘNG

TRƯƠNG MINH HÒA

Tác giả Phạm Xuân Đài, thuộc dòng dõi Phạm Phú Thứ, trong một bài viết với tựa đề:” chùa là cái thiện” được phổ biến khá rộng trên hệ thống truyền thông hải ngoại; chùa là cái thiện cũng có phần đúng về hình thức trong triết lý Phật Giáo, vì cảnh chùa từ trong ra ngoài thường được trang trí cho có vẻ thanh tịnh và đượm phần thoát tục, phù hợp với những ai” coi cõi đời là cõi tạm” muốn tìm con đường giải thoát khỏi kiếp trầm luân khổ ải mà đời người thường hay TRÀN DÂNG nhân quả chốn TRẦN GIAN; chùa mà buồn, cô quạnh quá như ” chùa Bà Đanh” cũng không hấp dẫn đối với những người có cái tâm” hàng hai” như đám đón gió trở cờ, vừa tự nhận là người tỵ nạn chính trị, nhưng cũng vừa muốn bắt tay với Việt Cộng để làm ăn, du lịch, du hý, du dâm…. đó là những người” bắt cá hai tay”, vừa muốn tu thành chánh quả và cũng vừa muốn nhìn thấy cuộc đời đẹp lắm trước khi tìm đến cõi Niết Bàn.Tuy nhiên ngày nay, có nhiều chùa không còn thiện nữa, như ngôi Đại Nam Quốc Tự ở Bình Dương, do” cư sĩ gốc công an” Dũng Lò Vôi xây dựng tại Bình Dương với diện tích hơn 500 mẩu tây, có cả những nơi” du hý” giống các tụ điểm du lịch nổi tiếng như Disney Land ở Mỹ; nổi bật là nơi chánh điện có thờ tượng vàng của đại giáo chủ ma đầu” vô thần” kiêm” quỷ vương” Hồ Chí Minh chung với đức Phật và vua Hùng ( có công dựng nước); chùa Quán Sứ ở Hà Nội là nơi mà Phật Tử tìm đến nơi thờ Phật, cúng bái, công quả, công đức và đủ thứ” công khác” cũng phải” tịnh khẩu” nếu lỡ lời là bị” sư, tăng ni mắt khóm tai bèo” báo cáo với các” đồng chí công an” về tư tưởng tiêu cực, phản động, có âm mưu lật đổ chế độ, thì con đường cải tạo chập chờ trước mắt, trong khi chưa thấy Niết Bàn đâu; nhưng cái hệ thống nhà tù cải tạo cũng là cửa ngỏ đưa vào” thiên đàng Cộng Sản” đấy.

     Chùa là cái thiện cũng ở Việt Nam ngày nay, như ở Thanh Minh Thiền Viện hay các tự viện không nằm trong cái giáo hội Phật Giáo với công thức:” chùa do Phật tử vung bồi công quả, công an giả sư quản lý, đảng Cộng Sản vô thần lãnh đạo”. Những tự viện nằm ngoài vòng cương tỏa của Mặt Trận Tổ Quốc, nơi mà các vị cao tăng, tu sĩ muốn thanh tịnh, được tự do tu hành theo truyền thống Phật Giáo đã có từ hàng ngàn năm qua, nhưng cũng không được, vì chùa luôn luôn đặt trong cái” tình huống” cực kỳ khẩn trương, kiểm soát ra vào, ngay cả con kiến, con rận, rệp và loài có cánh như con ong chúa 63 cũng hổng thể nào lọt vô được, ngoại trừ con mối chúa là có thể” độn thổ” chui vào thôi:

” Người hiền đức như tù trong khám.
Có công an bao bọc bên ngoài”.

     Chùa chỉ là nơi thờ Phật và người đi tu có nơi nương tựa, được coi là những người quy y, tình nguyện suốt đời làm con của Phật, nên ai đi tu cũng mang họ Thích. Không phải ai họ Thích cũng đều Thích tu hành đâu, cái tâm mới là quan trọng:

” Dò sông dò biển dễ dò.
Nào ai lấy thướt mà đo lòng người”.

Đại thi hào Nguyễn Du cũng đồng ý:

” Thiện căn bởi tại lòng ta.
chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

    Chùa với thầy chùa, nhưng không phải thầy chùa nào cũng” đạo hạnh cao dầy”, để hết tâm trí tu hành, chắc chắn khi” viên tịch” cũng phải lên Niết Bàn, đứng ngồi gần tòa sen. Nên người đời có danh hiệu ” Thầy chùa lửa, sư hổ mang, ác tăng”….ngày nay thêm” dâm tăng” sau khi” phát hiện” ra một số tăng có nhiều hạ lạp, lên đến Huề thượng đã từng biết thế nào là:” con đường tình ta đi”, vừa tu vừa tìm cách hưởng cái lạc thú thế gian để” thanh tâm trường khóa lạc”, đạt cả hai mặt” đạo và đời”, biến” đời là bể khổ” thành” đòi là bể sướng”. Như thượng tọa Thích Trí Quang, dù là người tu hành lâu năm, kỵ sát sanh hại vật, nhưng vào thời trung tướng Nguyễn Khánh làm quốc trưởng, sư nầy dùng áp lực với khối Phật Giáo sau lưng mà buộc tướng Khánh phải” giết” ông Ngô Đình Cẩn, đứa em út của tổng thống Ngô Đình Diệm, hành vi nầy cũng như Việt Cộng hay bất cứ kẻ bất lương nào, thế mà có người chấp tay vái lạy, tôn kính hơn cả cha mẹ. Tu khó lắm, nên Đức thầy Huỳnh Phú Sổ, vị sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo có câu:” Thứ nhứt là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thư ba tu chùa” và để khuyến tu, Ngài có câu:

” Tu không cần lạy cần quỳ.
Ngồi đâu sửa đó, vậy thì mới nên”.
      Chùa, ở chùa, mặc áo cà sa, cạo đầu, ăn cơm bá tánh, biết đọc kinh cầu siêu, tứ thời, thuyết pháp và cũng biết cách làm Business qua dịch vụ tụng kinh cho các đám tang để cầu nguyện cho các Phật tử quá cố được” lên Niết Bàn” với số tiền” chặt đẹp” ( Charge- đẹp), và thân nhân người  chết cũng phải” tiêu diêu nơi miền hãng xưởng” để có đủ tiền trả cho sư tụng kinh, làm tiền rất nhẹ nhàng và sáng tạo nhờ những kinh sách của đạo Phật. Những người THAY MƯỢN thiền môn làm THƯƠNG MẠI cũng chưa chắc gì là người tu. Vì ở mọi thời đại, đều có những kẻ” mượn đạo tạo đời”. Do người đời còn quá nhiều tội lổi, đam mê, mà trong những đứa con Phật, có thứ tu sĩ THÍCH ĐỦ THỨ và tệ hơn là công an giả dạng là tu sĩ THÍCH VIỆT CỘNG, từng gây bao hệ lụy cho uy danh đức Phật và đạo Phật mà vẫn” an nhiên tự tại” trong cái” thanh tâm trường an lạc”, chỉ bị tiếng đời dị nghị và sau đó, thời gian là thuốc xóa sạch những điều xấu xa; trong khi đó bên Công Giáo, các linh mục lạm dụng tình dục thì bị giáo dân, nạn nhân truy tố, thưa kiện và chính đức giáo Hoàng cũng phải xin lổi, giáo hội phải bồi thường. Nhưng với những tu sĩ Phật Giáo, lén lúc quan hệ tình dục, có cả” nghiệp báo” là có con đùm đề, làm nhiều chuyện trái với đạo lý, phạm giới…có ai đưa ra tòa đòi bồi thường, sư vẫn” thoải mái hành đạo” tiếp tục lừa đảo thế gian, Phật Tử cho đến mãn phần được gọi là” viên tịch” và các chùa khác, đệ tử đọc kinh cầu siêu, ghi công đức” cao dày”, nên trong bài ca Tôn Tẩn Giả Điên, Út Trà Ôn ca rằng:” biết đâu những kẻ lừa thầy phản bạn, thường hay giả dạng kẻ nhân từ”.

       Luật Nhân-Quả và Luân-Hồi của Phật Giáo rất thâm sâu, uyển chuyển, nếu áp dụng đúng thì là cách răng đời” làm lánh lánh dữ” như quyển” Hồi Dương Nhân Quả”. Tuy nhiên, ở đời nầy có nhiều kẻ áp dụng và giải thích lệch lạc nên sinh ra nhiều nghiệp báo, hệ lụy:

Nhiều người sanh lòng bỏ vợ già thì cho là” duyên nợ đã hết”, và về Việt Nam bảo lãnh vợ nhí, đáng tuổi con cháu mình thì cho là:” kiếp trước có nợ duyên”, mình không thương người ta thì:” mang tội với Trời Phật”. Có kẻ lấy vợ nhỏ mà vẫn” an nhiên tự tại” bảo với vợ là ” do ông trời đặt để”, nếu vợ là người Phật tử thuần thành, cũng đành chấp nhận cái luật nhân quả, luân hồi, không phản ứng, ly dị, chia của, dù trong lòng tức tối, phải chịu đựng để” trả quả” cho kiếp trước.

Các sư cũng áp dụng luật nầy để thoải mái”quan hệ tình dục” với người khác phái, lòng vẫn” thanh tâm trường an lạc” cho là: kiếp trước có duyên nợ, có vay nợ với nhau, cho nên người phụ nữ có quan hệ với” sư” cũng đành chấp nhận nếu có” con” với nhau. Để bảo vệ cái căn quả nầy, người phụ nữ cũng phải ráng chịu” nuôi con” để trả quả do kiếp trước có vay mượn với nhau. Thế là các phụ nữ nín thinh, không lên tiếng tố cáo với cảnh sát ( kể cả bị xâm phạm tình dục), nên các sư Phật Giáo thường được an toàn cho đến khi” viên tịch”, rồi sau đó mới lòi ra” thẩy chùa con” là coi như” trả quả” cho kiếp trước.

    Trước năm 1975 ở miền Nam, lợi dụng thể chế chính trị tự do, quỷ đỏ Cộng Sản xâm nhập và cửa chùa, là cứ địa an toàn, dễ nhất; lý do là ai muốn đi tu, chỉ cạo đầu, mặc áo cà sa là được danh hiệu” THẦY”, dù người đó ít học, dốt, cũng được các Phật Tử có bằng cấp cao, bác sĩ, kỷ sư, giáo sư, tiến sĩ….phải chấp tay cung kính là” Thầy” mà không cần đắn đo.

Ngay cả những ông tướng trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, đi đâu cũng có quân cảnh hộ tống, trước phòng làm việc có lính gác, thế mà vẫn cung kính với các thầy; thế nên thời đó có câu tục ngữ:” NHẤT ĐĨ, NHÌ SƯ, TAM CHA, TỨ TƯỚNG”. Đó là cái tập quán” trọng Phật kính tăng” một cách máy móc, nên Cộng Sản dễ lợi dụng, hoạt động từ khi miền Nam chưa mất cho đến nay. Điển hình là vụ biến động Phật Giáo miền Trung 1966 do thượng tọa Thích Trí Quang cùng với một số tên Việt Cộng nằm vùng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Ngọc kha, Võ Đắc Xuân… phát động; nhờ các tướng Phật Tử như trung tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lịnh quân đoàn 1, chuẩn tướng Nguyễn Xuân Nhuận, tư lịnh sư đoàn 1″ kính tăng” và nghe lời tăng hơn cả cấp trên của mình..

     Chùa là cái thiện về hình thức, nhưng người trong chùa không thiện, huề thượng Thích Tâm Châu ghi lại trong quyển Bạch Thu phát hành ngày 1 tháng 1 năm 1994 tại chùa Phật Quang, Úc Châu: vào tháng 7 năm 1966, sau chuyến đi từ Tích Lan, Mã Lai, Singapore trở về Saigon, đến Việt Nam Quốc Tự, vừa bước chân vào văn phòng Việu Hóa Đạo thì thấy biểu ngữ nền vàng chữ đỏ căng với hàng chữ:” Muốn quần chúng tuân theo kỷ luật thì phải tuân theo quần chúng”. Bước chân vào bàn làm việc,  nơi nầy đã có sẵn một chén máu và con dao với tấm giấy đe dọa:” yêu cầu các thượng tọa trong Viện Hóa Đạo không được theo thượng tọa Tâm Châu” (* phần ghi chú về cái chết của Thích Quảng Đức ở cuối bài). Sau 1975 thì chùa càng ít thiện hơn khi đảng Cộng Sản gom thành phần tu sĩ gốc đảng, tu giả, tu trốn lính, vào năm 1981 thành cái giáo hội Phật Giáo Việt Nam, bản doanh là chùa Quán Sứ, Hà Nội với huề thượng Thích Trí Thủ, nghe đâu, vị nầy đã” đắc quả là triệu phú” với số tiền lên đến 250 triệu Mỹ kim.

Từ đó cái ác lan tràn, khống chế các vị tu sĩ chân chính trong giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do huề thượng Huyền Quang, Quảng Độ lãnh đạo. Vụ án Già Lam cũng là” khổ nhục kế” tinh vi, được dàn dựng khá công phu, một thời làm chấn động lương tri, do bọn ma quái” Cộng Sản” dựng lên để đưa những” con quỷ dữ” vào phá giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong nước; được biết cái vụ án Già Lam làm chấn động trong nước và thế giới, nhất là tại các cộng đồng người Việt tỵ nạn, lúc đó người ta lầm tưởng là các tu sĩ Tuệ Sĩ, Trí Siêu…là những người chân chính, dám can đảm đứng lên chống lại đảng Cộng Sản vô thần để bảo vệ đạo pháp. Tuy nhiên, hai ông nầy đã” báo trước” mà nhiều người không hay, lúc kêu án tử hình, thì Tuệ Sĩ cười và vói với Trí Siêu:” mình không chết đâu thầy ơi!”. Có một số người tin là Tuệ Sĩ giỏi về khoa tử vi nên quả quyết như vậy. Thế là ở hải ngoại, các cơ quan truyền thông, tha hồ mà đánh bóng và những đảng phái, tổ chức tích cực vận động…rồi Việt Cộng phải nhượng bộ tha ( SIC), nếu không ai vận động thì Việt Cộng cũng đâu giết những” con gà của họ”, kế nầy thật nhịp nhàng và có bài bản. Nhờ thế mà Trí Siêu, Tuệ Sĩ trở thành” biễu tượng đấu tranh” là tù nhân lương tâm, nhất là tay Thích Trí Siêu là người ngạo mạn, với cái gọi là” Giấc Mơ Trường Sơn”, hắn còn lếu láo:” ai không biết chữ Hán, không phải là người Việt Nam”, bị công tử Hà Đông vạch mặt vào thời đó, nên không ai lưu ý, cũng dám có người bực bội vì dám phê phán cả thần tượng của họ.

      Chùa không còn là cái thiện khi mà công an, cán bộ đảng vô thần xâm nhập đánh phá, trong nước thì chùa biến thành nơi” quan trường” ai muốn tu phải có giấy phép, tu sĩ muốn có chỗ tu” tốt” cũng phải lo tiền, những người có quan hệ với đảng, công an, cán bộ được ưu tiên tụ hành ở những ngôi chùa lớn, còn không phải là” đỉnh cao trí tệ tăng ni” thì bị bức hại, đuổi đi, tù đài. Ngày nay quí thầy dùng bia, rượu thay trà, ăn thịt ca thay đồ chay và cũng trở thành tông phái TU ÔM theo Thiền TIẾP HIỆN của sư ông, sáng lập THÍCH NHẤT VẸM, nên tu sĩ biến” cõi đời thành cõi sướng”. Hải ngoại, thì những tu sĩ thuộc Mặt Trận Tổ Quốc mới được xuất ngoại làm công tác tông giáo vận từ hàng chục năm qua như Thích Thanh Từ, Thích Thông Kinh…và gần đây là” trí thức Phật Giáo” đại đức, tiến sĩ Thích Nhật Từ. Hắn tên thật là Trần Ngọc Thảo, sinh ngày 1 tháng 4 năm 1969 tại Saigon, cha là cán bộ Cộng Sản, biên chế sang Mặt Trận Tổ Quốc, năm mới 23 tuổi nà đã tu hành tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trở thành ” sư trụ trì chùa quốc doanh” hiệu là chùa GIÁC NGỘ, số 92 đường Nguyễn Chí Thanh, phường 3, quận 10 thành Hồ. Hắn xâm nhập vào đất Mỹ từ lâu qua” con đường chùa ta đi” do một số Phật tử” tỵ nạn quốc gia, rước ma sư Cộng Sản”, chứ không phải mới đây.

Dựa vào” phương án” dịch Kinh Đại Tạng,” tên Thích Nhật Từ cung thỉnh hai tên” Tuệ Sĩ và Trí Siêu làm ” chủ trì”, từ đó ở hải ngoại có một tổ chức mang tên:” Hổ Trợ Dịch Đại Tạng Kinh” được một tu sĩ tên là Thích Nguyên Siêu, trụ trì chùa Phật Đà ở San Diego ( nam Cali), cùng với cư sĩ Huỳnh Tấn Lê ( Tổng Hội Cư Sĩ Orange County) về tài chánh và hai vị” chán tu” bỏ chùa hoàn tục khác có pháp danh là Nguyên Lương và Đức Hạnh; tổ chức nầy gây quỷ liên tục suốt 3 năm nên bè nhóm Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Nhật Từ tha hồ mà tiêu pha” tiền chùa” được quyên góp từ mồ hôi của các Phật Tử” thuần thành” đóng góp. Kinh Phật, nhất là kinh Đại Tạng rất nhiều bộ, nhưng người ta tự hỏi:” dịch kinh để làm gì?” với công trình ròng rả cả hàng chục năm, có khi phải dịch cả đời mà vẫn không xong, hao tốn công, tiền; mặt khác, liệu các tay dịch thuật nầy có đủ trình độ để hiểu và dịch đúng theo tinh thần của tác giả các” đại tạng kinh” không?…với hàng chục ngàn trang giấy dịch bí hiểm văn tự; dịch kinh chỉ để trong kệ” tàng kinh các” cho bụi đóng và thỉnh thoảng lau chùi, làm cảnh, chứ Phật Tử ít khi nào đọc; họa hoằng lắm, mới có vài vị” thâm kinh” tới tìm vài câu để viết sách cho mình, hay tra cứu vài tài liệu. Tuy nhiên cái hiện tượng các sư muốn” phô trương” cái sở học uyên thâm” Hán, Phạn” với các học vị” tiến sĩ” tốt nghiệp ở Ấn Độ, Nhật Bản, nên mới bài ra trò” dịch kinh” để lòe thiên hạ mà thôi. Thật ra muốn áp dụng tư tưởng Phật, chỉ cần đọc và hiểu rõ quyển Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân là tạm đủ trong” đại hùng, đại lực, đại từ bi” hầu đối phó với ma quái, xử thế, tu học, chớ cần chi những bộ Tạng Kinh nầy. Con nít ngày nay chỉ cần mua DVD bộ phim nầy cũng thấm nhuần triết lý Phật Giáo:

” Phô trương bằng cấp, dịch Tạng Kinh.
Chứng tỏ ta đây, chữ đầy mình.
Ngàn năm lưu trữ, pho sách quí.
Vạn trang khai mở trí thông minh.
Sư qua Ấn Độ làu tiếng Phạn.
Thầy thuần Hán học, rộng tầm nhìn.
Hao tiền, lại bỏ nhiều công sức.
Có ích lợi gì cho chúng sinh?”
      Tên sư Việt Cộng Thích Nhật Từ kết thân với sư Thích Chân Thành, trụ trì chùa Liên Hoa, đường Bixby, Garden Grove ( Nam Cali) nhân chuyến sư nầy hành hương ở Ấn Độ, từ đó móc nối, nên sư Chân Thành trở thành người ủng hộ đắc lực cho tên” sư công an Tôn Giáo là Thích Nhật Từ” từ dạo ấy. Từ năm 2004 Sư Chân Thành lợi dụng cơ sở tôn giáo để bảo lãnh Thích Nhật Từ đến Hoa Kỳ lần đầu, cư ngụ tại chùa Liên Hoa và sau đó được giới thiệu với sư Chơn Lễ tại Texas nhằm thuyết pháp và cư ngụ, gây uy thế để mở rộng tầm hoạt động tôn giáo vận trên đất Mỹ qua cửa Phật. Nhắc lại lúc cụ Nghiêm Xuân Hồng còn sống, nhóm Liên Hoa không mời Thích Nhật Từ thuyết pháp; nhưng sau khi cụ Hồng qua đời, cựu trung tá pháo binh quân đoàn 2 thuộc quân lực VNCH, pháp danh là Mật Nghiêm, tục danh Đăng Nguyên Phả, với tư cách hướng dẫn đạo tràng, tiếp tay với sư Chân Thành tổ chức thuyết pháp hàng tuần. Sau nầy chính trung tá Phả hợp lực cùng với Huỳnh Tấn Lê thành lập nhóm Phật Học lấy tên là Đuốc Tuệ, chuyên dành cho Thích Nhật Từ thuyết pháp tại trường Mc Gavin, đường Bishop, gần khu Phước Lộc Thọ một cách công khai; các buổi” hoằng pháp chất lượng cao” nầy được phát thanh trên đài Tiếng Nói Hương Sen, ngoài ta còn ấn hành cả CD, DVD do Thích Nhật Từ thuyết pháp, phát không cho Phật tử nhằm tuyên truyền và tạo thế đứng của hắn tại Hoa Kỳ. ( tài liệu trên Nam Úc Tuần Báo, số 658, phát hành 22-8-2008).

      Đây là một vài thí dụ điển hình về con đường xâm nhập an toàn của Cộng Sản qua cửa ngỏ Phật Giáo, với” cửa chùa rộng mở” thu nhận cả ma quái vào; chính nhờ những Phật Tử thuần thành, không phân biệt chánh tà, thấy ai mặc áo cà sa, nói năng như phật” nhưng không phải Phật”, nhất là sư nào có bằng TIẾN SĨ PHẬT GIÁO tốt nghiệp từ Ấn Độ ( nơi Đức Phật sinh ra) thì là cao siêu, là lời nói rất” chất lượng” để giúp mình giác ngộ sớm, về bến giác mau. Trọng Phật là đương nhiên, nhưng” kính tăng” thì nên coi lại, hảy cẩn thận:” đừng nghe những gì thầy chùa thuyết pháp, mà hảy nhìn kỷ những gì thầy chùa làm”. Cái gương của Tam Tạng trong Tây Du Ký, nhiều lần quỳ lạy ma quái giả Phật, xuýt bị xơi tái; cũng có nhiều lần Tam Tạng mù quáng, không nghe lời Tôn Hành Giả, trái lại còn niệm chú xiết vòng kim cô không phân biệt chánh tà.

Nhờ có quá nhiều Tam Tạng thời đại, nên Việt Cộng mới xâm nhập vào chùa an toàn từ thời trước 1975 ở miền Nam, nay lan ra hải ngoại, bài học cũ, thế mà nhiều người vẫn chưa thấm, cứ nhắm mắt đi theo” sư Việt Cộng dẫn Phật Tử mù quáng, đi theo tấm bản chỉ đường của đảng” qua các” tên công an mặc áo cà sa”. Một tập quán khác cũng rất nguy hiểm là: Phật tử có lối suy tư” mặc kệ nó”, tức là:” ai làm bậy thì có trời Phật biết”, mình không làm điều sai là không sợ; nên mình đi chùa để lạy Phật, cúng dường, dù biết chùa là của Việt Cộng lãnh đạo bên trong, sư là công an trá hình…. đó là những nguyên do tạo điều kiện cho các sư xấu, kể cả công an đội lớp tu sĩ có nơi hoạt động, nuôi dưỡng ma quái mà tưởng là làm việc thiện.

    Trong nước Phật Giáo đã bị cơn đại pháp nạn, khốn đốn hàng mấy thập niên qua kể từ khi có mặt đảng Cộng Sản vô thần do tên đại quốc tặc Hồ Chí Minh lãnh đạo. Ở hải ngoại, bàn tay quỷ đỏ đang vương ra, núp bóng Phật Đà, lợi dụng Phật tử, phát triển rộng khắp nơi, nên hiện tượng CHÙA MỌC LÊN NHƯ NẮM ở các cộng đồng tỵ nạn, con số chùa của người Việt tỵ nạn lên đến con số hơn 300, nghe qua chóng mặt và ngày nay đang có thêm nhiều ngôi chùa mới nữa, với sư mới, trẻ măng, nói nang dịu dàng, toàn là lời trong kinh, hàng tuần hay tổ chức nấu ăn đồ chay miễn phí để chiêu dụ, chùa giàu có cả xe bus để chở những người già, bịnh tật không lái xe đến chùa, ràng buộc hụi hè, giúp đỡ những Phật tử nào có vốn muốn về Việt Nam kinh doanh qua các sư từ trong nước quen biết với chính quyền, thỉnh thoảng mời sư ở Việt Nam sang thuyết pháp và” hoằng hóa” chúng sanh, chùa cũng có thể là nơi” chuyển tiền” về Việt Nam với huê hồng thật rẻ, là nơi giới thiệu hôn nhân” thiệt-giả”, móc nối đủ thứ; có thể nói là; cửa chùa ngày nay sinh hoạt” đa hệ” chớ không thuần túy chi tu học, giải thoát; một số Phật tử còn có tấm lòng từ bi, bảo trợ một số sư từ Việt Nam sang, trở thành tam cùng” cùng ăn, cùng ở, cùng tu”; nhưng sư nào đi xuất ngoại dễ dàng là điều ai cũng nhìn thấy, khỏi cần dùng kiếng chiếu yêu, hay là có trình độ văn hóa cao mới nhận biết.

Việt Cộng vẫn dùng cửa thiền môn xâm nhập, nên các sư nào xuất ngoại như đi chợ, được đi dân sang các nước để” tu học” đều là người của Việt Cộng cả, là thứ” công an, gián điệp tôn giáo” rất nguy hiểm. Việt Cộng thất bại nhiều mặt trận hải ngoại: trí vận, kiều vận, kinh tài vận….nhất là cái nghị quyết 36 càng lộ mặt nhiều cơ sở nằm vùng, do đó mặt trận tôn giáo, được cơi là cửa ngỏ an toàn xâm nhập và đánh phá qua vụ Hồng y Phạm Minh Mẫn, đại đức Thích Nhật Từ. Do đó, con đường xâm nhập từ chùa là an toàn, nên có thể là Việt Cộng dùng hình thức RỬA TIỀN bằng cách lập ra nhiều ngôi chùa, dùng một số Phật Tử địa phương làm cơ sở để che mắt; khi cất chùa xong là lấy tư cách để bảo lãnh sư từ Việt Nam sang qua diện tôn giáo, các tu sĩ tạm thời” núp bóng từ bi” để hoạt động, học hành, sau khi lấy bằng tiến sĩ, KỶ SƯ thì để tóc dài và trở thành CƯ SĨ, âm thầm biến mất trong dân chúng, cứ thế mà phát huy, tăng nhân số, hoạt động cho đảng, sau cùng là con số nằm vùng gia tăng, hợp với du học sinh, khuynh tả, có làm ăn với Việt Nam vận động” hòa hợp hòa giải”, công khai treo cờ đỏ khi họ đông dân, lập ra cộng đồng mới với các Phật tử mù quáng yểm trợ, mở rộng các tổ chức từ thiện với nhiều mục đích: giúp dân nghèo trong nước, sửa chửa chùa, xây chùa….

 Hiện tượng chùa mọc” không người lái” tại nhiều nơi ở hải ngoại là điều cần cảnh báo, nếu không thì bài học cũ trước 1975 ở miền Nam được lập lại. Cho nên, trước mắt là Phật tử nên cẩn trọng, nhất là các sư ở Việt Nam sang dễ dàng, chiếc áo không thành nhà tu là thế. Để đối phó, khi nhìn thấy chùa có những điểm khả nghi như có nhiều sư ở Việt Nam sang thuyết pháp, sinh hoạt…thì tránh đi chùa đó, kế đến báo với sở thuế để họ xem xét những món tiền lớn ở đâu mà có để mua đất, xây chùa hàng triệu đồng….nên nhớ là luật thuế vụ các nước dân chủ rất minh bạch, bất cứ ai đi làm cũng khai thuế và đóng thuế; ngay cả các cơ sở cộng đồng người Việt Tự Do ở Úc Châu, dù được chính phủ tài trợ hàng năm, nhưng vẫn phải khai thuế. Chùa cũng là cơ sở thu-nhập tiền, có quan hệ đến nhiều người, thì cũng phải đóng thuế mới công bằng; hy vọng sở thuế các nước dân chủ sẽ tìm ra được những” triệu phú đầu trọc” ở hải ngoại, là những người” tu nhất kiếp giàu nhất thời”, không làm mà giàu xụ, kể cả những số tiền bất chánh từ đảng và nhà nước muốn dùng chùa để đầu tư và rửa tiền. Khi sở thuế khám phá ra những điều bất thường về tài chánh, với số tiền lớn xây chùa, tức nhiên là chính phủ sẽ mở cuộc điều tra về nguồn gốc số tiền ấy, có khả năng tìm ra được” bọn gián điệp” rửa tiền bằng cách lập ra các chùa và từ đó tạo thành cơ sở an toàn, hoạt động có lợi cho đảng và nhà nước Việt Cộng.

    Người Việt tỵ nạn chân chính nào cũng không ưa bọn công an, cán ngố…ngay từ trong nước. Tuy nhiên đã bỏ nước ra đi, mà vẫn chấp tay” vái chào cung kính” công an, cán bộ tôn giáo vận mặc áo cà sa, thì quả là chuyện nghịch lý. Chẳng lẽ tượng của tên quốc tặc Hồ Chí Minh được Dũng Lò Vôi khoát áo cà sa, hay ngồi chung với Phật, Hùng Vương, thì người Phật tử thuần thành cũng quỳ lạy hay sao?./.

(*)

Ghi Chú:

     Vụ tu sĩ Phật Giáo Thích Quảng Đức tự thiêu vào ngày 11 tháng 6 năm 1963 tại ngả tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt vẫn còn nhiều nghi vấn. Chính cái vụ tự thiêu nầy, làm cho Phật Tử càng ghét chính phủ Ngô Đình Diệm thêm, nên 5 tháng sau thì trung tướng Dương Văn Minhhợp với tướng Phật giáo Đổ Mậu, mới gom các tướng tá đón gió đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, giết tổng thống và bào đệ Ngô Đình Nhu.

    Vụ Thích Quảng Đức tự thiêu được báo chí miền Nam ca tụng là” trái tim bất diệt” vì toàn thân xác thành tro, chỉ còn trái tim và được giới tu sĩ coi là đắc quả, ngày nay có một số ngôi chùa lấy pháp danh vị sư tự thiêu. Người Viết tình cờ được biết một số chi tiết trong vụ nầy, xin được nêu lên với tinh thần đóng góp, không có ý đã phá tôn giáo, nhằm tìm ra sự thật. Số là năm 1977 bị giải từ trại tù Khám Lớn Bạc Liêu lên trại tù quân khu 9 là Chi Lăng, ở liên đội 3, thuộc Liên Trại 3, ở nhà số 4. Kế bên là nhà số 2, gồm một số sĩ quan cấp đại úy, trong đó có đại úy LÊ VĂN LÂM, là sĩ quan tuyên úy Phật Giáo sư đoàn Dù, nên chúng tôi gọi là” Thầy Chùa Lâm”. Trong một lần hợp tổ, anh Lâm có nói về vụ Thích Quảng Đức tự thiêu, được một số anh em bên nhà 2 kể, sau đó tôi có hỏi khi anh Trịnh Tiến Bình (đại úy ở cùng nhà với anh Lâm), sau đó tôi có gặp thầy chùa Lâm, được xác nhận là sự thật, xin được nêu lên như sau:

    Tụ thiêu là do bốc thăm, chớ không phải tình nguyện, người trúng thăm tự thiêu là thượng tọa Thích Nhật Thường ( tục danh là Lê Văn Sua), là thân phụ của đại úy Lê Văn Lâm. Nhưng ông Lê Văn Sua nầy có vợ, cái đêm cuối cùng, nghe lời vợ, trốn khỏi chùa, sáng hôm sau, tới giờ” hành động”, không tìm đâu ra người tự thiêu, nên Thích Quảng Đức là người hy sinh. Không rõ là do tình nguyện hay là trong ban tổ chức dùng thuốc mê cho uống và bắt ra đốt? Vì thời đó khối Phật Giáo Ấn Quang có Việt Cộng nằm bên trong, hù dọa cả thượng tọa Thích Tâm Châu bằng chén máu, con dao trên bàn làm việc, thì mới biết tình hình đàng sau chánh điện tệ hại như thế nào… đó là câu nghi vấn cần được giải tỏa. Có thể Thích Quảng Đức bị chết oan do những người Cộng Sản gây ra trong chùa, nên sự oan ức nầy khiến trái tim không cháy? Xin được đưa ra cho rộng đường dư luận, vì nghe viết chỉ nghe từ một tu sĩ Phật Giáo.

http://tinparis.net/vn_index.html

Suc Vat Ho Chi Minh: Hoa Mu Bao Quanh Ten Dai Quoc Tac Ho Chi Minh

HỎA MÙ BAO QUANH TÊN ĐẠI QUỐC TẶC HỒ CHÍ MINH.  – TRƯƠNG MINH HÒA. –

http://vn.myblog.yahoo.com/30-4/article?mid=41&prev=-1&next=40

Thien Chua Giao Truoc Muu Do Danh Pha Tham Doc Cua Quy Do Satan Viet Cong

THIÊN CHÚA GIÁO TRƯỚC NHỮNG MƯU ĐỒ ĐÁNH PHÁ THÂM ĐỘC CỦA QUỶ ĐỎ SATAN VIỆT CỘNG.

–  TRƯƠNG MINH HÒA.

Xin được xác nhận, người viết bài nầy không phải là một tín đồ Thiên Chúa Giáo, đây là những nhận định cá nhân, dựa vào những sự kiện lịch sử và diễn biến tại Việt Nam, nhất là từ ngày có đảng Cộng Sản trong tinh thần trung thực.
” Vinh danh Thiên Chúa Trên Trời.
Dưới thế Cộng diệt, cho đời bình an”

     Tất cả mọi tôn giáo hiện hữu trên thế giới đều có mục đích hướng thiện, làm lành, lánh dữ, giúp cho xã hội giảm tội phạm, ảnh hưởng đến đời sống con người; do đó tôn giáo mặc nhiên mang ý nghĩa” làm chính trị chánh đạo” nên thường được chính phủ từ phong kiến, ngay cả thời thực dân cai trị, các nước dân chủ tôn trọng; nên các vị chức sắc tôn giáo được gọi là” lãnh đạo tinh thần”, những ai cho” tôn giáo phi chính trị” là không biết gì về tôn chỉ của các tôn giáo trong việc đóng góp vào đời, hoặc là những kẻ cố tình né tránh hai chữ” chính trị” để thực hiện những mưu đồ đem tối, trốn tránh trách nhiệm với đời, đạo, đất nước, dân tộc.

Chỉ trừ các nước theo chế độ Cộng Sản thì tất cả tôn giáo đều bị trù dập bằng nhiều thủ đoạn gian manh, xảo trá đươc thực thi qua các chính sách trù dập, đàn áp qui mô, có hệ thống, có bài bản, theo sự giáo dục của tổ Cộng Sản là Karl Marx:” tôn giáo là thuốc phiện”, được áp dụng uyển chuyển tùy theo từng tên đảng viên, cán bộ, mỗi đảng Cộng Sản ở các nước khác nhau; nhưng mục tiêu chung vẫn là: tiêu diệt hết, tận gốc tất các tôn giáo, đoạn thay vào đó bằng thứ” tôn giáo vô thần” là đảng Cộng Sản; theo đó nhưng tên ác quỷ, quỷ vương đỏ như Lenin Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Fidel Castro…trở thành thần thánh, Tiên Phật và Karl Marx đương nhiên là” Ngọc Hoàng Thượng Đế”, tức là ông Trời râu xồm” sanh sau đẻ muộn” nầy. Người Cộng Sản dùng đường lối duy vật kết hợp với bạo lực để nắm cuốn bao tử nhân dân, như các cuộc thí nghiệm của khoa học gia Nga là Pavlov, khi con người trở thành nô lệ của miếng ăn, do chính sách bao cấp lương thực, hộ khẩu, cửa hàng quốc doanh…từng gây điêu đứng cho dân miền Bắc sau 1954 và những năm đầu tiên tại miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975; nhiều tên cán ngố Việt Cộng đã tự hào về lối” duy vật” thành công, nên bảo với người dân rằng:” ông Phật, Ông Trời, Jesus không cho nhân dân cơm, gạo, các thứ trong đời sống, chỉ có đảng và Bác mới cho, ai hơn ai?”. Như vậy, đương nhiên là: trời, phật, chúa…không ai cấp hộ khẩu, tem phiếu cả…nhưng đáng lẽ các thứ ấy do con người làm ra và hưởng xứng đáng với công sức, thì bị đám ăn cướp Cộng Sản tướt đoạt và phân phát lại  một phần rất nhõ để cho nhân dân tạm sống, lấy sức để làm nô lệ, phục vụ cho lũ người bất lương, mạo danh” cách mạng” nầy. Một số tên cán bộ từ miền Bắc vào Nam sau 1975 còn nhi nhô rằng: có một số nhà báo thuộc hãng thông tấn AFP hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh:” ông nghĩ gì về Phật Thích Ca, Chúa Jesus…?”, tức khắc, nói khỏi cần động não, Hồ Chủ Tịch đáp ngay: ” Hai ông ấy không có lao động vinh quang, là những người ăn không ngồi rồi, vô tích sự..”

     Trong các tôn giáo tại Việt Nam, đặc biệt đối với Thiên Chúa Giáo, dù đến Việt Nam không lâu so với các tôn giáo lâu đời như Khổng, Lão, Phật, nhưng người Cộng Sản coi Thiên Chúa Giáo là kẻ thù đáng ngại trong số các tôn giáo; có thể nói là từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh, đàng trong, chúa Nguyễn, như thời Nguyễn Phúc Chu cũng đã làm quen với các giáo sĩ từ các nước Âu Châu đến truyền giáo, giao thương. Tuy nhiên, sau khi Công Giáo vào Việt Nam phát triển, được nhiều người theo, làm cho giới thầy cúng, thầy tụng, thầy pháp, bùa ngãi, với tâm địa hẹp hòi, cảm thấy bị mất quyền lợi, nên gây ảnh hưởng, áp lực với triều đình Huế, mà đa số các quan lại, vua chúa đều là tín đố các tôn giáo lâu năm, cộng thêm tinh thần hủ lậu, đưa đến việc cấm đạo gay gắt, khiến hàng trăm người tử vì đạo, hàng ngàn người trốn tránh trong rừng để bảo vệ đức tin, nên thánh địa La Vang là nơi từng ghi dấu những bước chân của hàng ngàn tín đố Thiên Chúa, chịu đói, khổ để bảo vệ đức tin.

     Ngay trong nội địa Việt Nam, không phải bất cứ đạo mới nào xuất hiện cũng được các thành phần hẹp hòi của các tôn giáo lâu đời chấp nhận, cho sinh hoạt hài hòa trong xã hội với tinh thần” đạo ai nấy giữ” tín ngưỡng ai nấy theo; nhưng bản tánh ganh tỵ, tranh giành ảnh hưởng, tín đồ, quyền lợi, là nguyên do đưa đến những hậu quả không tốt trong vấn đề sinh hoạt tôn giáo tại vùng đất đa tôn giáo, được nhiều người tự hào gọi là” tam giáo đồng qui” với” Phật-Khổng-Lão”. Nên tại Việt Nam, những thầy đạo bình thường như Đạo Dừa, Đạo Vuốt, Đạo Xôi, Đạo chuối….không mấy ảnh hưởng đến quyền lợi, thế nên các thầy cúng, thầy tụng thầy pháp…làm thinh, không ngán, để yên cho họ hành đạo theo cách riêng.

Tuy nhiên, nếu có vị nào lập đạo, tạo được nhiều ảnh hưởng như Đức Phật Thầy Tây An, tên thật là Đoàn Minh Huyên, khai sáng ngành đạo” Bửu Sơn Kỳ Hương” là bị đám người với danh hiệu tu sĩ nhưng bản tánh hẹp hòi ganh ghét, báo cáo, vu khống, gây áp lực với triều đình, quan quyền địa phương để dẹp, hầu cho họ được độc quyền truyền đạo, tiếp tục làm ăn; do đó chuyện Đức Phật Thầy bị quân lính bắt, giải vào khám lớn ở Rạch Giá, sau đó, thấy Ngài xuất hiện ở chợ sau khi bị nhốt, khiến quân lính triều đình kinh hồn, không còn coi là” gian sư” như lời tố cáo, dèm pha của các chức sắc tôn giáo khác nữa; nhưng triều đình không dám cho Ngài tự do hành đạo, đưa Ngài vào phái Trúc Lâm cho dễ kiểm soát, tuy nhiên Ngài không cạo đầu quy y, thuần phục như những người xuất gia bình thường, vì các chức sắc chùa Tây An không đủ tư cách để làm tôn sư của Ngài, vì hoàn cảnh phải vào chùa, sau đó trở thành môn phái Bữu Sơn Kỳ Hương.

      Đạo Thiên Chúa từ phương xa đến truyền giáo, bị trù dập, đàn áp dã man dưới triều đình nhà Nguyễn là điều khó tránh khỏi; do tác động, ảnh hưởng của các tín đồ thiển cận của các đạo kỳ cựu như Phật, Khổng, Giáo, Lão, vốn ăn sâu vào sinh hoạt xã hội, đời sống tâm linh. Sau năm 1884, người Pháp đem quân xâm chiến nước Việt Nam vì chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình Huế, cùng thời kỳ ở Nhật, Minh Trị Thiên Hoàng hiểu được thời thế nên mở cửa, canh tân đất nước, nên nước Nhật thoát khỏi vòng đô hộ của các nước thuộc địa Âu Châu. Sự có mặt của quân Pháp ở Việt Nam làm tăng thêm tính ganh ghét, kỳ thị của những đầu óc thủ cựu, bọn thầy cúng, thầy pháp, thầy bùa….hẹp hòi, được kích động qua” lòng yêu nước”, tạo thêm hố sâu chia rẻ, di căn đến ngày hôm nay; dù Công Giáo được công khai truyền đạo, song hành với các đạo khác, nhưng sóng ngầm vẫn âm ỷ, đợi thời cơ bùng phát.

Thực Dân Pháp với đoàn quân viễn chinh gồm quân lính, giới chức…phần đông là người theo đạo Thiên chúa, nhưng không phải như lối suy nghĩ nông cạn, đầy định kiến, lệch lạc là:” đạo Thiên Chúa xâm lược nước ta”; mặc dù Thiên Chúa Giáo mang làn sinh khí mới trong sinh hoạt tâm linh, các linh mục, giáo sĩ là những người học rộng, có khả năng, giúp ích rất nhiều cho các tín đồ và ảnh hưởng đến dân chúng; nhờ Thiên Chúa Giáo với giáo sĩ Alexandre de Rhodes, nên dân tộc Việt Nam thoát khỏi lối viết rất khó khăn, đầy hình tượng của người Trung Hoa, xâm nhập, nằm vùng văn hóa, qua hàng ngàn năm cai trị khắt nghiệt. Chữ quốc ngữ, lấy mẫu tự La Tin, là một đóng góp đáng kể của các giáo sĩ Công Giáo; trong khi đó, năm 1956, tên Cộng Sản cuồng tín Trường Chinh đã từng có” ý đồ” muốn bỏ tiếng quốc ngữ, để dân ta học tiếng Tàu. Cũng với lập luận ngây ngô” chữ viết nầy là tàn dư của chủ nghĩa thực dân Pháp”.

      Bên cạnh những tu sĩ chân chính của các tôn giáo khác có tấm lòng hòa hợp, sống chung trong một xã hội hài hòa, thì Công Giáo bị ganh tỵ, thù ghét từ những kẻ có đầu óc hẹp hòi, ít học, dốt nát, nhưng” tu lâu thành huề thượng, sống lâu thành đạo sĩ..” nhồi nhét những tư tưởng thù hằn đối với Thiên Chúa Giáo, qui chụp là” đạo của thực dân Pháp” gây tình trạng phân hóa, bất ổn ngầm trong xã hội từ thời nhà Nguyễn đến nay. Từ ngày có mặt đảng Cộng Sản vô thần do tên quốc tặc Hồ Chí Minh, du nhập thuyết vô thần, các tôn giáo bị trù dập, nhưng người Cộng Sản gian manh và thâm độc, khai thác sự mâu thuẫn của các tôn giáo khác vốn có nhiều ác cảm với Công Giáo xuất phát từ sự hiểu lầm do những định kiến hẹp hòi, lưu truyền trong dân chúng qua các” nhà lãnh đạo tinh thần” ích kỷ; dựa vào định kiến” bài ngoại, chống thực dân Pháp”.

Lợi dụng, khai thác vấn đề tâm lý nêu trên, đảng Cộng Sản Việt Nam dùng các tôn giáo khác để bao vây Thiên Chúa Giáo và không quên chụp mũ Thiên Chúa Giáo là” đạo thực dân, tại Thiên Chúa là nguyên nhân đưa đến mất nước”…lối tuyên truyền dối trá nầy phát triển mạnh thời gọi là” kháng chiến, đánh Tây giành độc lập” nên thời kháng chiến, vì lý do sinh tồn, an nguy bản thân, mà người Công Giáo phải đoàn kết lại tại các giáo khu, hầu tránh bị tàn sát, ám hại lẻ tẻ bởi người Cộng Sản. Một lý do nữa là Công Giáo có sức mạnh, có hệ thống, giáo luật, hầu hết những nước hùng mạnh Tây Phương đều theo Thiên Chúa.

 Sau năm 1954 ở miền Bắc, Hồ Chí Minh ngán nhất là Thiên Chúa, nên ra sức trù dập, bao vây các giáo khu nổi tiếng như Bùi Chu, Phát Diệm…giam cầm, tù đài các tu sĩ có nhiều uy tín, và đồng thời thu phục các tu sĩ quốc doanh, để khống chế đạo. Do đó, thời kỳ từ 1954 đến 1975, đạo Thiên Chúa ở miền Bắc bị đặt lên hàng đầu, chung với” trí, phú, địa, hào”, cho nên ngay cả việc lập gia đình, đảng Cộng Sản còn tìm cách ngăn cấm cán bộ kết duyên với các tín đồ Công Giáo, trong khi đó các đạo khác không có vần đề nầy; như thế đảng Cộng Sản đã biết được sức mạnh thực sự của Công Giáo và đức tin của các tín đồ.

      Tại miền Nam sau hiệp định Geneve 1954, đảng Cộng Sản phát động cái gọi là” đánh Mỹ cứu nước”, ngoài thù ghét Công Giáo là” đạo của thực dân Pháp”, còn có thêm Đạo Tin Lành, bị chụp mũ là” đạo của đế quốc Mỹ”, nên bọn gián điệp Cộng Sản nằm vùng tại miền Nam kích động ganh ghét giữa Phật Giáo đối với Công Giáo, qua hình ảnh của một số chức sắc thân Cộng, cán Cộng gián điệp nằm vùng trong khối Phật Giáo Ấn Quang, liên tục kích động đánh phá suốt trong cuộc chiến. Trong trận Tổng Công Kích Tết Mậu thân 1968, tại nhiều nơi, nhất là Huế, các linh mục, nhà thờ, là nơi mà bọn Việt Cộng nhắm tới, nên một số giáo sư da trắng ở Âu châu sang dạy học, cũng đã bị tàn sát dã man. Thời đó, những nhóm Phật Tử  bị những tên cán bộ Cộng Sản, tu sĩ thân Cộng, dưới danh hiệu là ” lãnh đạo tinh thần” kích thích hận thù, nên thường hay khiêu khích các nơi có người Công Giáo di cư và những tin đồn nhãm về sự đánh nhau giữa hai phe tôn giáo, gây bất ổn trong xã hội, hậu phương miền Nam, giống như những thành phần núp bóng Hồi Giáo cực đoan ngày nay, kích động hai phe Hồi giáo Sunny và Shia đánh nhau tại Iraq, vài nước ở Trung Đông.

      Sau năm 1975, các tôn giáo đều ” đồng qui” là đàn áp, trù dập dã man, có bài bản, hệ thống. Công Giáo cũng nằm chung số phận, thập thò khuynh đảo có một số ” linh mọp quốc doanh”, vốn từng” phục vụ đảng” chống chính phủ miền Nam như Chân Tin, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần.…càng ngày càng tìm cách ” lái Công Giáo đi theo tấm bản chỉ đường của đảng Cộng Sản vô thần”, nên đảng nhét vào một số” linh mục công an, cán bộ Mặt Trận Tổ Quốc”, dần dần làm suy yếu hệ thống giáo hội. Chính những giáo sĩ” gốc Công An” hay là linh mọp quốc doanh nầy đã thu hút một số con chiên ngoan đạo, bởi vị thế của cha là tôn kính, bất kể là ai, cho nên Việt Cộng thành công bước đầu trong việc dùng các đầu tàu lãnh đạo tinh thần để khống chế Thiên Chúa, là những người dắt con chiên đi theo con chó sói Cộng Sản. Tuy nhiên, sau thời gian dài, những” linh mọp” lộ dần chân tướng ” phục vụ cho con quỷ Satan đỏ Việt Cộng”, nên giáo dân tự động” bất tín nhiệm” và đi theo các tu sĩ chân chính.

 Sau khi cái nôi Cộng Sản quốc tế Liên Sô và toàn thể khối Cộng Sản tiên tiến nhất ở Đông Âu bị sụp đổ, thì đảng Cộng Sản tàn dư như Việt Nam càng lo sợ cho sức mạnh của Công Giáo qua hình ảnh của cây thánh giáo treo trên mũi súng xe tăng của Hồng Quân Liên Sô, thay vì được lịnh đảng đến đàn áp, thì những tín đồ đã quay súng lại, kết thức chế độ độc tài Cộng Sản sắt máu chỉ trong vòng 3 ngày, so với hơn 70 năm xây dựng trên bạo lực. Tại Việt Nam, dù tín đồ Thiên Chúa Giáo không chiếm đa số như Phật Giáo, nhưng đảng Cộng Sản rung sợ trước sức mạnh” vô địch” tiềm ẩn trong đức tin của mọi tín đồ sùng đạo chân chính và bên ngoài có cả một hậu thuẫn quốc tế rộng lớn. Đây là bài học, kinh nghiệm khiến cho bạo quyền Việt Cộng hoảng hốt khi nhìn thấy quan thầy sụp đổ, do chính các đạo phương tây như Chính Thống Giáo ở Nga, càng vững mạnh dù bị trù dập dã man thừ Lenin, Stalin, Breznev….các giáo hội Công Giáo Ba Lan, Nam Tư, Đông Đức…sát cánh cùng nhân dân, triệt tiêu những chế độ Cộng Sản bạo tàn vô thần.

     Sau thời gian dài đàn áp, trù dập, chưa bao giờ đảng và nhà nước Việt Cộng tàn dư run sợ trước sức mạnh của Công Giáo qua tình đoàn kết giữa các giáo hội trong nước và thế giới, ảnh hưởng đến các chính quyền Âu Mỹ, là nơi cung cấp tiền, viện trợ cho Việt Nam để tồn tại được lúc nào hay lúc ấy. Cho nên, tên thủ tướng không người lái, Nguyễn Tấn Dũng, được coi là tên” sát thủ tỉnh Rạch Giá”, khi mới được đảng chỉ định chức vụ nầy vào cuối năm 2007, trong chuyến công du Âu Châu  năm 2008, hắn đến yết kiến đức giáo Hoàng mới là Benedict thập lục, coi là hành động tỏ thiện chí khi suy yếu, trong cái” thoái trào cách mạng” để ” tranh thủ” và chờ thời cơ tiến lên ba bước khi” cao trào cách mạng”. Sau khi thăm viếng, giáo dân đòi đất ở Tòa Khâm Sứ, Thái Hà…thì Việt Cộng đàn áp, tìm mọi cách” trì hoãn kế”, gây trở ngại cho công cuộc lấy lại đất đai, tài sản giáo hội, bị cướp đoạt từ thờì Hồ Chí Minh. Dù rung sợ, nhưng bản chất gian manh, bạo quyền Việt Cộng đã ra tay, biến các nơi tranh chấp thành công viên, nhằm triệt tiêu nơi tranh chấp, bắt bớ giáo dân, đưa ra tòa để” đấu tố” càng gây căm phẩn cho giáo dân; tuy nhiên, đó chỉ là những biện pháp vá víu, Việt Cộng không thể dập tắt ngọn lửa đức tin trong mỗi tín đồ Công Giáo. Cho nên, đối với Việt Cộng, chúng thường áp dụng những cách đánh Công Giáo sau đây:

  • 1-Đối với thế giới: trì hoãn kế:

-Giả vờ bộ mặt” biến cải thiện” để đánh lừa các nước cấp viện Âu Châu, Hoa Kỳ…nhưng trong nước vẫn đàn áp, có khi dùng” bàn tay sắt bọc nhung” pha trộn giữ luật quốc tế và luật rừng để tiếp tục chiếm đất, duy trì quyền khống chế các cơ sở bị” biên chế” thành tài sản của cán bộ.

-Tìm cách vuốt ve Tòa Thánh La Mã qua lối ngoại giao, hứa hẹn, dành một số dễ giải cho Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam ( nhưng đừng nghe những gì Việt Cộng HỨA, hảy nhìn kỷ những gì Việt Cộng làm).

-Dùng thế ngoại giao với La Mã để thương thuyết, hứa, vuốt ve các chức sắc cao cấp tại tòa thánh Vacitan, vì đảng Cộng Sản thừa biết là: các vị lãnh đạo tinh thần Thiên Chúa Giáo tôn trọng” bề trên” nên họ tin tưởng một cách máy móc là” chỉ nói chuyện với về trên là mọi chuyện sẽ được giải quyết, khi lịnh trên ban xuống”.

  • 2-Trong nước:

-Khủng bố, bắt bớ, giam cầm các linh mục chân chính như Nguyễn Văn Lý, bao vây các giáo phận, để triệt hạ mầm mống đòi tự do tôn giáo, đất đai. Cách nầy gây thêm căm phẩn và làm lộ bộ mặt thật của đảng Cộng Sản sau cái gọi là” có tiến bộ về mặt tự do tôn giáo”.

-Tịch thu các cơ sở, nhà thờ, đất đai…biến những nơi nầy thành tụ điểm giải trí, du lịch…nhằm làm giảm giá trị tôn kính của đạo Thiên Chúa. Cho nên, các tu sĩ nhìn thấy mưu đồ đen tối ấy, nên đưa đến những cuộc cầu nguyện suốt trong năm 2008 tại Tòa Khâm Sứ, Thái Hà…khiến Việt Cộng bối rối, áp dụng chiến thuật cũ” vừa đánh vừa đàm” để mua thời gian và tìm cách đối phó. Khi tôn giáo mất dần sơ sở, là coi như Công Giáo bị ảnh hưởng rát nhiều, cho nên sau vụ làm công viên ở Thái Hà, đảng Cộng Sản qua tay của tỉnh ủy Vĩnh Long đang có kế hoạch tịch thu tu viện đã có mặt từ 1897, tức là từ lúc Hồ Chí Minh còn ở truồng, biến nơi nầy thành công viên, là sách lược mới vừa áp dụng ở miền Bắc, có mục đích thâm độc khác là” xóa bỏ dần các di tích mang tính cách lịch sử của các tôn giáo”; đây được coi là một phần trong cái gọi là” cách mạng văn hóa” thời Mao, ở Hoa Lục, được tái áp dụng tại Việt Nam vào thế kỷ 21 ( cũng có thể do quan thầy Trung Cộng chỉ vẽ?).

Đó là chính sách vô cùng thâm độc, dần dần tiến chiếm thêm nhà thờ, đất giáo hội, di tích lịch sử thành công viên trồng cỏ vô ích, nhưng thực hiện với danh nghĩa” vì lợi ích công cộng” hay là” vì lợi ích nhân dân” là hành vi khiêu khích trắng trợn, có chủ đích, được coi là” cao trào tấn kích” vào thành trì của Thiên Chúa giáo tại Việt Nam. Nếu bảo là” vì lợi ích nhân dân” thì cái Lăng chứa xác con khỉ khô Hồ Chí Minh, là nơi làm hao tốn nhiều tiền hàng năm của nhân dân, số tiền lo bảo trì xác ướp, canh gác, dịch vụ, mỗi năm, đủ nuôi hơn 6 làng; các sân đánh golf chỉ phục vụ cho thiểu số, các trung tâm giải trí của cán bộ làm chủ…. sao không phá hết để” vì lợi ích công cộng?”. Những cuộc xâm chiếm, cướp đoạt đất đai của nhà nước Cộng Sản đối với Thiên Chúa Giáo, là báo động đỏ cho giáo dân trong và ngoài nước, tòa thánh La Mã, các nước cấp viện… đây là lúc” cao trào đánh phá Thiên Chúa Giáo” đấy.

-Song song với các mũi nhọn đàn áp, sách lược chiến tài sản, đảng cho các linh mọp quốc doanh tìm cách phá thối các cuộc đòi đất, lợi dụng chức vụ để làm giảm bớt số người cầu nguyện. Những linh mọp nầy đồng lỏa với đảng Cộng Sản vô thần Satan đỏ, hùa theo để trù dập các tu sĩ khác, giáo dân.

    Trước sự kiện nầy, trong tương lai, sẽ có thêm nhiều khu đất của Công Giáo, cơ sở, nhà thờ…có giá trị lịch sử, bị san bằng, biến thành các công viên trồng cỏ, làm cho tôn giáo mất dần những giá trị thiêng liêng, nơi sinh hoạt. Đó là những thủ đoạn gian manh của bọn quỷ đỏ Satan vô thần Việt Cộng, sau thời gian: trì hoãn kế” vừa đàn áp vừa đàm phán” và” vừa đàm phán vừa tung ra thủ đoạn”, nay đến lúc bọn satang đỏ ra tay, nên sự kiện mới đây ở Vĩnh Long là điềm báo nguy cho Công Giáo Việt Nam. Cái gọi là” vì lợi ích nhân dân” là thứ chiêu bài, từng được đảng Cộng Sản và Hồ Chí Minh ứng dụng nhiều lần trong việc cướp của giết người từ Bắc chí Nam sau 1954 miền Bắc và 1975 miền Nam qua các chiến dịch cải cách ruộng đất, đánh tư sản, tịch thu nhà cửa, đất đai của dân, tài sản các tôn giáo. Phát súng lịnh biến nơi cầu nguyện ở Thái Hà thành công viên, Tòa Khâm sứ bị rào thêm, vài giáo phận bị lấy đất, gây áp lực tháo gở thánh giá….là điều mà giáo dân, giáo hội Công Giáo tại Việt Nam, hải ngoại cần phải quyết tâm hơn nữa, nếu không, thời gian không xa, tất cả các nhà thờ đều thành công viên, cũng với lý do lếu láo” vì lợi ích nhân dân”, thì các linh mục, giáo dân còn lấy nơi nào để làm lễ, thực thiện các thánh lễ….

  •    3. Tại hải ngoại, trong thời gian qua, những cánh tay lông lá nối dài của ác quỷ đỏ Satan Cộng Sản len lõi trong làn sóng ra đi tìm tự do, đoàn tụ, du dân….chúng cũng áp dụng sách lược cố hữu của đảng Cộng Sản trong nước, nhắm vào Thiên Chúa Giáo:

-kích động hận thù vào những người theo đạo khác, có đầu óc hep hòi, ít hiểu biết, để ghét Công Giáo qua qui chụp:” tại Thiên Chúa rước Pháp vào xâm lăng nước ta”, đổ tất cả chuyện mất nước vào đầu người Công Giáo, nhằm bao vây, cô lập.

-Dùng truyền thông, tuyên truyền xám, có thể và có khả năng xuất phát từ các cơ sở, tự viện, do những tu sĩ về nguồn, tăng ni bảo lãnh từ Việt Nam để xúi dục, gây chia rẻ.

    Những phương tiện truyền thông hữu hiệu là các cơ quan ngôn luận, sau thời gian hoạt động, đã ló” đuôi chồn” như trước đây ở Úc Châu có Hoàng Nguyên Nhuận, tức là Hoàng Văn Giàu, nghe đâu ở Blue Mountain với nữ sĩ Lệ Hằng ở Sydney?. Là người có vài nguồn tin đồn về một số chuyện trong trận tết Mậu Thân 1968 tại Huế? Theo quyển sách” Ba Mươi Năm Văn Học Nghệ Thuật của người Việt ở Úc” do tác giả Ngô Lâm, trang 211 ghi: Hoàng Văn Giàu, bút danh thường dùng” Hoàng Nguyên Nhuận, Huỳnh Bất Hoặc, Anthony Darlic, Tùy Anh, Giới Tử. Học lực: cao học triết học và cao học khoa xã hội. Nghề cũ: nhà giáo, nhà binh..( phần NHÀ BINH, không ghi rõ là lính VNCH hay là bộ đội chính qui, du kích..?). Hoàng Văn Giàu chủ biên tờ Chuyển Luân, đánh phá quân lực VNCH, kích động Phật Giáo thù ghét Công Giáo, nên sau thời gian tung hỏa mù, kích động gây phân hóa trong sách lược” dùng Phật Giáo để đánh Công Giáo” bị đồng bào ở Úc phản ứng mạnh, nên tờ Chuyển Luân dẹp từ mấy năm nay. Được biết Hoàng Văn Giàu từng là cộng tác viên Giao Điểm, đúng là” ngưu tầm ngưu, mả tầm mả”, cùng là cá mè một lứa.

   Giao Điểm cũng là” trung tâm đánh phá Thiên Chúa Giáo” hải ngoại đáng lưu ý nhất, được coi là là cánh tay lông lá nối dài của ác quỷ satang đỏ. Trong Giao Điểm, có một số tay viết đánh phá Thiên Chúa Giáo từ đức Giáo Hoàng đến giáo dân qua các tác giả như:

-Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân tại VN: tác giả là CAO HUY THUẦN, luận án tiến sĩ quốc gia, khoa học chính trị đại học Paris

-Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp tại VN: của tiến sĩ NGUYỄN XUÂN THỌ.

-Jesus là ai, giảng dạy những gì: của giáo sư tiến sĩ TRẦN CHUNG NGỌC.

-Đối thoại với Giáo Hoàng John Paul đệ nhị-Kito giáo từ thực chất đến huyền thoại-Tại sao không theo đạo Thiên Chúa- Công giáo huyền thoại và tội ác- Công giáo trên bờ vực thẩm..( nhiều tác giả, chắc là có đa số là tiến sĩ)

    Một điều đáng lưu ý là: những bài đánh phá Thiên chúa Giáo một cách có hệ thống, theo đúng chính sách” tận diệt Thiên Chúa” của tập đoàn quỷ đỏ Satan Việt Cộng, được phổ biến trên Giao Điểm, thường tác giả có cái danh hiệu” TIẾN SĨ”, nhất là Trần Chung Ngọc, có thêm cái danh hiệu” GIÁO SƯ”, để hù, lòe thiên hạ. Hổng lẽ những bài viết nào không có cái danh hiệu” tiến sĩ, giáo sư” là hổng có ai đọc và cũng hổng có giá trị sao?. Mấy tay Giao Điểm nầy muốn dùng bằng cấp để làm bình phong, rồi muốn nói hưu nói vượn, nói quấy, nói quá như Việt Cộng mang A K nói năng vung vít:

” A.K, mã tấu kè kè.
Nói quấy, nói quá, chúng nghe rầm rầm”

   Đám tiến sĩ nầy lầm to, ở hải ngoại nầy, bằng cấp tiến sĩ nhan nhản khắp nơi, ngay cả trong cộng đồng tỵ nạn, chất xám hơn 300 ngàn; tuy nhiên tư cách, lập trường mới có giá trị hơn là bằng cấp cao. Do đó những tấm bằng” tiến sĩ” mà viết theo lối đó, đăng trong Giao Điểm, qua những bài viết nêu trên là ” PHÁ TIẾN SĨ”, chứ nào là” tiến sĩ” nên những” khoa bảng” nầy nên về Việt Nam để” đăng ký” vào danh sách” 16 ngàn TIẾN SĨ CẦU MUỐI” là rất thích hợp, hy vọng sẽ được ghi khắc vào” bia đá” nếu” đánh cho Thiên Chúa gục, đánh Tin Lành nhào” được đảng và nhà nước ghi công. Nhưng cái bằng tiến sĩ nầy cũng nên được các nhà bảo vệ môi sinh cổ động để” lưu trữ” trong các” đại thư viện RECYCLE” hay là” Viện Hàn Lâm Ao Cá Bác Hồ” là rất tốt cho khí thải nhà kính và bớt tình trạng trái đất bị hâm nóng và vừa giúp cho Việt Nam phát triển kinh tế sống nhờ vào cấp viện, tiền Kiều hối, từ thiện, ăn chận, rút ruột…theo công thức” lấy kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”..

     Tóm lại, Thiên Chúa Giáo bị nhiều gian nan như cuộc đời của đấng cứu thế, Jesus, chịu cực hình trên thập tự giá, nhưng đức tin vẫn không hể thay đổi, vì bọn ác quỷ đỏ satan vô thần Cộng Sản không tồn tại mãi mãi, do đó, chúng luôn rung sợ trước sức mạnh vô song của Thiên Chúa Giáo và các tôn giáo khác tại Việt Nam như Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành, đạo thờ cúng ông bà. Quỷ ma tất nhiên phải bị chánh đạo quyét sạch, là điều tất nhiên, dù sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.
 

  • THƠ LÁI ÂM.

LINH MỌP QUỐC DOANH TRƯƠNG BÁ CẦN.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, những” Juda thời đại” bán giáo dân, phản giáo hội đã xuất đầu lộ diện, ăn mừng quỷ đỏ Satang Việt Cộng như linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần ( tức là Trần Bá Cương)…. Những Juda thời đại vẫn mạo danh Thiên Chúa, Giáo hội để phục vụ cho đảng vô thần, tiếp tục đánh phá, đưa người sang thu tiền với danh nghĩa từ thiện, sửa, xây nhà thờ…trong khi Công Giáo vẫn vị đàn áp dã man, một số linh mục bị tù đài như Nguyễn Văn Lý.

TRẦN BÁ CƯƠNG, tức TRƯƠNG BÁ CẦN.
ĐÃ DẠO tu dòng, ĐẠO GIẢ nhân.
DÙ TÔNG đồ Chúa, DÒNG TU phá.
VẦN THÔ tế lễ, nịnh VÔ THẦN.
BÀI GIẢNG Mác Lê thường BÀN GIẢI.
LẤY ĐẠO chúa Trời, LÁO ĐẬY gian.
MẶT GIẢ Ju-da, lòi MÃ GIẶC.
TÂN ƯỚC lập lời, Chúa TƯỚC ÂN.


TRƯƠNG MINH HÒA.

Muon giu nuoc – truoc het phai diet thai thu CSVN

MUỐN GIỮ NƯỚC, TRƯỚC HẾT PHẢI DIỆT THÁI THÚ C.S.V.N

TRƯƠNG MINH HÒA

http://vn.myblog.yahoo.com/dau-tranh/article?mid=28&prev=29&next=27